Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I. LÝ do chọn đề tài:
Trong bối cảnh nền kinh tế, khoa học, công nghệ, thông tin ngày càng
phát triển mạnh mẽ, xã hội cần những người có tri thức, chủ động, sáng tạo,
năng động, nhạy bén. Con người có được những phẩm chất đó trước tiên từ
quá trình học tập, vì vậy, trong dạy học cần sử dụng những phương pháp
dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh.
Ngoài ra, làm việc hợp tác cũng là một kĩ năng cần phải có trong xã hội
hiện đại. Mà theo nhận định chung thì kĩ năng này của người Việt Nam còn
thấp, ví dụ như khi so sánh với Nhật Bản (một trong những nước phát triển)
“một người Việt Nam làm việc hơn một người Nhật nhưng ba người Việt
Nam lại làm việc không bằng ba người Nhật”.
Phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp dạy học trong đó thông
qua làm việc nhóm học sinh sẽ lĩnh hội được tri thức, giáo viên chỉ là người
tổ chức, hướng dẫn và điều khiển - đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học đồng thời hình thành, rèn luyện kĩ năng làm việc hợp tác cho
học sinh. Phương pháp này đã được các nhà giáo dục trên thế giới nghiên
cứu từ khỏ lõu và áp dụng nhiều ở các nước phương tây cho kết quả tốt. Ở
Việt Nam, trong vài năm gần đây, phương pháp dạy học hợp tác cũng được
quan tâm song mới chỉ là bước đầu tìm hiểu; số công trình nghiên cứu về
phương pháp này còn Ýt và việc áp dụng trong giảng dạy cũng rất hạn chế,
chưa phát huy được hết tác dụng của nó.
Hơn nữa, hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, có sự kết hợp giữa
lí thuyết và thực nghiệm, đòi hỏi học sinh phải có khả năng tự khám phá,
tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức.
Chớnh vì những lÝ do nêu trên và với mong muốn góp phần nâng cao
chất lượng dạy học mụn hoỏ học chúng tôi chọn đề tài “Áp dụng phương
pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hoá học phổ thông
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
V. Giới hạn của đề tài:
Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ ở trên
líp với nhóm oxi - líp 10 - ban nâng cao.
VI. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phương pháp tổng hợp, phân tích lí
thuyết về cơ sở lí luận của phương pháp sư phạm tương tác, phương pháp
dạy học tích cực và đặc biệt là phương pháp dạy học hợp tác
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: dự giê tiết học của giáo viên hoá học có
kinh nghiệm trong đó có sử dụng PPDH hợp tác phối hợp các phương pháp
dạy học tích cực khác.
+ Phương pháp phỏng vấn, phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: tham
khảo ý kiến đóng góp của một số giáo viên có kinh nghiệm
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: trực tiếp dạy học một số tiết
trong nhóm oxi có sử dụng phương pháp dạy học hợp tác, phối hợp với các
phương pháp dạy học tích cực khác
VII. Dự kiến phần đóng góp mới của đề tài:
- Tổng quan đầy đủ về phương pháp dạy học hợp tác
- Đưa ra nguyên tắc lùa chọn, thiết kế kế hoạch và cách tổ chức dạy học
theo phương pháp dạy học hợp tác đạt hiệu quả cao.
- Thiết kế các hoạt động dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác có
kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác cho một số nội dung
nhóm oxi - líp 10 - ban nâng cao.
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
Người học bằng phương pháp học, kết quả học tập, cách cư xử, thái độ
của mình truyền các thông tin cho người dạy và người dạy phản hồi lại
bằng cách cung cấp thêm thông tin, trả lời các câu hỏi, đánh giá kết quả học
tập của người học, từ đó điều chỉnh, tìm ra hướng đi mới cho hoạt động dạy
của mình. Như vậy, người học đã hành động và người dạy đã phản ứng.
Tương tù, người dạy bằng phương pháp sư phạm của mình, gợi ý, hướng
dẫn người học, hướng họ tới cỏi đớch cần tới, về phần mình người học tiếp
thu những gợi ý đó và tự mình thu lượm kiến thức. Nếu người học thấy
thoả món thỡ họ sẽ dễ có cảm tình với người dạy và ngược lại. Lúc này,
người dạy lại hành động và người học lại phản ứng.
Môi trường có thể ảnh hưởng đến phương pháp học của người học và
phương pháp sư phạm của người dạy, vì thế mà nó ảnh hưởng đến quá trình
dạy học. Người học và người dạy không phải là sự trừu tượng chung
chung, họ là những con người cụ thể tồn tại trong thế giới vật chất, bên
trong họ là tình cảm, là suy nghĩ, là thái độ , xung quanh họ là gia đình,
bạn bè, nhà trường và xã hội , do đó tất cả sự biến đổi của các yếu tố bên
trong hay bên ngoài (hay chính là các yếu tố của môi trường) đều tác động
lên họ, và đều làm thay đổi kết quả dạy và học…
Sự tương tác qua lại giữa ba tác nhân này rất đa dạng, phong phú và rất
năng động theo nhiều chiều hướng khác nhau. Chính điều đó đã làm nên cơ
sở của phương pháp sư phạm tương tác.
I.1.3. Bản chất của phương pháp sư phạm tương tác:
Hiện nay đang tồn tại một sè trào lưu sư phạm sau:
+ Phương pháp sư phạm tự do: xuất phát từ người học và lợi Ých của người
học
+ Phương pháp sư phạm đóng, được gọi là hình thức: dùa vào chương trình
tự cầm lái
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
- Môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học của người học và phương
pháp dạy của người dạy, vì thế có ảnh hưởng đến hai tác nhân trên.
Mặt tích cực của phương pháp sư phạm tương tác là đã chú ý đáng kể đến
môi trường, đây là nơi diễn ra hoạt động dạy và học, đồng thời xác lập các
tương tác của ba yếu tố trong quá trình dạy học. Do vậy, trong quá trình tổ
chức dạy học theo phương pháp sư phạm tương tác đòi hỏi phải chú ý tới
một yếu tố mới, cần được quan tâm đúng mức, đó là môi trường.
Tóm lại, phương pháp dạy học tương tác cho thấy mối quan hệ tương hỗ
của ba tác nhân: người học – người dạy – môi trường, đây là một phương
pháp sư phạm sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình đào tạo, nó đồng thời
khẳng định vai trò quan trọng của cả ba tác nhân, từ đó nhận thấy rằng:
“Mỗi học sinh là một cá nhân, có nhu cầu học tập khác nhau nhưng sự học
tập của con người là một quá trình xã hội, trong đó người khác cũng tham
gia vào hoạt động hợp tác với người học”. Người khác và người học ở đây
chính là muốn đề cập đến mối quan hệ thầy - trò, và trò - trò. Quan hệ trò -
trũ chính là biểu hiện của sự tác động qua lại giữa người học và môi
trường. Quan hệ Êy được thể hiện tích cực nhất ở sự thảo luận giữa các
nhóm học tập, giữa các thành viên trong nhóm và ngược lại nhóm học tập
lại là môi trường thuận lợi để gắn kết người học với nhau trong quá trình
thực hiện nhiệm vô chung. Đó không chỉ đơn thuần là sự gắn kết về mặt
học tập mà còn là sự gắn kết về mặt đạo đức, tõm lớ. Không chỉ có thế,
nhóm học tập còn được coi nh mét môi trường xã hội thu nhá.
Nhà giáo dục Dewey đã đề ra mét học thuyết giáo dục riêng, theo ông,
ảnh hưởng của môi trường đến sự đào tạo con người có sắc thái rõ ràng, từ
đó phải tạo cho học sinh một môi trường càng gần gũi với đời sống càng
phải cố gắng nỗ lực hết mình, nghĩa là phải tích cực trong học tập.
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
Tính tích cực học tập biểu hiện ở việc hăng hái phát biểu, bổ sung ý kiến,
hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ, chủ động vận dụng kiến thức kĩ
năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ…
Tính tích cực học tập dần dần được hình thành từ mức độ thấp đến cao:
từ bắt chước đến tìm tòi và cao nhất là sáng tạo. Mục đích cuối cùng của
quá trình dạy học là để người học vươn tới mức độ cao nhất của tính tích
cực học tập, đó là sự sáng tạo.
Tính tích cực học tập là một khía cạnh của tích cực xã hội, đến một
trình độ nào đó thì sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và
người học cũng phát hiện ra những tri thức mới cho khoa học. Hình thành
và phát triển tính tích cực học tập nói riêng và tính tích cực xã hội nói
chung là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo
những con người năng động, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã
hội. Để đạt được mục đích đó, đòi hỏi người dạy phải có phương pháp dạy
học phù hợp theo hướng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học, đú chớnh là phương pháp dạy học tích cực.
I.2.2. Phương pháp dạy học tích cực và những dấu hiệu đặc trưng: [4]
a. Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp hướng tới việc tích cực
hoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào các hoạt
động của người học chứ không phải của người dạy.
b. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt học tập của học sinh:
Dưới sự tổ chức, chỉ đạo của giáo viên, người học sẽ tham gia tích cực
vào các hoạt động học tập, qua đó tự lực khám phá những điều chưa biết
chứ không thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt.
kinh nghiệm của cả líp chứ không phải riêng giáo viên.
Phương pháp dạy học hợp tác chính là một phương pháp dạy học tích
cực tiêu biểu cho đặc trưng thứ ba này. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
học tập, đặc biệt là khi cần giải quyết những vấn đề phức tạp, cần phối hợp
các cá nhân để hoàn thành nhiệm vô chung.
Hiện nay, khi nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ, năng lực
hợp tác phải trở thành mục tiêu giáo dục mà các nhà trường cần trang bị
cho học sinh.
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò:
Trong dạy học, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh có tác động
hai phía, vừa nhằm mục đích điều chỉnh hoạt động học của trò, vừa nhằm
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Giáo viên không chỉ dừng lại ở việc
đánh giá kết quả học tập của học sinh mà phải biết tạo điều kiện để học
sinh tự đánh giá bản thân, hoặc đánh giá học sinh khác. Tự đánh giá đúng
và biết điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần thiết cho sự thành
công trong học tập cũng như trong cuộc sống mà học sinh cần được trang
bị ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Nh vậy, từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, người giáo viên trở
thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, định hướng các hoạt động của
từng học sinh, từng nhóm học sinh. Để làm được điều đó, người giáo viờn
phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và phải là người có trình độ chuyên môn sâu
rộng, có kinh nghiệm tổ chức, quản lớ…
I.2.3. Những phương pháp tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông:
[1]
Trong cỏc sỏch lớ luận đều chỉ ra rằng: về mặt hoạt động nhận thức thỡ
cỏc phương pháp thực hành là tích cực nhất, tiếp đến là phương pháp trực
mục đích yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức, không cần suy luận. Đây
không được coi là phương pháp có giá trị sư phạm, chỉ nên sử dụng khi cần
liên hệ kiến thức mới và kiến thức cũ.
- Vấn đáp giải thích minh hoạ được sử dụng với mục đích làm sáng tỏ một
vấn đề nào đó, giáo viên đặt câu hỏi kèm theo ví dụ minh hoạ.
- Vấn đáp tìm tòi là phương pháp mà các câu hỏi được sắp xếp thành hệ
thống hợp lý để hướng dẫn học sinh từng bước dần phát hiện ra bản chất,
quy luật của sự việc, hiện tượng, từ đó tạo nên hứng thó học tập. Giáo viên
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
tổ chức thảo luận, tranh luận giữa thầy – trò hoặc trò – trò nhằm giải quyết
vấn đề, trong đó giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức còn học sinh là
người thực hiện các hoạt động học tập để phát hiện kiến thức mới.
Trong ba phương pháp vấn đáp trên, phương pháp vấn đáp tìm tòi là
phương pháp mang lại hiệu quả nhận thức cao nhất, đáp ứng được các yêu
cầu của xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tuy nhiên,
phương pháp này đòi hỏi rất nhiều ở giáo viên, học sinh, và cơ sở vật chất
nên hiện nay đa số giáo viên phổ thông mới chỉ dừng lại ở hai phương pháp
vấn đáp tái hiện và vấn đáp giải thích minh hoạ, phương pháp vấn đáp tìm
tòi cần được sử dụng nhiều hơn nữa.
b. Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
Phương pháp này đặc biệt chú ý tạo ra tình huống có vấn đề để thu hót
học sinh vào quá trình nhận thức tích cực. Chính những tình huống có vấn
đề này làm nảy sinh ở người học nhu cầu, động cơ, và hứng thó học tập.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần của bài học) theo PP dạy học đặt và
giải quyết vấn đề:
1/ Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
a. Tạo tình huống có vấn đề.
chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy và cao hơn nữa là được chuẩn bị
một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết
hợp lí các vấn đề nảy sinh.
c. Phương pháp dạy học hợp tác trong nhúm nhỏ:
Nh ở phần trên đã đề cập đến, phương pháp dạy học hợp tác là một
phương pháp tiêu biểu cho đặc trưng thứ ba của phương pháp dạy học tích
cực, trong đó kiểu nhóm được sử dụng phổ biến trong dạy học trờn lớp là
nhóm từ 4-6 người. Đây là một phương pháp mới đối với đa số giáo viên,
hiện nay việc sử dông còn chưa nhiều, thường được sử dông trong cỏc lớp
tập huấn mà học viên đến từ nhiều nguồn, có thể bổ sung kiến thức cho
nhau, hay trong các dự án. Trong các trường phổ thông, nó được sử dụng
như một phương pháp trung gian giữa làm việc độc lập từng cá nhân với
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
làm việc chung cả líp. Ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn
luyện kĩ năng hợp tác cho các thành viên trong học tập và lao động sau này.
Hiện nay, năng lực hợp tác đã, đang và sẽ trở thành mục tiêu giáo dục mà
các nhà trường cần trang bị cho học sinh. Phương pháp dạy học hợp tác
không chỉ nâng cao chất lượng dạy và học mà cũn giỳp hình thành và phát
triển các kỹ năng cần thiết cho quá trình lao động, làm việc sau này. Vì vậy
cũng giống như phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, phương
pháp dạy học hợp tác không chỉ có ý nghĩa đổi mới phương pháp mà còn
đạt mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người thích ứng với sự phát
triển của xã hội.
I.3. Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ:
I.3.1.Một số khái niệm: [ 4, 1, 3 ]
a. Nhóm là tập hợp những cá thể từ hai người trở lên theo những nguyên
tắc nhất định, có tác động lẫn nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ trong
ngẫu nhiên hoặc có chủ định, cố định hay thay đổi trong từng phần của tiết
học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Qỳa trỡnh học tập nhóm có thể tóm tắt như sau: sau khi giáo viên phân
nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm, học sinh được tự do quan sát, thảo
luận và ghi chép lại. Trong khi các nhóm làm việc, giáo viên tuỳ theo sự
phát triển của học sinh có thể hướng dẫn hay chỉ ra một số lỗi lầm để các
em tự sửa chữa. Sau khi thảo luận, cỏc nhúm sẽ trình bày kết quả thảo luận,
giáo viên ghi nhận, sửa chữa và tổng kết, học sinh ghi kết quả cuối cùng -
đó là kiến thức cần lĩnh hội. Nh vậy, trong phương pháp dạy học hợp tác,
hoạt động chính là hoạt động của học sinh, học sinh chủ động chiếm lĩnh
kiến thức, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, theo dõi và định hướng. Chính
vì thế, dạy học hợp tác được xem là một trong những phương pháp có vai
trò chủ yếu nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của
người học.
I.3.2. Cơ sở để tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ: [4,1,11]
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khúa lun tt nghip
Vũ Th Hiờn
a. C s v mt từm l:
Mụ hỡnh từm l trong quỏ trỡnh hc tp:
ng c ỳng s to ra hng thú. Hng thú l tin ca t giỏc. Hng
thú v t giỏc l hai yu t từm l to nờn tớnh tớch cc, tớnh tớch cc sn sinh
np t duy c lp, suy ngh c lp l mm mống ca s sỏng to. Ngc li,
phong cỏch hc tp tớch cc sỏng to s phỏt trin t giỏc, hng thú, bi
dng ng c hc tp. Nh vy, t c s t giỏc, tớnh tớch cc, c
lp, sỏng to trong hc tp thỡ phi m bo ba yu t quan trng khi u
trong quỏ trỡnh hc l: nhu cu, ng c v hng thú. Dy hc hp tỏc nhúm
l phng phỏp dy hc phự hp vi c ba yu t ú ca ngi hc:
trí tuệ, giáo dục là một trong những điều kiện quan trọng nhất để hình thành
động cơ.
Trong quá trình hoạt động hợp tác, động cơ của người học được hình
thành và phát triển một cách tự giác. Có thể núi nhúm là một phần của môi
trường xã hội thu nhỏ với những tương tác học sinh với học sinh, học sinh
với tri thức và học sinh với giáo viên, trong đó tương tác học sinh với học
sinh được chú trọng hơn so với các phương pháp khỏc, chớnh điều này
giúp cho việc thảo luận đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, nhóm là môi trường
học tập, môi trường giao lưu tốt vừa tạo điều kiện đáp ứng những nhu cầu
của người học, vừa thúc đẩy quá trình hình thành động cơ học diễn ra tích
cực, tự giác.
- Hứng thó nhận thức thông qua hoạt động nhóm:
Hứng thó nhận thức chính là hứng thó học tập, hứng thó đối với việc tìm
hiểu khoa học, nó có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân người học.
Hứng thó nhận thức được xuất phát từ động cơ, và nhu cầu của quá trình
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
nhận thức, được duy trì trong suốt quá trình nhận thức không chỉ bởi nội
dung mà còn bởi phương pháp nhận thức. Điều đó đòi hỏi người giáo viên
phải luôn biết linh hoạt lùa chọn phương pháp dạy học phù hợp để tạo được
và duy trì hứng thó cho học sinh.
Phương pháp dạy học hợp tác góp phần tăng cường hoạt động của học
sinh, tạo bầu không khí thoải mái để người học tích cực, tự giác chiếm lĩnh
nội dung khoa học. Bằng hoạt động nhúm, cỏc học sinh- những người bạn,
những người bằng vai phải lứa với nhau- có thể tự do thảo luận, phát biểu ý
kiến, phân tích vấn đề, từ đó việc nắm được bản chất kiến thức, việc tiếp
cận tri thức sẽ không còn khó khăn như khi phải một mình học tập nữa.
Chính điều đó làm cho hứng thó nhận thức luôn được nảy sinh ở người học.
năng lực làm việc hợp tác.
Nhược điểm: đôi khi gây mất trật tự và có thể vẫn có một số thành
viên ỷ lại.
- Học tập theo nhóm lớn: “nhúm trong nhúm”, hỡnh thứcchủ yếu là vòng
tròn ngoài bao quanh vòng tròn bên trong. Những người ngồi vòng tròn bên
trong thảo luận một vấn đề nào đó, những người ở vòng tròn ngoài quan
sát, dữ liệu được thu thập, ghi chép sau đó đổi vị trí cho nhau. Loại hình
nhóm này Ýt được vận dụng hơn.
b. Phân loại nhúm dựa vào nhiệm vụ được giao: gồm có nhóm đồng viờc
(tất cả cỏc nhúm đều thực hiện chung một nhiệm vụ) và nhúm khỏc việc
(mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ khác nhau phục vụ cho bài học)
I.3.4. Cách chia nhóm: [1]
Tuỳ thuộc vào nội dung học tập, mức độ khó, dễ của các nhiệm vụ học
tập và trình độ của học sinh mà cú cỏc cỏch chia nhóm khác nhau, thường
cú cỏc cỏch chia nhóm sau:
a. Chia ngẫu nhiên: thường được tiến hành khi không cần sự phân biệt
giữa các đối tượng học sinh, nhiệm vụ không khác nhau nhiều về nội dung,
Ýt có sự chênh lệch về mức độ khó, cùng chung yêu cầu.
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
Giáo viên có thể chia theo tổ, theo bàn…. Cách chia này có ưu điểm là
học sinh không phải di chuyển, hạn chế mất trật tự.
b. Chia theo trình độ:
- Chia thành nhúm cú cựng trình độ: được áp dụng khi cần có sự phõn
hoỏ về mức độ khó, dễ của nội dung bài học cho từng đối tượng, thường
chia thành bốn nhóm: giỏi, khá, trung bình và yếu.
Giáo viên có thể có những yêu cầu khác nhau đối với từng nhóm trong
cách giải quyết cùng một nhiệm vụ học tập, và có thể gợi ý cho nhóm yếu,
rằng các thành viên phối hợp hoạt động tốt.
I.3.5. Cơ cấu tổ chức và hoạt động nhóm: [1,13]
a. Cơ cấu tổ chức: Một nhóm thường gồm có:
- Nhóm trưởng: thường là người có kiến thức vững vàng, có năng lực
lãnh đạo, làm nhiệm vụ phân công công việc, điều khiển hoạt động của
nhóm, chỉ đạo việc thảo luận, rót ra kết luận cuối cùng và có thể sẽ báo cáo
kết quả hoạt động của nhóm.
- Thư kí: tổng hợp và ghi chép kết quả báo cáo của các thành viên, ghi lại
các hoạt động và kết quả hoạt động của nhóm, có thể nép cho giáo viên nếu
giáo viên yêu cầu.
- Các thành viên: Tuỳ vào mục đích, nội dung và yêu cầu của nhiệm vụ
học tập được giao, cỏc nhúm có thể có cỏc cỏch phân công khác nhau: các
thành viên có thể thực hiện cùng một nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau.
- Trong phương pháp nhóm chuyên gia cũn cú thờm cỏc chuyên gia: các
chuyên gia được chuyên môn hoá từng nhiệm vụ riêng tuỳ thuộc vào sở
trường, năng lực riêng, có thể đóng vai trò tham mưu, cố vấn trong nhóm.
b. Cách tổ chức hoạt động nhóm:
Có nhiều cách tổ chức hoạt động nhóm, trong đó thường sử dụng các kiểu
nhóm như: nhóm rì rầm, nhóm gánh xiếc, nhóm bể cá, nhóm chuyên gia, …
- Nhóm rì rầm: trao đổi nhỏ trong cặp 2 - 3 người ngồi cạnh nhau trước khi
chia sẻ ý kiến trong líp.
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
- Nhóm bể cá: một nhóm đang hoạt động được quan sát im lặng bởi một
nhóm học sinh khác để học cách lập luận. Sau đó đổi vai trao đổi kinh
nghiệm về cách thảo luận, về cách hoạt động nhóm.
- Nhóm kim tự tháp: là hình thức mở rộng nhóm “ rì rầm”, vấn đề được
đưa ra trong nhóm nhỏ để tạo ra ý tưởng ban đầu sau đó được trao đổi sâu
Khóa luận tốt nghiệp
Vò Thị Hiên
Trong đó:
1- Tạo động cơ, hứng thó.
2- Phân tích vấn đề.
3- Phân công công việc.
4- Cỏc nhúm trình bày kết quả, đánh giá giữa HS – HS, GV- HS và đi đến
kết luận.
5- Giáo viên đánh giá chung kết quả của học sinh.
Trong tài liệu lí luận cơ bản về dạy và học tích cực của giáo sư Trần Bá
Hoành và một số tác giả khác đã đưa ra và cụ thể hoá cấu tạo một tiết học
(hoặc mét buổi làm việc) theo nhóm như sau:
1/ Làm việc chung cả líp:
a. Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
b. Tổ chức cỏc nhúm, giao nhiệm vụ.
c. Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.
2/ Làm việc theo nhóm:
a. Phân công trong nhóm.
b. Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm.
Khoa Hóa học Trường ĐHSP Hà
Nội