VẬN DỤNG một số cấu TRÚC học hợp tác THEO NHÓM NHỎ TRONG dạy học PHẦN hóa KIM LOẠI lớp 12 BAN NÂNG CAO - Pdf 22



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÒ THỊ THAO
VẬN DỤNG MỘT SỐ CẤU TRÚC HỌC HỢP TÁC
THEO NHÓM NHỎ TRONG DẠY HỌC PHẦN
HÓA KIM LOẠI LỚP 12 - BAN NÂNG CAO
Chuyên ngành: TN2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, tháng 05 năm 2014

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp “Vận dụng một số cấu trúc học hợp
tác theo nhóm nhỏ trong dạy học phần hóa kim loại lớp 12 THPT - Ban nâng
cao” bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự động viên, ủng hộ
giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo, của gia đình, bạn bè, người thân.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến ThS
Nguyễn Ngọc Duy người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Sinh - Hóa, bộ môn
hóa, phòng đào tạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành đề tài, xin được
gửi lời cảm ơn tới thầy và trò trường THPT Tuần Giáo và trường THPT Phan
Đình Giót đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài.

Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Lò Thị Thao
1.5.6. Một số cấu trúc HHT theo nhóm nhỏ 23
1.6. Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động học hợp tác trong dạy học hóa học ở
một số trƣờng THPT 29

CHƢƠNG 2: VẬN DỤNG MỘT SỐ CẤU TRÚC HOẠT ĐỘNG HỌC HỢP
TÁC THEO NHÓM NHỎ TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA KIM LOẠI LỚP
12 THPT - BAN NÂNG CAO
2.1. Nguyên tắc áp dụng học hợp tác theo nhóm 31
2.2. Quy trình thiết kế và tổ chức DHHT theo nhóm 32
2.3. Phân tích nội dung chƣơng trình phần hóa kim loại lớp 12 THPT - Ban nâng
cao 36
2.3.1. Phân phối chương trình môn hóa học phần hóa kim loại lớp 12 36
2.3.2. Mục tiêu và nội dung kiến thức chương 5: Đại cương về kim loại 36
2.3.3. Mục tiêu và nội dung kiến thức chương 6: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm
thổ - Nhôm 38
2.3.4. Mục tiêu và nội dung kiến thức trong chương 7: Crom - Sắt - Đồng 39
2.4. Áp dụng dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hóa học phần kim
loại lớp 12 - Ban nâng cao 40
2.4.1. Tổ chức hoạt động hợp tác theo cấu trúc STAD của Slavin cho một số nội
dung của phần hóa kim loại lớp 12 THPT - Ban nâng cao 40
2.4.2. Vận dụng cấu trúc Jigsaw trong tổ chức hoạt động học hợp tác theo nhóm
cho một số nội dung của phần hóa kim loại lớp 12 THPT - Ban nâng
cao 54
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm 69
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 69
3.3. Nội dung và phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm 69
3.4. Kết quả thực nghiệm 70
3.5. Nhận xét 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

Phƣơng pháp dạy học hợp tác
8
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
9
PTPƢ
Phƣơng trình phản ứng
10
SGK
Sách giáo khoa
11
VD
Ví dụ
12
THPT
Trung học phổ thông
13
TN
Thực nghiệm
14
ĐC
Đối chứng
tuệ cùng các kĩ năng tƣ duy, phƣơng pháp nhận thức, giáo dục đạo đức và sự
chuyển biến thái độ hành vi.
Nhƣ vậy các PPDH phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS có sự tổ
chức và sự hƣớng dẫn đúng mức của GV trong việc phát hiện và giải quyết vấn
đề của HS theo cá nhân hoặc học hợp tác (HHT) theo nhóm sẽ góp thành hình
thành phƣơng pháp và nhu cầu tự học, học lẫn nhau từ đó tạo đƣợc niềm vui và
hứng thú trong học tập của HS.
HHT theo nhóm là một PPDH tích cực đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng rất
hiệu quả ở những nƣớc phát triển Phƣơng pháp này ở Việt Nam đã đƣợc chú

2
trọng nghiên cứu áp dụng trong đổi mới PPDH hiện nay. Tuy nhiên việc nghiên
cứu mới đƣợc thực hiện ở việc áp dụng các cấu trúc chung của hoạt động HHT.
Với đặc tính của môn hóa học là một môn khoa học kết hợp giữa lý thuyết
và thực nghiệm đòi hỏi HS tự tìm tòi khám phá kiến thức hoặc làm việc cùng
nhau trong nhóm nhỏ dƣới sự điều khiển và hƣớng dẫn của GV thì việc áp dụng
PPDH theo nhóm nhỏ bằng hoạt động hợp tác sẽ đem lại hiệu quả cao hơn trong
các tiết học, khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm cơ bản của phƣơng pháp học
tập theo nhóm và mang lại hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Vận
dụng một số cấu trúc học hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học phần hóa
kim loại lớp 12 THPT - Ban nâng cao”.
2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu vận dụng một số cấu trúc HHT vào việc tổ chức hoạt động
DHHT theo nhóm cho HS trong dạy học phần hóa kim loại lớp 12 THPT - Ban
nâng cao, nhằm góp phần đổi mới PPDH hóa học theo hƣớng dạy học tích cực.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài bao gồm:
+ Phƣơng hƣớng đổi mới PPDH hóa học, các PPDH tích cực.
+ PPDHHT theo nhóm nhỏ.

+ Thực nghiệm sƣ phạm: Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm bƣớc đầu kiểm
nghiệm tính hiệu quả, khả thi cho những đề xuất.
- Phƣơng pháp xử lí thông tin: Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học
trong xử lí kết quả thực nghiệm sƣ phạm.
7. Những đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với sinh
viên và GV hóa học ở trƣờng THPT. 4
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu
Dạy học hợp tác (DHHT) theo nhóm nhỏ là một PPDH tích cực đƣợc vận
dụng thƣờng xuyên ở mọi cấp học, môn học tại các nƣớc phát triển. Các nhà lí
luận dạy học ở các nƣớc này đã công nhận DHHT theo nhóm đem lại hiệu quả
to lớn trong dạy học, giúp HS học hỏi lẫn nhau, phát huy ý tƣởng của mọi HS
trong lớp về phát triển kĩ năng hợp tác làm việc. Đây là kĩ năng cơ bản và cần
thiết cho mọi ngƣời lao động, trong thế giới hòa nhập và phát triển.
Ở Việt Nam, DHHT đã đƣợc đƣa vào các tài liệu tập huấn, bồi dƣỡng cho
GV các cấp học ở mức độ vận dụng cấu trúc chung của DHHT theo nhóm.
Việc nghiên cứu vận dụng một số cấu trúc HHT vào tổ chức hoạt động
dạy học hóa học đã đƣợc thực hiện bởi một số khóa luận nhƣ:
Vũ Thị Hiên (2008), Áp dụng phƣơng pháp dạy học hợp tác theo nhóm
nhỏ trong dạy học hóa học phổ thông nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của
HS thông qua nhóm oxi lớp 10 - Ban nâng cao - Khóa luận tốt nghiệp -
ĐHSPHN.
Phạm Thị Ngọc Huyền (2009), hình thành và phát triển năng lực hợp tác
làm việc của HS thông qua việc sử dụng phƣơng pháp dạy học hợp tác theo

công nghệ thông tin.
- Cơ cấu xã hội thay đổi theo hƣớng đa dạng và linh hoạt.
Tổ chức và lao động nghề nghiệp đƣợc thay đổi ngƣời lao động luôn phải
thích nghi với tri thức mới, công nghệ mới.
- Con ngƣời là yếu tố trung tâm trong xã hội tri thức, là chủ thể kiến tạo
xã hội.
Nhƣ vậy xã hội tri thức là xã hội toàn cầu hóa, trình độ giáo dục trở thành
yếu tố tranh đua quốc tế, mang lại lợi ích cho đất nƣớc. Xã hội tri thức đã đặt ra
trong giáo dục những yêu cầu cơ bản cần đạt đƣợc, cụ thể là:
- Giáo dục cần giải quyết mâu thuẫn: Tri thức ngày càng tăng nhanh mà
thời gian đào tạo thì có hạn nên luôn có sự đòi hỏi đổi mới về nội dung và đổi
mới PPDH chú trọng bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học.
- Giáo dục cần đào tạo con ngƣời đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của thị
trƣờng lao động và nghề nghiệp cũng nhƣ cuộc sống, có khả năng hòa nhập và
cạnh tranh quốc tế.
Các phẩm chất của ngƣời lao động mà giáo dục đào tạo cần đặc biệt chú ý
là: Năng lực hành động; tính tự lực và trách nhiệm; năng lực cộng tác làm việc;
năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, khả năng học tập suốt đời.
Nhƣ vậy sự phát triển của xã hội có tri thức đã đặt ra yêu cầu cần phải đổi
mới phƣơng pháp giáo dục để phù hợp với xu thế chung của sự phát triển mọi
mặt của đất nƣớc, bắt kịp với xu thế chung của sự phát triển mang tính toàn cầu
hóa của thế giới.

6
Từ các yêu cầu trên mà giáo dục nƣớc ta xác định cần có sự đổi mới toàn
diện về mục tiêu, nội dung, PPDH, phƣơng tiện và hình thức tổ chức dạy học.
1.2.1.2. Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
Nền giáo dục Việt Nam trong quá trình đổi mới của đất nƣớc cũng đã có
bƣớc chuyển mình đáng kể. Song thực trạng giáo dục trong giai đoạn hiện nay

hợp với việc sử dụng các phƣơng tiện truyền thông đa phƣơng tiện, từ đó hình
thành nên các “kiểu” dạy học mới với mong muốn đem lại hiệu quả cao hơn.
- Định hƣớng đổi mới giáo dục đã đƣợc pháp chế hóa trong luật giáo dục
(điều 24.4) đã đề cập ở trên. Phƣơng hƣớng đổi mới PPDH cô đọng ở hai nội
dung sau:
+ Đổi mới giáo dục hƣớng đến việc phát huy tính tích cực chủ động, độc
lập sáng tạo trong nhận thức học tập của HS. Phát huy tính tích cực học tập của
HS là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của quá trình học tập.
+ Trong dạy học HS đƣợc coi là chủ thể hoạt động. GV là ngƣời tổ chức,
hƣớng dẫn, giúp đỡ HS trong quá trình tìm tòi thu nhận kiến thức.
Nguyên tắc này đã đƣợc nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trên trên giới và xác
định là một trong những phƣơng hƣớng đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam.
1.3. Cơ sở phƣơng pháp luận cho việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
1.3.1. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Với ngành giáo dục nƣớc ta thì cho dù đổi mới ở mức độ nào thì việc dạy
- học cũng phải hƣớng đến: “Dạy - học lấy học sinh làm trung tâm” với các tiêu
chí sau đây:
Thứ nhất: Ngƣời dạy phải luôn hƣớng đến ngƣời học, nắm đƣợc đặc
điểm, kiểu tƣ duy của ngƣời học, dạy cho ngƣời học cái họ cần, xã hội cần chứ
không phải chỉ dạy cái mình có.
Thứ hai: Hoạt động hóa ngƣời học - giao việc, bằng nhiều phƣơng pháp
tạo điều kiện buộc ngƣời học làm việc, ngƣời học phải là ngƣời chủ động chiếm
lĩnh tri thức bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau.
Thứ ba: Hợp tác giữa các thành viên - đảm bảo sự thống nhất biện chứng
giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể trong dạy học.
Thứ tƣ: Thực hiện có hiệu quả “học đi đôi với hành”, “lí luận gắn với
thực tiễn” khai thác tối đa vốn kinh nghiệm của ngƣời học.
Thứ năm: Sử dụng hợp lí các phƣơng tiện dạy học truyền thông đa
phƣơng tiện, góp phần huy động tối đa các giác quan của ngƣời học tham gia
vào quá trình dạy học.

bắt, phát hiện giải quyết vấn đề.
- Tình cảm, thái độ, hành vi: Tin tƣởng vào bản thân, có trách nhiệm với
cá nhân, gia đình, xã hội.
* Nhƣ vậy bản chất của dạy học lấy HS làm trung tâm là:
- Đặt ngƣời học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học.
- Chú trọng đến phẩm chất, năng lực, nguyện vọng, hứng thú của mỗi
ngƣời.
- Phát huy tối đa tiềm năng của mỗi cá nhân để định hƣớng cho sự phát
triển.
Tuy nhiên đổi mới theo hƣớng lấy HS làm trung tâm không có nghĩa là
vai trò của ngƣời thầy trở nên mờ nhạt, trong một tài liệu giới thiệu khá đầy đủ

9
về PPDH lấy HS làm trung tâm. Tác giả R.Batliner đã khẳng định ngay ở trang
đầu “GV là yếu tố chủ chốt quyết định việc dạy và học có chất lƣợng”.
1.3.2. Quan điểm dạy học theo hướng hoạt động hóa người học
Đổi mới PPDH theo hƣớng hoạt động hóa ngƣời học dựa trên quan điểm
dạy học định hƣớng hành động. Đây là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt
động trí óc và chân tay kết hợp với nhau chặt chẽ trong hoạt động học tập của
HS. Trong hoạt động học tập, HS luôn có sự phối hợp chặt chẽ và cân đối giữa
tƣ duy và hành động, giữa lí thuyết và thực hành đồng thời vận dụng kiến thức
vào cuộc sống. Đổi mới PPDH theo hƣớng hoạt động hóa ngƣời học chú trọng
đến các vấn đề:
- Dạy học thông qua các hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của
ngƣời học.
- Hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá.
- Sử dụng phƣơng tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin trong dạy
và học.
Theo hƣớng hoạt động hóa ngƣời học các nhà nghiên cứu đề xuất nhằm
đạt đƣợc những yêu cầu chủ yếu sau:

tập
Vai trò của GV trong quan điểm đổi mới PPDH này cũng có những điểm
khác biệt so với các PPDH truyền thống. Cụ thể vai trò và hoạt động của GV
trong giờ học là: Ngƣời thiết kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa.
- Ngƣời thết kế: Lập kế hoạch giờ học, thiết kế hoạt động học tập theo
mục đích, nội dung xác định và chuẩn bị phƣơng tiện, dự kiến các hình thức tổ
chức dạy học
- Ngƣời ủy thác: Biến ý tƣởng, dự định, kế hoạch dạy học của mình thành
các nhiệm vụ học tập của HS, động viên trợ giúp, đánh giá các hoạt động học
tập của HS.
- Thể chế hóa: Biến kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá nhân phụ thuộc
hoàn cảnh và thời gian của từng học sinh.
Nhƣ vậy để xác định phong cách học tập tự giác cho học sinh cần biến
nhu cầu nội tại của bản thân HS và phải tập luyện cho HS thông qua các hoạt
động học tập.
1.4. Phƣơng pháp dạy học tích cực
1.4.1. Khái niệm
Phƣơng pháp dạy học tích cực là những PPDH phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của ngƣời học. PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học nghĩa là tập trung vào việc phát huy
tính tích cực của ngƣời học chứ không phải là tập trung vào ngƣời dạy.
PPDH tích cực thực chất là những phƣơng pháp hƣớng tới việc giúp HS
học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại thói quen học tâp thụ động.

11
Phƣơng pháp tích cực chú trọng đến hoạt động học, vai trò của ngƣời học
trong quá trình dạy học theo các quan điểm, tiếp cận dạy học tích cực.
1.4.2. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực có những đặc trƣng cơ bản sau:
1. Dạy học thông qua các hoạt động của HS


12
tập,ý kiến mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó ngƣời học
nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng đƣợc vốn hiểu biết và kinh
nghiệm của mỗi HS và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và
kinh nghiệm sống của thầy giáo.
4. Dạy học sử dụng các phƣơng tiện trực quan, kỹ thuật dạy học hiện đại
Nếu trình độ kiến thức tƣ duy HS không thể đồng điệu tuyệt đối, thì khi
áp dụng phƣơng pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cƣờng độ,
tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học đƣợc thiết kế thành một
chuỗi hoạt động độc lập. Áp dụng phƣơng pháp ở trình độ càng cao thì sự phân
hóa càng lớn. Việc sử dụng các phƣơng tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông
tin trong nhà trƣờng sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa học tập theo nhu cầu và khả
năng của HS.
PPDH tích cực có sự phối hợp rộng rãi các phƣơng tiện trực quan nhất là
phƣơng tiện nghe nhìn, CNTT đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập
(học theo năng lực, học theo nhu cầu ) giúp HS tiếp cận đƣợc với các PPDH
hiện đại trong xã hội phát triển.
5. Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích đánh giá thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS đồng thời mà còn tạo điều kiện đánh
giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV. Trƣớc đây, có quan niệm
GV là ngƣời độc quyền đánh giá HS, nhƣng trong PPDH tích cực, GV phải
hƣớng dẫn HS tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học của mình. Liên quan đến
điều này GV cần tạo điều kiện thuận lợi để cho HS đƣợc tham gia đánh giá mình
và đánh giá lẫn nhau. PPDH tích cực có sử dụng phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá
đa dạng, khách quan, tạo điều kiện để HS tự đánh giá lẫn nhau, nội dung kiểm
tra cũng cần đa dạng phong phú có sự trợ giúp của thiết bị kĩ thuật, CNTT Tự
đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành
đạt trong cuộc sống mà mỗi thầy cô cũng nhƣ nhà trƣờng phải trang bị cho HS.

Dạy học theo hoạt động hợp tác là một hình thức tổ chức dạy học, trong
đó dƣới sự tổ chức và điều khiển của GV, HS đƣợc chia thành từng nhóm nhỏ
liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phƣơng thức tác động qua
lại của các thành viên, bằng trí tuệ tập thể mà hoàn thành các nhiệm vụ học tập.
HHT là hình thức tổ chức hoạt động học tập có sự phụ thuộc lẫn nhau của
các thành viên trong nhóm đề cùng làm việc hƣớng đến mục đích chung là nắm
vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo.
HHT trong nhóm là HS trong một nhóm cùng thực hiện một nhiệm vụ do
GV giao cho để đạt đƣợc mục đích của giờ học.
Phƣơng pháp HHT cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ những
băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phƣơng thức nhận
thức mới. Khi trao đổi mỗi ngƣời nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề
nêu ra, xác định những điều cần học hỏi thêm. Giờ học trở thành quá trình học
hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp thu thụ động từ GV.

14
Học hợp tác (cooperative learning) là một quan điểm học tập rất phổ biến
ở các nƣớc phát triển và đem lại hiệu quả giáo dục cao. HHT là một định hƣớng
giáo dục mà trong đó HS cùng làm việc trong những nhóm nhỏ gồm nhiều HS
khác nhau và đƣợc xây dựng một cách cẩn trọng. Quan điểm học tập này yêu
cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của HS vào quá trình học tập, đồng thời yêu
cầu HS phải làm việc cùng nhau để đạt đƣợc kết quả học tập chung.
HS học bằng cách làm (learning by doing) chứ không học bằng cách nghe
GV giảng (learning by listening). Quan điểm này tạo nên môi trƣờng HHT giữa
thầy - trò, trò - trò, HS sẽ là trung tâm của quá trình dạy học và GV không độc
chiếm diễn đàn đồng thời quan điểm học tập này thể hiện tính dân chủ và dựa trên
nguyên tắc tƣơng hỗ, bình đẳng. Kiểu HHT đang đƣợc áp dụng có hiệu quả ở tất cả
các bậc học và xuất hiện trong các môn học ở nhiều nƣớc trên thế giới.
1.5.2. Cấu trúc chung của quá trình dạy học hợp tác theo nhóm
Một hoạt động theo nhóm trong giờ học thƣờng đƣợc tiến hành theo ba

a. Khái niệm nhóm học tập và đặc điểm
Nhóm là tập hợp những cá thể từ hai ngƣời trở lên đƣợc phân chia theo
nguyên tắc nhất định, có tác động lẫn nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ
trong một thời gian xác định.
Nhóm học tập đƣợc lập ra với mục đích xác định rõ ràng, chung cho cả
nhóm, đó là việc học tập đạt kết quả cao hơn và hứng thú hơn khi học riêng lẻ.
+ Nhóm học tập có các đặc điểm:
- Là một đơn vị, một bộ phận của tập thể lớp học.
Nểu vấn đề hƣớng dẫn HS
tự nghiên cứu
Tổ chức, điều khiển, thảo
luận nhóm, giao việc
Tổ chức thảo luận lớp, trao
đổi kết quả hoạt động
nhóm
Kết luận, đánh giá
Hoạt động của học sinh
Nhiện vụ tự nghiên cứu theo
cá nhân
Trao đổi nhóm, hoạt động hợp
tác với các bạn trong nhóm
Trao đổi kết quả các nhóm,
hoạt động hợp tác với các bạn
trong nhóm
Tự đánh giá, điều chỉnh hoạt
động học tập
Hoạt động của giáo viên

16
- Hoạt động của nhóm đƣợc thống nhất với nhau bởi cùng thực hiện một

- Nhóm thƣờng xuyên đƣợc tổ chức: 2, 3 thậm chí có thể 4 HS ngồi gần
nhau, phía trên hoặc phía dƣới nhau.

17
+ Nhóm cơ động (di động - tạm thời): Các thành viên trong nhóm hoạt
động với nhau theo yêu cầu. Mục tiêu của GV trong một tiết học, có thể thay đổi
nhóm khi cần thiết.
Loại nhóm này cần xê dịch chỗ ngồi, gom lại thành từng nhóm, có thể 3
hoặc 4 HS hoặc đông hơn, tùy GV và hoàn cảnh lớp học.
Nhóm di động có thể giải quyết nhiệm vụ phức tạp hơn, lâu hơn và cách
chia nhóm đa dạng, không khí lớp học đƣợc thay đổi hẳn khi chia và ghép nhóm
có thể giữ nguyên nhóm từ giờ đến cuối giờ.
Cách chia nhóm: Tự chọn. Xếp theo vần chữ cái, theo số thứ tự, theo màu
phát cho HS ngẫu nhiên
GV cũng có thể phân công nhóm theo hình thức tổ chức hoạt động của
nhóm nhƣ là:
+ Nhóm “gánh xiếc”: Hình thức tổ chức lớp học kiểu gánh xiếc, từ trƣớc
đến nay vẫn đƣợc sử dụng trong các giờ học môn tự nhiên và ngày càng trở nên
phổ biến hơn. Mỗi nhóm sẽ tiến hành cùng một seri bài tập nhƣng theo các thứ
tự khác nhau và vì thế vào bất kỳ thời điểm nào ta cũng có nhóm tiến hành các
hoạt động khác nhau nhƣng đến cuối giờ các nhóm đều thực hiện xong mọi hoạt
động học tập của mình. Cách sử dụng các phƣơng pháp này đƣợc thể hiện qua
ma trận sau:
Nhóm
Hoạt động học tập
A
1
2
3
B

Đây là một hình thức mở rộng của nhóm “rì rầm”, sau khi tự thảo luận
theo cặp, hai cặp sẽ kết hợp thành nhóm 4 ngƣời để hoàn thiện một hoạt động có
liên quan. Nếu cần thiết các nhóm 4 ngƣời sau đó lại đƣợc ghép tiếp để thành
nhóm 8 ngƣời.
Tổ chức theo hình thức “xây kim tự tháp” vấn đề học tập đƣợc giao cho
cá nhân (hoặc từ nhóm nhỏ) đƣợc thống nhất dần để có một đáp án chung, có thể
áp dụng tốt cho các trƣờng hợp: Thống nhất nội dung ôn tập, tổng kết, lấy ví dụ
vận dụng vào thực tế hay dùng để so sánh, đối chiếu sự giải thích vấn đề để đi
đến thống nhất.
- Về số lƣợng ngƣời trong một nhóm:
Tùy theo hoạt động, nội dung hoạt động mà số ngƣời trong một nhóm có
thể thay đổi: Nhóm 2 ngƣời, nhóm 3 ngƣời hoặc 4 - 6 ngƣời, 8 - 10 ngƣời.
+ Với nhóm có nhiều học sinh thì sẽ có các ƣu điểm:
- HS càng tự tin với những gì mình khám phá đƣợc.
- Các nhóm càng dễ hiểu đƣợc đúng ý của đề bài, yêu cầu thảo luận.
- Các nhóm càng có nhiều kinh nghiệm của bản thân để vận dụng.
- GV tốn ít thời gian hơn để quan sát theo dõi hoạt động các nhóm song
nhóm có nhiều HS có nhƣợc điểm lớn là: Thời gian để các nhóm đi đến quyết
định chung càng dài và càng khó đạt đƣợc sự đồng thuận.
Với các nhóm càng ít ngƣời thì tiến hành đƣợc càng nhiều hoạt động và vì
thế càng ít ngƣời “ăn theo” và quyết định càng nhanh chóng.
Tuy nhiên dù số lƣợng HS ít hay nhiều thì cũng phải đảm bảo HS nào
cũng phải làm việc. Các nhóm từ 2 - 5 ngƣời là rất phổ biến, nhóm lớn hơn 4
ngƣời thì đòi hỏi phải ngƣời đứng đầu nhóm, các nhóm nhiều hơn 7 ngƣời trở
lên càng chậm chạp và hiện tƣợng “ăn theo” càng trở nên phổ biến trừ khi GV
có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng em.
19

Nói chung nhóm trƣởng là ngƣời quan trọng, để lựa chọn một HS làm
nhóm trƣởng thì ngƣời dạy phải biết quan sát thái độ và cách làm việc của từng
HS để lựa chọn và hỗ trợ, nhắc nhở. Nhƣ vậy, nhóm trƣởng là ngƣời đạo diễn, là
MC và là nhạc trƣởng cho buổi thảo luận của nhóm Họ phải thể hiện tốt vai

Trích đoạn Mục tiêu và nội dung kiến thức trong chương 7: Crom Sắ t Đồng Tổ chức hoạt động hợp tác theo cấu trúc STAD của Slavin cho một số nộ Vận dụng cấu trúc Jigsaw trong tổ chức hoạt động học hợp tác theo nhóm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status