Đề án môn học GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm y tế toàn dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước,
việc tổ chức và triển khai tốt BHYT sẽ làm tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ
y tế cho tất cả các thành viên trong cộng đồng, tuy nhiên để tiến tới BHYT
toàn dân không phải là một việc đơn giản. Bởi vì thu nhập của người dân còn
thấp, lại chưa có thói quen dự phòng rủi ro, mặt khác ngân sách nhà nước có
hạn, việc huy động người dân tham gia chương trình BHYT toàn dân ngay
trong một vài năm tới rất khó khăn do đó cần phải có một lộ trình thích hợp.
Kinh tế phát triển làm khoảng cách giàu nghèo càng gia tăng, dẫn tới tình
trạng thiếu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cho người dân, đề góp phần
khắc phục tình trạng đó nhà nuớc ta đã có nhiều hình thức khám chữa bệnh
miễn phí cho người nghèo và đã được áp dụng ở nhiều địa phương. Hình thức
phát thẻ BHYT cho người nghèo là hình thức có nhiều ưu điểm nhất. Tuy
nhiên hiện nay có một số lượng lớn người nghèo chưa được nhà nuớc mua
BHYT, do đó khi đi KCB phải đóng viện phí, các chi phí liên quan… gặp rất
nhiều khó. Với thực trạng như vậy em chọn đề tài “Tình hình thực hiện
BHYT cho người nghèo ở Việt Nam hiện nay ”, để tìm hiểu rõ hơn về thực
trạng KCB cho người nghèo và từ đó nêu ra một số kiến nghị góp phần giúp
người nghèo có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế hiệu quả hơn. Nội dung
đề tài gồm:
1. Giới thiệu chung về BHYT
2. Khái quát về BHYT ở Việt Nam
3. Tình hình thực hiện BHYT cho người nghèo ở Việt Nam
4. Kiến nghị để thực hiện BHYT cho người nghèo hiệu quả hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Chính đã giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện đề tài. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn
sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong có sự đóng góp, trao đổi
của thầy cô và các bạn để để tài hoàn thiện hơn.
Sinh viên :Lê Trần Thùy Dung Lớp : Bảo hiểm 46 B
1
2
Đề án môn học GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
Đặc biệt là hoạt động BHYT còn gắn kết được các thành viên trong làng
xã, trong xã hội cùng vì lợi ích của từng thành viên và cộng đồng, vì sự phồn
vinh của đất nước, thể hiện tính tương trợ, tính xã hội và tính nhân văn sâu
sắc của chính sách BHYT trước rủi ro của mỗi thành viên.
Như vậy BHYT ra đời góp phần thực hiện công bằng trong khám chữa
bệnh và điều trị; giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, mà còn nâng cao
tính cộng đồng, gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Nếu thực hiện tốt, BHYT
sẽ góp huy tối đa quy luật số đông bù số ít trong hoạt động BH.
1.2 Đối tượng và phạm vi BHYT
Để thực hiện BHYT đúng với mục đích và thể hiện rõ tính nhân văn của
BHYT, cần phải xác định đúng đối tượng và phạm vi trách nhiệm của BHYT.
1.2.1 Đối tượng BHYT
BHYT nói riêng cũng như bảo hiểm sức khỏe nói chung là dịch vụ bảo
hiểm rất phổ biến trên thế giới và được đông đảo mọi người tham gia. Bất kỳ
ai có nhu cầu bảo hiểm sức khỏe đều có thể tham gia. Như vậy đối tượng
tham gia BHYT là mọi người dân có nhu cầu bảo hiểm cho sức khỏe của
mình hoặc cũng có thể là một người đại diện cho tập thể, một cơ quan, tổ
chức… đứng ra kí kết hợp đồng BHYT cho tập thể đơn vị, cơ quan. BHYT có
hai nhóm đối tượng tham gia đó là bắt buộc và tự nguyện. HÌnh thức bắt buộc
áp dụng cho các đối tượng là người lao động hưởng lương, còn hình thức tư
nguyện áp dụng cho tất cả thành viên trong xã hội có nhu cầu.
Hoạt động y tế thường bao gồm: Phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi
chức năng. Nhưng đối tượng của BHYT đều là sức khỏe của người được bảo
hiểm , tức là người đuợc bảo hiểm gặp các rủi ro vể sức khỏe thì sẽ được các
cơ quan BHYT xem xét bồi thường.
1.2.2 Phạm vi BHYT
BHYT là một chính sách xã hội do nhà nước tổ chức, thực hiện nhằm
huy động đóng góp của các cá nhân, tập thể để thanh toán chi phí y tế cho
sóc sức khỏe nhưng mang tính chất kinh doanh- như BH tai nạn lao động ,
Sinh viên :Lê Trần Thùy Dung Lớp : Bảo hiểm 46 B
4
Đề án môn học GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
BH học sinh sinh viên 24/24… -BHTM. hai loại hình này mặc dù có mục
đích giống nhau nhưng nhìn chung có những đặc trưng khác nhau cơ bản như
sau:
BẢNG SO SÁNH BHYT THUỘC BHXH VÀ BHYT THUỘC BHTM
tiêu thức
BHYT thuộc BHXH BHYT kinh doanh
đối tượng tham gia
người lao động là công
hưởng lương…
những người có nhu cầu
hình thức thự hiện
bắt buộc tự nguyện
cơ quan quản lý
cơ quan BHT do nhà
nước tổ chức quản lý
các công ty BH kinh
doanh nhà nước, tư nhân,
công ty cổ phần.
tính chất BH
tính nhân đạo, tính
cộng đồng…
hạch toán kinh tế, cân
nhắc thu chi và làm nghĩa
vụ đối với nhà nước.
nguồn quỹ BHYT
người sử dụng lao
cơ quan BHYH chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT
cho người được BHYT, trừ các cuộc đại phẩu thuật (theo quy định của cơ
quan y tế).
+ BHYT thông thường : Là phương thức BHYT trong đó trách
nhiệm của cơ quan BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và
nghĩa vụ của ngươì được BHYT.
1.3 Quỹ BHYT và mục đích sử dụng quỹ BHYT
1.4.1 Quỹ BHYT
Một tổ chức muốn tồn tại và thực hiện được các mục tiêu của mình đều
cần phải có tài chính. BHYT cũng vậy để thực hiện các mục đích nhân đạo
của mình, BHYT phải có một quỹ tài chính: đó là Quỹ BHYT, Quỹ BHYT là
qũy tiền tệ được hình thành từ nguồn thu phí bảo hiểm và các nguồn thu
hợp pháp khác, Quỹ tồn tại độc lập có quy mô phụ thuộc vào số lượng thành
viên đóng góp và mức đóng góp của các thành viên.
Với mục đích nhân đạo của BHYT, không có mục đích kinh doanh nên
mức đóng của người sử dụng lao động đóng 50%-66% mức phí, còn người
lao động đóng 34%- 50% mức phí BH. Mức phí BH đóng phụ thuộc vao
nhiều yếu tố như xác suất bệnh, chi phí y tế, độ tuổi tham gia BHYT… ngoài
ra có nhiều mức phí khác nhau cho những người có khả năng tài chính khác
nhau trong việc nộp phí lựa chọn … Phí BHYT thường được tính trên cơ sở
các số liệu thống kê về chi phí y tế và số người tham gia BHYT thực tế trong
thời gian liền kề trước đó.
Sinh viên :Lê Trần Thùy Dung Lớp : Bảo hiểm 46 B
6
Đề án môn học GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
*Quỹ BHYT được hình thành từ các nguồn sau:
+ Tiền thu BHYT do người sử dụng lao động và người tham gia
BHYT đóng.
+ Các khoản nhà nước đóng BHYT cho đối tượng theo quy định và
các khoản hỗ trợ khác của nhà nước (nếu có).
điều kiện cụ thể . Do có hai hình thức BHYT là tự nguyện và bắt buộc nên
hình thức tổ chức và quản lý quỹ là khác nhau.
2. Khái quát về BHYT ở Việt Nam
2.1 Sự ra đời và phát triển của BHYT ở Việt Nam
Sự phát triển của BHYT gắn liền với định hướng, quan điểm của Đảng
qua các nghị quyết, văn kiện quan trọng mà khởi đầu là Đại hội VI năm 1986.
Thực hiện chủ trương đổi mới trong lĩnh vực y tế, Nghị quyết đã đề ra
phương châm: “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đây là chủ trương mới
xóa bỏ bao cấp trong KCB, huy động nguồn lực trong cộng đồng cùng nhà
nước chăm lo bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Trước mhững vấn đề cấp bách
đặt ra đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thời kì đổi mới, xóa
bỏ bao cấp. BHYT ra đời theo NGhị định 299-HĐBT, có hiệu lực từ ngày
1/10/92 của Hội đồng bộ trưởng, chính thức đi vào hoạt động và thực hiện
theo điều lệ BHT ban hành kèm theo NĐ này, và sau đó sửa đổi để tự hoàn
thiện theo NĐ 58/CP năm 1998.
Trước những vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, ngày 23/2/2005 Bộ chính trị -ban
chấp hành TW khóa IX ra nghị quyết 46NQ-TW với nhận định: BHYT được
hình thành và bước đầu phát huy tác dụng” , Nghị quyết nêu rõ định hướng:
“Phát triển BHYT toàn dân, nhằm từng bước đạt công bằng trong chăm sóc
sức khỏe, thực hiện chia se giữa người nghèo với người giau, người khỏe với
người ốm, người trong độ tuổi lao động với trẻ em và người già”. Ngày
18/4/2005 chính phủ ban hành nghị quyết số 05 /2005 /NQ-CP về đẩy mạnh
Sinh viên :Lê Trần Thùy Dung Lớp : Bảo hiểm 46 B
8
Đề án môn học GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Chính
xã hội hóa các họat động giáo dục, y tế ,văn hó, thể dục thể thao tiếp tục thực
hiện nhất quán tư tưởng , quan điểm phát triển BHYT :” thực hiện BHYT
toàn dân vào năm 2010” . Hiện nay chủ trương thực hiện BHYT toàn dân
đang được Quốc hội thảo luận và tìm các giải pháp thich hợp để có một khung
như sau :
1.Đối với thành viên hộ gia đình: Triển khai theo địa bàn xã,
phường, thị trấn khi có đủ điều kiện sau:
- 100% thành viên trong hộ gia đình tham gia, trừ những người
tham gia BHYT bắt buộc và trẻ em dưới 6 tuổi )
- Ít nhất 10% số hộ gia đình trong phạm vi địa bàn tham gia.
2.Đối với học sinh sinh viên triển khai theo nhà trường
- Điều kiện ít nhất 10% số HSSV trong nhà trường tham gia.
Trên đây là điều kiện đủ để thực hiện BHYT tự nguyện ở Việt Nam.
Thông tư này đã tác động rất lớn đến số lượng tham gia BHYT tự nguyện, đặc
biệt đối tượng là người nghèo, cận nghèo.
2.3. Thực trạng BHYT ở Việt nam
Ra đời từ năm 1992 đến nay, chính sách bảo hiểm y tế đã khẳng định
được tính đúng đắn trong việc lựa chọn tài chính để giảm bớt gánh nặng chi
phí khám chữa bệnh, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng, tạo điều kiện cho nhiều
người được khám chữa bệnh hơn. Hơn 14 năm qua, BHYT đã góp phần to
lớn trong việc thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người dân. Trong qua trình
hình thành và phát triển, BHYT Việt Nam không ngừng được bổ sung và
hoàn thiện về nội dung cũng như cơ chế quản lý. Đã thể hiện sâu sắc tính
nhân đạo, chia sẽ rủi ro trong cộng đồng, nhiều người bệnh nặng, chi phí cao
đã được cộng đồng người tham gia giúp đỡ, nhiều người dân có đóng BHYT
cả dời cũng không đủ để chi trả điều trị, người bệnh được sử dụng các kĩ thuật
cao như chụp cắt lớp, điều trị ung thư, điều trị can thiệp tim mạch… đã được
hưởng BHYT.
Sinh viên :Lê Trần Thùy Dung Lớp : Bảo hiểm 46 B
10