i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYÊ
̃
N THI
̣
A
́
I LINH BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƢỜI NGHO
TNH NGH AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS MAI THỊ THANH XUÂN
Hà Nội – 2014
DANH MỤC KÝ HIU VIẾT TẮT
TT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
BHXH
Bảo hiểm xã hội
2
BHYT
Bảo hiểm y tế
3
BHYTXH
Bảo hiểm y tế xã hội
4
BHYTTN
Bảo hiểm y tế tư nhân
6
BQL
Ban quản lý
17
TTYT
Trung tâm y tế
18
TYT
Trạm y tế
19
UBND
Ủy ban nhân dân
ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ, HỘP
TT
Số hiệu
Nội dung
Trang Bảng
1
Bảng 2.1
Sự phát triển hệ thống cơ sở y tế và cán bộ ngành Y
50
2
Bảng 2.2
3
Đồ thị 2.3
Hoạt động thu-chi Quỹ BHYT cho người nghèo tại Nghệ
An trong 5 năm qua:
64 Biểu đồ
1
Biểu đồ2.1
Tần suất KCB và chi phí KCB bình quân 1 lượt
62 Hộp
1
Hộp 1
Bệnh nhân nói gì về bệnh viện
68
2
Hộp 2
Một kiểu lạm dụng Quỹ KCB BHYT của bệnh viện
71
3
Hộp 3
Thẻ BHYT phát ra nhiều hơn dân số
72
1.1.4. Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ BHYT 22
1.1.4.1. Cơ chế hình thành Quỹ BHYT 22
1.1.4.2. Sử dụng Quỹ BHYT 24
1.2. Bảo hiểm y tế cho ngƣời nghèo 25
1.2.1. Người nghèo và chính sách nhà nước về BHYT đối với người
nghèo 25
1.2.1.1. Đặc điểm sử dụng dịch vụ BHYT của người nghèo 25
1.2.1.2. Chính sách của Nhà nước về BHYT cho người nghèo 27
2
1.2.2. Nội dung hoạt động BHYT cho người nghèo 30
1.2.2.1. Lập, quản lý và sử dụng quỹ KCB cho người nghèo 30
1.2.2.2. Tổ chức cấp, phát thẻ và KCB cho người nghèo 33
1.2.2.3. Tổ chức khám, chữa bệnh cho người nghèo 34
1.3. Kinh nghiệm phát triển BHYT cho ngƣời nghèo tại một số địa
phƣơng và bài học cho tỉnh Nghệ An 35
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển BHYT cho người nghèo tại các địa
phương 35
1.3.1.1. Thành phố Hà Nội 35
1.3.1.2. Tỉnh Thanh Hóa 36
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Nghệ An 37
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Y TẾ CHO
NGƢỜI NGHO Ở TNH NGH AN 40
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hƣởng đến
hoạt động BHYT cho ngƣời nghèo ở tỉnh Nghệ An 40
2.1.1. Các đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội 40
2.1.1.1. Các đă
̣
c điê
̉
3.1.1. Định hƣớng 77
3.1.2. Mục tiêu phát triển BHYT cho ngƣời nghèo đến năm 2020 79
3.2. Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt động BHYT cho ngƣời
nghèo ở Tỉnh Nghệ An đến năm 2020 81
3.2.1. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương chính
sách của Đảng và Nhà nước về CSSK cho người nghèo và cận nghèo 81
3.2.2. Củng cố hệ thống y tế, đặc biệt là mạng lưới y tế cơ sở 84
3.2.3. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính y tế cho người nghèo 87
3.2.4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý
BHYT cho người nghèo 90
3.2.5. Tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động BHYT cho người
nghèo 93
KẾT LUẬN 96
TÀI LIU THAM KHẢO 100
4
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được Đảng và
Nhà nước ta xác định là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong định hướng chiến lược
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) ra đời
cũng nhằm thực hiện mục tiêu quan trọng đó với những nguyên tắc, nguyên lý
mang tính nhân đạo, tính cộng đồng sâu sắc theo phương châm “Mỗi người vì mọi
người, nhiều người vì một người”; người khỏe chăm lo cho người ốm đau, người
bệnh nhẹ dành sự ưu đãi hơn cho người bệnh nặng hơn. Như vậy, có thể thấy bảo
hiểm y tế là một chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm huy động các
nguồn lực tài chính từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động,
về quy trình xét duyệt, lập danh sách cấp thẻ BHYT đã ảnh hưởng đến lợi ích của
người có thẻ, nhất là các nhóm đối tượng chính sách như người nghèo, cận nghèo,
trẻ em dưới 6 tuổi Trong đó có khá nhiều đối tượng thuộc diện người nghèo chưa
được cấp thẻ BHYT gây rất nhiều khó khăn cho cơ sở khám, chữa bệnh cũng như
cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) trong việc đảm bảo quyền lợi KCB BHYT cho
những đối tượng này.
Điều đó đang đặt ra yêu cầu cho các ngành, các cấp, trực tiếp là Sở Y tế và Sở
Lao động-Thương binh và Xã hội phải giải quyết kịp thời, nhằm bảo đảm công
bằng xã hội cho người nghèo trong việc thụ hưởng các dịch vụ BHYT. Nhưng với
điều kiện cụ thể tại tỉnh Nghệ An, liệu có thể đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm y tế cho
người nghèo được hay không? và bằng cách nào? Đó là những câu hỏi nghiên cứu
mà đề tài luận văn Thạc sỹ: “Bảo hiểm y tế cho người nghèo ở Tỉnh Nghệ An” sẽ
cố gắng tìm câu trả lời thỏa đáng.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
BHYT không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chính trị xã hội lớn, vì
vậy đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong số các công trình đã công bố
liên quan đến đề tài luận văn có thể chia thành hai nhóm: Nhóm các công trình
3
nghiên cứu những vấn đề về BHYT nói chung và nhóm các công trình viết về
BHYT tại các địa phương.
Các bài viết thuộc nhóm thứ nhất có các công trình quan trọng sau:
- “Nghiên cứu hệ thống y tế, nghiên cứu y tế ” của Phạm Huy Dũng, Đề tài
khoa học lưu tại Thư viện Quốc gia, năm 2002. Cụ thể, công trình đã nghiên cứu
chăm sóc sức khỏe trong đổi mới kinh tế, đánh giá chất lượng và các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt là cho các hộ nghèo: (1) Đánh giá chất lượng dịch vụ
chăm sóc sức khỏe ban đầu; (2)Nghiên cứu quyết định chăm sóc sức khỏe hộ gia
đình và các yếu tố quyết định; (3)Đánh giá khả năng chi trả cho chăm sóc sức khỏe
của hộ nghèo và mức thỏa đáng của hệ thống miễn phí cho người nghèo; (4) Đề
xuất hướng cải thiện và điều kiện đưa ra cải tổ việc miễn phí; (5) Nghiên cứu tính
chăm sóc sức khoẻ của người nghèo tại Việt Nam. Đánh giá các kết quả và hạn chế
của các giải pháp tài chính y tế cho người nghèo đã được thực hiện tại Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về cơ chế cung cấp tài chính chăm sóc sức
khoẻ cho người nghèo.
- “Tài chính y tế ở Việt Nam tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng chi
trả cho dịch vụ y tế ”, Báo cáo của nhóm nghiên cứu James c.Knowles, TS Dương
Huy Liệu, TS Nguyễn Hoàng Long, và cộng sự, lưu tại Thư viện Quốc gia, năm
2010. Nội dung báo cáo đã tổng kết những kinh nghiệm của Việt Nam trong việc
thực hiện chế độ thu viện phí và các mô hình tài chính y tế cho người nghèo. Đưa ra
phương án mở rộng BHYT trong năm 2010.
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sỹ, tiến sĩ và khoá luận tốt nghiệp đại
học cũng đã nghiên cứu vấn đề này ở những góc độ khác nhau.
Thuộc nhóm thứ hai có các công trình:
- “Đánh giá thực trạng và hiệu quả áp dụng phương thức chi trả BHYT bắt
buộc tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Thanh Hóa”, luận án tiến sỹ y học của Trần
Khắc Lộng, lưu tại Thư viện Quốc gia năm 2005. Nội dung tác phẩm đã đánh giá
thực trạng thực hiện phương thức chi trả theo giá ngày giường và phí dịch vụ
BHYT bắt buộc tại hai bệnh viện huyện Hoằng Hóa và thị xã Thanh Hóa năm 1993-
5
1996; Đánh giá hiệu quả phương thức chi trả khoán quỹ định xuất theo thẻ BHYT
bắt buộc tại hai bệnh viện trên trong hai năm 1997-1998.
- “Nghiên cứu thực trạng và góp phần hoàn thiện mô hình khám chữa bệnh
BHYT tại trạm y tế xã Phù Linh và Đức Hoà huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội”,
Luận án tiến sỹ y học của Lương Ngọc Khuê, lưu tại Thư viện Quốc gia, năm 2005.
Trong công trình này tác giả đã mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của người
dân, các cấp chính quyền, đánh giá những kết quả, tồn tại, các yếu tố ảnh hưởng và
những thách thức đối với các cơ sở y tế thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh cho
người có thẻ BHYT; Đánh giá bước đầu hiệu quả của một số biện pháp can thiệp
khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại hai xã Phù Linh và Đức Hoà huyện
BHYT là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước
nhằm xã hội hoá công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân, giúp người dân được bình
đẳng trong việc hưởng lợi từ các dịch vụ y tế. Sau khi điểm lại những nội dung
chính của pháp luật và chính sách về BHYT của Chính phủ, bài báo đề cập chính
sách BHYT của tỉnh Nghệ An. Theo tác giả, vì chuẩn nghèo của Chính phủ thay đổi
nên số hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn tỉnh Nghệ An tăng lên, nhưng trên thực
tế số đối tượng cận nghèo tham gia BHYT không cao, chỉ chiếm trên khoảng 40%
số đối tượng thuộc hộ gia đình cận nghèo toàn tỉnh. Bài báo còn chỉ ra nguyên nhân
chủ yếu của tình trạng đó là: do quy trình rà soát, xét duyệt hộ nghèo, hộ cận nghèo
phức tạp; do việc thống kê, báo cáo danh sách hộ nghèo, cận nghèo của cấp cơ sở
chậm; do lập danh sách đối tượng sai sót các thông tin về nhân thân nên phải cấp
đổi lại thẻ BHYT gây phiền hà cho đối tượng; do Ngân sách cấp kinh phí hỗ trợ
mua thẻ BHYT chuyển không kịp thời; và còn do nhận thức của người dân thấp.
Cuối cùng, bài báo đề xuất một số giải pháp để nâng cao tỉ lệ người nghèo, cận
nghèo tham gia BHYT.
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của
BHYT. Đó là nguồn tài liệu quí giá để luận văn kế thừa. Tuy nhiên về BHYT cho
người nghèo tại Nghệ An thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ
thống và toàn diện, nhất là dưới cách tiếp cận quản lý nhà nước. Đó là khoảng trống
mà luận văn này sẽ tìm hiểu và giải quyết.
7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ thực trạng và các nguyên nhân của những hạn
chế trong công tác triển khai BHYT cho người nghèo ở Nghệ An hiện nay, từ đó đề
xuất một số giải pháp tăng cường hoạt độngBHYT cho người nghèo trong những
năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích đó luận văn có nhiệm vụ:
ta một cách nhìn khoa học xuyên suốt nhằm đưa ra các giải pháp tổ chức thực hiện
phù hợp trên địa bàn.
Phương pháp tiếp cận duy vật lịch sử cũng được sử dụng nghiên cứu trong
luận văn này. Đối tượng nghiên cứu được đặt trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ
thể, với những chính sách chủ trương của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn.
Đứng trên quan điểm lịch sử để đánh giá đồng thời dựa vào những tiền đề đó được
hình thành trong quá trình tổ chức thực hiện BHYT trên địa bàn tỉnh để tìm hiểu,
kiểm chứng và đánh giá quá trình phát triển trong tương lai.
5.2. Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
+Phƣơng pháp thống kê
Phương pháp thống kê, thông tin đã được thu thập, được mô hình hóa, biểu đồ
hóa các số liệu đó.
+ Tổng hợp và phân tích
Phương pháp tổng hợp phân tích được dùng để đánh giá tăng trưởng chung và
tăng trưởng của các loại hình BHYT đã triển khai qua các năm, xem xét mức độ đạt
được trong từng thời kỳ.
+ Phƣơng pháp đối chiếu so sánh
Phương pháp so sánh được dùng để xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách
dựa trên việc so sánh số liệu của tỉnh Nghệ An với chỉ tiêu chung của cả nước. Điều
kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời
gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán. Phương pháp
so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối. So sánh tuyệt
9
đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ
sở.So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể
hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để
nói lên tốc độ tăng trưởng.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ hơn những vấn đề lý luận về BHYT nói chung và BHYT cho người
Đời sống xã hội càng phát triển thì những biến động bất ngờ không ngừng tăng lên.
Những biến động đó được gọi là rủi ro. Rủi ro có thể do con người hoặc do thiên
nhiên gây ra và hậu quả là rất khó lường. Để tồn tại, phát triển, con người luôn tìm
cách đấu tranh, né tránh, kiểm soát, hạn chế và chia sẻ những rủi ro có thể gặp phải.
Sự ra đời của bảo hiểm là hướng tới mục đích đó.
Theo Monique Gaullier, Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là
người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện
mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ
nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người
bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các
thiệt hại theo các phương pháp của thống kê. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) thì quan
niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay
một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường
cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị
thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Từ điển Wikipedia thì cho rằng:
Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ
vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra
11
rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro
và đền bù các thiệt hại trả theo các phương pháp của thống kê[48]
Như vậy, dù diễn đạt có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều có điểm
chung, coi bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành,
phân phối và sử dụng các quỹ tập trung (quỹ bảo hiểm) nhằm xử lý các rủi ro, các
biến cố. Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được
diễn ra bình thường. Nói cách khác, bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một
người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi
ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào
một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng
không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Theo đó, bảo hiểm được xem như là một
chỉ nghiên cứu về hoạt động bảo hiểm xã hội về y tế, tức BHYT, cụ thể hơn là
BHYT cho người nghèo.
* Bảo hiểm y tế
Có thể thấy rằng BHYT rất cần thiết đối với mọi người dân, đặc biệt càng có ý
nghĩa hơn trong việc KCB. Vậy thực chất BHYT là gì? Để trả lời cho câu hỏi này
đó có rất nhiều quan niệm về BHYT được đưa ra. Sau đây là một số khái niệm điển
hình:
Công ước 102, năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế quy định: BHYT là
một trong 9 nội dung của BHXH về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp xã
hội. Quan niệm này đó xác định BHYT là một nội dung của BHXH, nhưng chưa
làm rõ nội hàm của khái niệm BHYT là gì.
Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập I của NXB Từ điển Bách khoa,
Hà Nội, năm 1995 cho rằng: “BHYT là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức quản lý
nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo
sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Quan niệm này chủ yếu mới đề
cập đến nguồn kinh phí huy động cho BHYT, nhưng vẫn chưa làm rõ mục đích hoạt
động của BHYT”[29].
13
Theo quy định tại khoản 1, điều 2 Luật BHYT năm 2008, BHYT là hình thức
bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi
nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia
theo quy định của Luật này[21].
Quan niệm này đó phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm BHYT, làm rõ bản
chất, mục đích và quản lý BHYT. Nhà nước luôn động viên mọi thành viên trong xã
hội tham gia BHYT trước hết là để đảm bào cho cuộc sống của bản thân và gia đình
và để đề phòng khi ốm đau với phương châm “đóng góp khi lành, để dành khi ốm”.
Như trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết vĩ mô
thì BHYT bằng cách nào đó và đang giúp nhà nước thực hiện một phẩn chức năng
của mình trong quá trình phân phối lại để đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội.
phạm vi đối tượng tham gia từ đó đó mở rộng phạm vi cân bằng, chia sẻ rủi ro trong
cộng đồng những người tham gia BHYT.
Nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro chỉ được thực hiện một cách đầy
đủ và hợp lí thông qua những giới hạn nhất định. BHYT chỉ bao gồm những đối
tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được bảo vệ về sức khỏe.
Thứ hai, hoạt động BHYT không làm tăng thu nhập cho người tham gia, và họ
cũng không mong muốn được thụ hưởng các khoản đóng góp đó.
Có thể hiểu, BHYT là một hàng hóa dịch vụ đặc biệt, vì người mua hàng hóa
(người đóng BHYT) không muốn sử dụng hàng hóa đó. Mặc dù BHYT giúp cho
người bệnh và gia đình tránh được những khó khăn về kinh tế, nhưng bản chất của
BHYT không phải là bù đắp cho thu nhập cho người hưởng bảo hiểm (như chế độ
BHXH ốm đau, tai nạn lao động…) mà là nhằm chăm sóc sức khỏe cho họ khi ốm
đau, bệnh tật…. Thật vậy, quỹ BHYT sẽ chi trả toàn bộ hoặc một phần chi phí KCB
cho người tham gia BHYT, giúp cho người bệnh sớm vượt qua bệnh tật ốm đau,
phục hồi sức khỏe để tiếp tục lao động, nhanh chóng ổn định cuộc sống gia đình. Vì
thế khi người dân tham gia BHYT bắt buộc hay tự nguyện, họ không kì vọng rằng
số tiền họ đóng góp vào quỹ BHXH sẽ giúp họ tăng thêm thu nhập của gia đình
15
trong tương lai, hay cũng không muốn được thụ hưởng (“lấy” lại nó) vì điều đó
đồng nghĩa với việc phải ốm đau, bệnh tật.
Thứ ba, BHYT hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít”
Khi tham gia BHYT có nghĩa là người dân đó sẵn sàng tham gia vào việc chia
sẻ tổn thất khi bị bệnh với những người chẳng may gặp rủi ro. Người tham gia
BHYT không thể biết trước được mình có bị bệnh hay không để hành động đối phó.
Xét về mặt kinh tế thì nguyên tắc số đông bù số ít khi tham gia BHYT được thể
hiện khi sử dụng quỹ BHYT, cụ thể là:
Tổng CFKCB = Tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHYT
Như vậy cân đối về chi phí KCB được thực hiện cân bằng giữa một bên là
tổng chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia là tổng
cứ vào trước đó họ đó đóng góp BHXH được bao nhiêu. Nếu định hướng theo mức
độ rủi ro thì khi ốm đau họ sẽ được đền bù với mức là bao nhiêu căn cứ vào trước
đó họ đó đóng góp theo mức nào như trong BHYT tư nhân hay cũng gọi là bảo
hiểm thương mại. Chính định hướng này đó làm nền tảng cho các nguyên tắc cơ
bản về BHYT. Chính vì vậy, BHYT luôn mở rộng phạm vi đối tượng tham gia theo
nghĩa vụ (mang tính chất bắt buộc) và ban đầu BHYT cho người làm thuê rồi đến
BHYT cho người lao động làm thuê rồi đến BHYT cho người lao động tự do, cho
người lao động trong nông nghiệp…cho đến khi BHYT toàn dân.
Thứ ba, BHYT vừa là bảo hiểm bắt buộc vừa là bảo hiểm tự nguyện
BHYT sẽ đảm bảo cho những người tham gia BHYT và gia đình họ những
khả năng để phòng tránh bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật, chữa trị và khôi phục sức
khỏe sau bệnh tật. Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh (KCB), chế độ thai sản
và chế độ ốm đau đều có cùng phương thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản
chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử, tập quán của từng nước mà BHYT có thể
bao gồm cả chế độ KCB, chế độ thai sản và chế độ ốm đau hoặc được tách ra theo
từng chế độ riêng biệt. Điều đó liên quan đến phạm vi đối tượng tham gia BHXH,
đến mức đóng góp và đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ
được hưởng.
17
Ở các nước công nghiệp phát triển người ta quan niệm BHYT trước hết là một
tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe,
khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia
BHYT. Như vậy trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia sẻ
rủi ro rất cao, là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, nó điều tiết
mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa thanh niên với người già
cả, giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp. Sự đoàn
kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở
của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn
kết chặt chẽ với nhau. Đây cũng chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT