Bảo hiểm y tế cho người nghèo ở Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THANH BÌNH

BẢO HIỂM Y TẾ
CHO NGƢỜI NGHÈO Ở HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. MAI THỊ THANH XUÂN
Hà Nội - 2010

Sự cần thiết của BHYT và cơ chế hình thành quỹ BHYT
17
1.2.1.
Sự cần thiết của BHYT
17
1.2.2.
Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ BHYT
20
1.3.
Bảo hiểm y tế cho người nghèo
27
1.3.1.
Người nghèo và nhu cầu KCB của người nghèo
27
1.3.2.
Chính sách của Nhà nước về BHYT cho người nghèo
34
1.3.3.
Lập, quản lý và sử dụng quỹ BHYT cho người nghèo
35
1.3.4.
Tổ chức cấp phát thẻ và KCB cho người nghèo
38
1.3.5.
Kinh nghiệm phát triển BHYT cho người nghèo tại một số địa
phương
40
Chương 2:
Thực trạng hoạt động BHYT cho ngƣời nghèo tại Hà Nội
và những vấn đề đặt ra

2.3.3.
Một số vấn đề đặt ra cho BHYT người nghèo ở Hà Nội hiện
nay
77
Chƣơng 3:
Định hƣớng và giải pháp phát triển BHYT cho ngƣời
nghèo ở Hà Nội trong thời gian tới
82
3.1.
Định hướng phát triển BHYT cho người nghèo
82
3.1.1.
Định hướng của Việt Nam
82
3.1.2.
Định hướng của Thành phố Hà Nội
86
3.2.
Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt động BHYT cho
người nghèo ở Hà Nội
89
3.2.1.
Tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước về CSSK cho người nghèo và cận nghèo
89
3.2.2.
Củng cố hệ thống y tế, trước hết là mạng lưới y tế cơ sở
91
3.2.3.
Tổ chức chặt chẽ quy trình bình chọn người nghèo và cấp phát

4
BV
Bệnh viện
5
BHYTXH
Bảo hiểm y tế xã hội
6
BHYTTN
Bảo hiểm y tế tư nhân
7
BYT
Bộ Y tế
8
BQL
Ban quản lý
9
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
10
CP
Chính phủ
11
GDP
Tổng sản phẩm trong nước
12
HCSN
Hành chính sự nghiệp
13
ILO
Tổ chức Lao động quốc tế

TW
Trung Ương
24
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số TT
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1
Tình hình cấp thẻ BHYT cho người nghèo tại Tp. Hồ Chí
Minh
40
Bảng 2.1
GDP bình quân đầu người của Hà Nội và cả nước 2000-2010
46
Bảng 2.2
Tình hình phát triển quỹ BHYT người nghèo tại Hà Nội
54
Bảng 2.3
Kết quả thực hiện BHYT cho người nghèo trên địa bàn Tp.Hà
Nội
59
Bảng 2.4
Tần suất KCB của các đối tượng tham gia bảo hiểm
62
Bảng 2.5
Tần suất KCBBHYT tại Hà Nội sau khi thực hiện Luật BHYT
63
Bảng 2.6


ii
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khoẻ là vốn quý của con người, là điều kiện quan trọng của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chăm sóc sức khoẻ con người theo định
hướng công bằng, hiệu quả là một quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, trong đó
tư tưởng xuyên suốt là xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam, nhất là từ khi
công cuộc đổi mới được khởi xướng.
Sự phát triển kinh tế trong hơn 20 năm đổi mới đã cải thiện đáng kể về
điều kiện ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, do vậy sức khoẻ của người dân ngày càng
được tăng cường. Chính sách Bảo hiểm Y tế (BHYT) ở nước ta được thực hiện
từ năm 1992 theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/9/1992 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ). Nhưng trong giai đoạn này, người nghèo chưa được
Nhà nước mua BHYT, do đó khi đi khám chữa bệnh (KCB) vẫn phải đóng viện
phí, chỉ một số ít thuộc diện quá nghèo mới được miễn nộp viện phí, do đó gặp
rất nhiều khó khăn trong KCB.Tại đại hội VIII (1996), Đảng ta đưa ra quan điểm
''Tăng trưởng kinh kế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội", đồng
thời nhấn mạnh: ''Trong xã hội ta, mọi người nghèo phải được khám chữa bệnh
và chăm sóc sức khoẻ chu đáo".
Thực hiện chủ trương đó, ngay từ năm 1992, nước ta đã có chính sách
BHYT. Từ đó đến nay, đã 18 năm trôi qua, số lượng người tham gia BHYT ngày
càng tăng, từ 3,8 triệu người/năm 1993 (chiếm 5,4% dân số) đã tăng lên 23,7
triệu người/năm 2005 (chiếm 28% dân số), và 53 triệu người/tháng 5-2010
(chiếm 62% dân số). Vậy nhưng, phần lớn người nghèo, kể cả người chưa được
cấp thẻ và người đã được cấp đều chưa được tiếp cận với dịch vụ khám chữa
bệnh (KCB) từ hệ thống y tế. Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản
2

Các bài viết thuộc nhóm thứ nhất có các công trình quan trọng sau:
- “Kinh tế thị trường và yêu cầu hoàn thiện an sinh xã hội”, Tạp chí Luật
học, số 4, năm 2006. Bài viết khẳng định BHYT là hết sức cần thiết đối với mọi
người dân trên cơ sở phân tích những ưu điểm của BHYT.
- “Những giải pháp thúc đẩy tiến trình BHYT toàn dân” của Đỗ Văn Sinh
đăng trên Tạp chí Y học lâm sàng, số 11, năm 2007. Nội dung bài viết đưa ra
những thuận lợi, khó khăn của BHYT toàn dân và đưa ra những giải pháp thúc
đẩy tiến trình BHYT toàn dân.
- “BHYT: Sự ra đời và đổi mới chính sách an sinh xã hội” của Trần Khắc
Lộng, đăng trên tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 10, năm 2007. Nội dung bài viết
khái quát tình hình thực hiện an sinh xã hội, trong đó có nêu lên thực trạng tình
hình khám chữa bệnh cho người nghèo và đưa ra các giải pháp khám chữa bệnh
cho người nghèo.
-“Các giải pháp tài chính y tế cho người nghèo”, Báo cáo nghiên cứu của
nhóm nghiên cứu: Dương Huy Liệu; Nguyễn Hoàng Long; Phan Thanh Thuỷ;
Đặng Bội Hương và cộng sự, năm 2005. Nội dung báo cáo đã đánh giá thực
trạng nghèo đói và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người nghèo tại Việt Nam.
Đánh giá các kết quả và hạn chế của các giải pháp tài chính y tế cho người nghèo
đã được thực hiện tại Việt Nam. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về cơ chế
cung cấp tài chính chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo.
- “Sự khác biệt về giới trong sẵn sàng chi trả cho mô hình BHYT dựa vào
cộng đồng ở một vùng nông thôn Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ y tế công cộng
của tác giả Nguyễn Thanh Hà, lưu tại Thư viện Quốc gia, năm 2005. Công trình
4

này đã nghiên cứu so sánh giữa nam giới và nữ giới về trình độ học vấn, về số
thành viên trong hộ gia đình có số thành viên là người già và đưa ra kết luận tỷ lệ
nữ giới có bảo hiểm (bất kỳ loại nào) thấp hơn nam giới. Những đặc điểm này đã
dẫn tới sự khác biệt trong sẵn sàng chi trả cho mô hình BHYT dựa vào cộng
đồng của nam và nữ.

hạn chế trong công tác triển khai BHYT cho người nghèo ở Hà Nội hiện nay,
trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này
trong những năm tới.
Để thực hiện mục đích đó luận văn có nhiệm vụ.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác BHYT cho người nghèo
tại thành phố Hà Nội
- Phân tích thực trạng công tác BHYT cho người nghèo ở Hà Nội hiện nay
đánh giá những thành tựu và hạn chế trong công tác này, tìm ra nguyên nhân
kinh tế - xã hội dẫn đến tình trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển BHYT cho người nghèo tại Hà
Nội trong thời gian tới được tốt hơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là BHYT cho người nghèo và chăm lo
sức khỏe cho người nghèo thông qua các hoạt động lập quỹ BHYT, cấp phát thẻ,
triển khai khám chữa bệnh cho người nghèo, kể cả nông dân, công nhân viên
chức, học sinh, sinh viên thuộc diện nghèo khó theo tiêu chuẩn của Nhà nước.
6

*Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là BHYT cho đối
tượng người nghèo trên địa bàn Hà Nội.
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến nay
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp của kinh tế chính trị.
- Phương pháp cụ thể: Sử dụng phương pháp. Phân tích - tổng hợp, thống
kê - so sánh, lôgic – lịch sử và phương pháp phỏng vấn
6. Đóng góp mới của luận văn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng BHYT cho người nghèo ở Hà Nội, trên cơ
sở đó rút ra hạn chế và nguyên nhân của nó

Wikipedia là khá thuyết phục. Đó là: Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do
Nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc
sống của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất
khả năng lao động [43]. Về thực chất, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do
bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,
tuổi già, tử tuất; dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an
8

toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an
toàn xã hội.
Như vậy, bảo hiểm xã hội là biện pháp hữu hiệu chia sẻ rủi ro của một
người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp
rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng giúp một số tiền nhất
định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên
trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Nói cách khác,
BHXH được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách
công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bào hiểm.
Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Công ước
Giơnevơ năm 1952, hệ thống BHXH bao gồm nhiều hoạt động, như: Chăm sóc
y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp tuổi già; Trợ cấp tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp gia đình; Trợ cấp sinh sản; Trợ cấp tàn phế;
Trợ cấp cho người bị mất người nuôi dưỡng. Như trên đã đề cập, trong khuôn
khổ luận văn này chỉ nghiên cứu về họat động bảo hiểm xã hội về y tế, tức
BHYT, cụ thể hơn là BHYT cho người nghèo.
1.1.1.2. Bảo hiểm y tế
Mỗi một quốc gia phải xác định phương thức tốt nhất đảm bảo cho người
dân có được sự an toàn nhất định về thu nhập cũng như tiếp cận các dịch vụ y tế.
Phát triển hệ thống an sinh xã hội sẽ bảo đảm sự an toàn tối thiểu cho cuộc sống

theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi trả trực tiếp. Điều đó thể
hiện rõ khi bị ốm đau người bệnh sẽ được chữa trị cho đến khi khỏe mạnh bằng
10

mọi phương pháp kỹ thuật y tế hiện thời mà không căn cứ trước đó họ đã đóng
BHYT được bao nhiêu. Định hướng này là nền tảng cho các nguyên tắc cơ bản
về BHYT.
BHYT có thể được thực hiện bởi Nhà nước (BHXH về y tế, hay
BHYTXH) hoặc tư nhân (BHTN về y tế, hay BHYTTN). BHYTXH là hoạt động
mang tính cộng đồng, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà nhằm mục tiêu
an sinh xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe; còn BHYTTN là hoạt động
thương mại, vì mục tiêu lợi nhuận. Nếu BHYTTN hướng vào đối tượng người
giàu, người có thu nhập cao, thực hiện theo sự thỏa thuận dân sự giữa người mua
(cá nhân) và người bán (các doanh nghiệp hay tổ chức tư nhân), với mức phí bảo
hiểm được tự do lựa chọn theo bảng danh mục quy định, mà không căn cứ vào
tiền lương, hay tiền công của người lao động; thì BHYTXH hướng vào nhiều đối
tượng, trong đó đặc biệt quan tâm đến người nghèo, không phân biệt tuổi tác,
giới tính hay tình trạng sức khỏe, mà căn cứ vào thu nhập, với mức phí được
pháp luật qui định. Tại các nước công nghiệp phát triển, loại hình BHYTTN
được tồn tại và phát triển song song với BHYTXH, song ở Việt Nam, do tầm
quan trọng đặc biệt của BHYT (liên quan đến sức khỏe và tính mạng của con
người) nên Nhà nước là tổ chức chủ yếu thực hiện BHYT. Vì vậy, trong luận văn
này, khái niệm BHYT được hiểu là BHYTXH.
1.1.2. Đặc điểm chủ yếu của của hoạt động BHYT
Thứ nhất, BHYT là sự chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng
từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm. Đây là biện pháp chia sẻ
rủi ro của một người hay của một số ít người cho cả cộng đồng những người có
khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số
11


khổng lồ nói trên, giúp người bệnh vượt qua hoạn nạn về bệnh tật, san sẻ ghánh
nặng tài chính, ổn định cuộc sống gia đình.
Thứ tư, BHYT là một hàng hóa dịch vụ đặc biệt. Việc sử dụng dịch vụ
BHYT cũng đồng nghĩa với việc bản thân bị ốm đau, bệnh tật, nên không một ai
lại muốn mình bị đau ốm cả. Vậy nên, việc người ta mua BHYT thực chất chỉ là
bỏ tiền ra để đổi lấy “sự an tâm”, là đổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng
xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính, chứ
không mong muốn sử dụng dịch vụ đó. Hơn nữa, việc mua-bán dịch vụ BHYT
lại không phải chi trả trực tiếp. Đó cũng là lý do chủ yếu làm cho nhiều người
không nhìn thấy được lợi ích của BHYT, và đã không sẵn sàng tham gia.
Thứ năm, BHYT là một nội dung của BHXH. Bảo hiểm y tế là chế độ
chăm sóc y tế trong hệ thống an sinh xã hội. Mục đích của Bảo hiểm y tế nhằm
đảm bảo cho đông đảo người dân tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế và công bằng
trong khám chữa bệnh. Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế
để được khám chữa bệnh, mỗi lần như thế phải mất một khoản phí. Đặc biệt, với
những bệnh mãn tính, bệnh hiểm nghèo cần sử dụng những công nghệ cao trong
chẩn đoán, chữa trị, sử dụng các loại thuốc đắt tiền, điều trị dài ngày tại các bệnh
viện, các khoản phí khám chữa bệnh rất lớn. Với những khoản chi phí này không
phải cá nhân nào cũng có thể tự lo liệu được. Bệnh tật đã đẩy con người vào
thảm cảnh lo ngại, nhất là đối với những người nghèo. Họ phải vay mượn để
chữa trị, gánh nặng bệnh tật, nợ nần cùng lúc đè nặng lên vai họ. Những người
có điều kiện kinh tế hơn hoặc cận nghèo, sau những đợt bệnh tật hiểm nghèo có
13

thể bị đẩy vào cảnh nghèo khó. Bệnh tật đe dọa đến cơ sở kinh tế, sự tồn tại của
bản thân và các thành viên trong gia đình, thậm chí ảnh hưởng đến sự ổn định
của xã hội.
Vì vậy, BHYT là loại hình bảo hiểm mang tính nhân đạo nhất trong số tất
cả các loại hình bảo hiểm. BHYT đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ với chất
lượng ngày càng cao đối với đại bộ phận dân cư. Với BHYT mọi người sẽ được

BHYT, Nhà nước quan tâm chăm sóc sức khỏe của tầng lớp nhân dân nghèo –
những người yếu thế hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, từ đó đảm bảo ổn
định xã hội.
Thứ hai, BHYT là sự liên kết chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng giữa các
thành viên trong xã hội. Bên cạnh sự trợ giúp mang tính Nhà nước, tính xã hội
của BHYT còn thể hiện ở sự chia sẻ, liên kết của chính các thành viên trong xã
hội thông qua đóng góp dựa trên thu nhập. Các thành viên trong xã hội tham gia
đóng góp một phần thu nhập vào quỹ chung để chăm sóc y tế cho mình và các
thành viên khác. Bệnh tật, những rủi ro không phải lúc nào cũng xuất hiện cùng
một lúc với tất cả mọi người. Thực tế cho thấy có người ốm lúc này, người ốm
lúc khác, có người bệnh nặng, có người bệnh nhẹ, có người hay ốm, có người ít
ốm, bệnh tật thường đến bất ngờ không báo trước. Nếu cứ để mỗi người tự
chống chọi với bệnh tật thì họ sẽ khó có đủ tiền để trang trải.
BHYT, với sự liên kết mang tính cộng đồng rộng rãi, sẽ chia rủi ro bệnh
tật. Một quỹ chung chăm sóc sức khỏe được điều tiết để nhiều người chưa hoặc
ít ốm đau chăm sóc, giúp đỡ người hay ốm, bệnh nặng. Việc điều tiết giữa những
15

người sống khỏe mạnh và những người mang bệnh – chịu nỗi đau về thể xác,
tinh thần là hành động mang tính nhân văn sâu sắc.
Thứ ba, tính xã hội của BHYT được thể hiện ở sự đoàn kết trong chăm sóc
y tế. Chăm sóc y tế thông qua BHYT không phân biệt mức đóng nhiều, đóng ít,
không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo, giai cấp mà phụ thuộc mức độ rủi
ro bệnh tật. Thực tế cho thấy những người nghèo, người có thu nhập thấp thường
hay ốm đau, cần nhiều kinh phí chữa bệnh. Hơn nữa, ốm đau lại làm giảm hoặc
mất thu nhập nên họ khó khăn hơn để tiếp cận với các dịch vụ y tế. BHYT giúp
họ vượt qua những khó khăn này.
Vậy, bản chất xã hội của BHYT thể hiện ở sự trợ giúp mang tính Nhà
nước và sự tương trợ mang tính cộng đồng. BHYT thể hiện bản chất nhân đạo
với mục đích thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe.

Mức hưởng BHYT xã hội bao nhiêu là tùy thuộc mức độ nặng, nhẹ của
bệnh tật mà người đóng bảo hiểm phải chịu. Mức hưởng BHYT không xác định
trước, bởi vì không thể xác định ai sẽ mắc bệnh và mắc bệnh gì, vào lúc nào, chi
phí điều trị là bao nhiêu. Vì vậy, khái niệm đóng góp theo khả năng, hưởng theo
nhu cầu (bị giới hạn theo điều lệ BHYT ở từng quốc gia) trở thành một nguyên
lý của BHYT.
17

1.2. Sự cần thiết của BHYT và cơ chế hình thành quỹ BHYT
1.2.1. Sự cần thiết của BHYT
BHYT là hoạt động mang tính xã hội, nhằm mục tiêu chung tay cùng cộng
đồng chia sẻ rủi ro cho cá nhân khi họ bị bệnh tật, tai nạn, vì vậy là rât cần thiết
đối với mỗi người, nhất là đối với những người nghèo, cận nghèo, người cao tuổi
và trẻ em. Tham gia BHYT, vì vậy vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi đối với
mỗi người, nên đó là hoạt động hết sức cần thiết. Thể hiện:
Thứ nhất, BHYT làm giảm gánh nặng về chi phí khám chữa bệnh cho cá
nhân
Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để được khám
chữa bệnh. Bệnh tật, nhất là những bệnh kinh niên, bệnh mãn tính, bệnh hiểm
nghèo đòi hỏi một khoản chi phí KCB rất lớn, thường vượt quá khả năng chi trả
nhiều lần so với thu nhập của mỗi người, nhất là người nghèo. Có những người
bệnh phải được sử dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong việc chẩn đoán và
chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền và phải lưu trú dài ngày tại
bệnh viện. Những khoản chi phí này không phải ai cũng có thể tự lo liệu được.
Bệnh tật đã dồn con người vào những thảm cảnh đáng lo ngại. Đối với
những người bệnh do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn để chữa trị bệnh
tật và sau đó trả nợ và có nhiều người cũng không thể vay mượn để tiếp tục được

mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập của mình vào quỹ BHYT, để
phòng khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ vẫn có chỗ dựa để ổn định cuộc sống. Đối
19

với người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm bảo vệ người lao động khi
gặp rủi ro để giảm bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh
nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh. Việc doanh nghiệp đóng BHYT
cho người lao động, trước mắt có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp, nhưng về lâu dài, trách nhiệm bảo vệ người lao động
khi gặp rủi ro họ sẽ chuyển giao về phía xã hội, và rủi ro được điều tiết trên
phạm vi toàn xã hội. Còn Nhà nước, với tư cách là người xây dựng chính sách,
chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện BHYT sẽ góp phần
thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia. Như vậy nhà nước giữ vai
trò quản lý về BHYT, bảo hộ cho quỹ BHYT mà không phải chi từ ngân sách
nhà nước cho lĩnh vực này. Mặt khác, chính sách BHYT là một bộ phận quan
trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính
sách kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục
phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá
trình.
Từ đó cho thấy, hoạt động BHYT một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của
từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng,
xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua
quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành
viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một
khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền
vững.
Thứ tư, thực hiện chính sách BHYT góp phần ổn định và nâng cao chất
lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong
các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển. Chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status