BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN QUYẾT TÂM NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SỰ PHÁT SINH
GÂY HẠI VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP
RẦY NÂU NHỎ Laodelphax striatellus (Fallén)
HẠI LÚA TẠI HƯNG YÊN
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Phản biện 2: TS. Nguyễn Văn Liêm, Viện Bảo vệ thực vật
Phản biện 3: TS. Đinh Văn Đức, Cục Bảo vệ thực vật
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Học viện họp tại
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ, ngày tháng năm Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Theo số liệu thống kê của Trung tâm bảo vệ thực vật phía Bắc (2009, 2014), vụ
Xuân 2009 rầy nâu nhỏ Laodelphax striatellus (Fallén) đã phát sinh gây hại trên 36 ha
lúa của 5 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình với mật độ phổ
biến 3.000 – 5.000 con/m
2
theo hướng tổng hợp.
3. Mục đích, yêu cầu của đề tài
3.1. Mục đích
Từ kết quả điều tra tình hình phát sinh gây hại, nghiên cứu đặc điểm sinh vật học,
sinh thái học và thử nghiệm biện pháp phòng chống rầy nâu nhỏ xây dựng biện pháp
phòng chống chúng một cách có hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường.
2
3.2. Yêu cầu
- Xác định tình hình phát sinh và mức độ gây hại của rầy nâu nhỏ trên ruộng lúa
tại Hưng Yên.
- Xác định đặc điểm cơ bản về hình thái, sinh vật học, sinh thái học của rầy nâu nhỏ.
- Xác định thành phần thiên địch của rầy nâu nhỏ, đi sâu nghiên cứu loài bọ xít
mù xanh Cyrtorhinus lividipennis Reuter, một loài thiên địch phổ biến của rầy nâu nhỏ
tại vùng nghiên cứu.
- Nghiên cứu biện pháp phòng chống rầy nâu nhỏ mang tính tổng hợp, đạt hiệu
quả, bền vững và thân thiện với môi trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Rầy nâu nhỏ Laodelphax striatellus (Fallén).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu các đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học, các yếu
tố ảnh hưởng đến đến diễn biến số lượng và biện pháp phòng chống mang tính tổng hợp
rầy nâu nhỏ Laodelphax striatellus (Fallén) tại Hưng Yên.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp dẫn liệu khoa học về tỷ lệ tăng tự nhiên (r), hệ số nhân một thế hệ
(R
o
) và thời gian tăng đôi quần thể (DT) của rầy nâu nhỏ Laodelphax striatellus
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Từ vụ Xuân năm 2009, rầy nâu nhỏ đã phát sinh gây hại với mật độ cao đe dọa
trực tiếp đến sự bền vững của sản xuất lúa ở Hưng Yên cũng như các tỉnh đồng bằng sông
Hồng. Xuất phát từ yêu cầu của sản xuất, việc nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng chống
rầy nâu nhỏ có hiệu quả nhằm ngăn chặn tác hại do chúng gây ra là rất cần thiết.
Việc quản lý, phòng chống bất kỳ một loài sâu hại nào cũng cần phải dựa vào các
đặc điểm sinh vật học, sinh thái học. Các biện pháp phòng chống được đề xuất phải dựa
trên kết quả của các thí nghiệm tiến hành trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng, do
vậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ trực tiếp đóng góp vào việc hoàn chỉnh biện pháp
phòng chống rầy nâu nhỏ có hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Rầy nâu nhỏ có phân bố rộng trên khắp thế giới tại châu Á, châu Âu, châu Phi,
châu Đại Dương. Loài này phân bố chính tại các vùng trồng lúa ở những vùng khí hậu
ôn đới, nhất là các vùng Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Đài loan,
Nga, Israel, Ấn Độ và một số nước Châu Âu (CABI, 2013; Hills, 1983; Pathak et al.,
1994; Shukla, 1979).
Rầy nâu nhỏ là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng trên cây lúa và nhiều loại
cây trồng khác. Ngoài những thiệt hại trực tiếp hút dịch cây lúa, rầy nâu nhỏ còn là
môi giới truyền virus gây bệnh sọc lá lúa (RSV) và virus gây bệnh lúa lùn sọc đen, gây
ra thiệt hại nặng năng suất cây lúa (Ding et al., 2005; Gray, 1996; Lijun et al., 2003).
Rầy nâu nhỏ thuộc nhóm côn trùng biến thái không hoàn toàn, vòng đời trải qua
3 pha phát dục. Pha trứng có thời gian phát dục khoảng 7 ngày ở 25
o
C và khoảng 10
ngày ở 20
o
C. Rầy non rầy nâu nhỏ có 5 tuổi, thời gian phát dục kéo dài khoảng 12
ngày ở điều kiện nhiệt độ 25
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về rầy nâu nhỏ ở trong nước mới chỉ tập trung vào một số nội
dung như phân bố của rầy nâu nhỏ, một số đặc điểm hình thái, thời gian các pha phát
dục, vòng đời, một số yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến mật độ và tính kháng nhiễm của
rầy nâu nhỏ với một số giống lúa. Những đặc điểm sinh học cơ bản của rầy nâu nhỏ
như tập tính sống, nhịp điệu đẻ trứng, tỷ lệ sống, tỷ lệ tăng tự nhiên, biến động quần thể,
các yếu tố ảnh hưởng tới biến động quần thể, thiên địch chính của rầy nâu nhỏ và biện
pháp phòng trừ rầy nâu nhỏ hầu như chưa có tài liệu công bố.
Đặc điểm hình thái của rầy nâu nhỏ có mô tả của Trần Đình Chiến (2012) và
Phạm Văn Lầm (2010).
Nghiên cứu về thời gian các pha phát dục, vòng đời và sức đẻ trứng của rầy nâu
nhỏ của Phạm Hồng Hiển và cs. (2011) và Nguyễn Đức Khiêm (1995).
Nghiên cứu bước đầu về giống trong phòng chống rầy nâu nhỏ của Đặng Thị
Dung và cs. (2010) và Nguyễn Đức Khiêm (1995, 2001).
Chương 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
- Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh vật học của rầy nâu
nhỏ, bọ xít mù xanh, xác định hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật được tiến hành tại
phòng thí nghiệm của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc (xã Trưng Trắc, huyện Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên).
- Những nghiên cứu về mức độ phổ biến, diễn biến mật độ phát sinh, gây hại, ảnh
hưởng của các yếu tố sinh thái tới mật độ của rầy nâu nhỏ trên đồng ruộng được tiến hành
tại xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nơi thường xuyên bị loài này phát sinh
gây hại.
- Bẫy đèn được đặt tại xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
2.2. Thời gian nghiên cứu
vệ thực vật phía Bắc ở Văn Lâm, Hưng Yên tại 2 nhiệt độ 25
o
C và 30
o
C, ẩm độ 85%.
Rầy nâu nhỏ được nuôi cá thể trong ống nghiệm (ống nuôi) có đường kính 1,5
cm, dài 18 cm, thức ăn là dảnh lúa Bắc thơm số 7 ở giai đoạn 15 ngày tuổi.
Ngay sau khi rầy nâu nhỏ hóa trưởng thành ghép đôi và tiếp tục nuôi đến khi chết
sinh lý để xác định số trứng đẻ. Rầy non thế hệ thứ 2 được nuôi đến trưởng thành.
Tính giá trị các chỉ tiêu sinh học cơ bản của rầy nâu nhỏ theo phương pháp của
Birch (1948) và Nguyễn Văn Đĩnh (1992).
* Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái học rầy nâu nhỏ L. striatellus
- Điều tra diễn biến mật độ của rầy nâu nhỏ: Thực hiện theo Quy chuẩn quốc gia
QCVN 01- 38 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010).
- Các nghiên cứu ngoài đồng ruộng: Thí nghiệm diện hẹp, nhắc lại 3 lần trong
năm 2013. Trong đó: thí nghiệm giống lúa triển khai ở cả 2 vụ (vụ Xuân và vụ Mùa),
mỗi vụ 4 công thức với 4 giống lúa; thí nghiệm mật độ cấy gồm 3 công thức ứng với 3
mật độ cấy; thí nghiệm liều lượng bón đạm gồm 3 công thức, hai thí nghiệm này được
triển khai trong vụ Xuân 2013.
* Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống rầy nâu nhỏ L. striatellus
- Nghiên cứu khả năng sử dụng giống kháng rầy nâu nhỏ L. striatellus
Đánh giá mức độ mẫn cảm của 14 giống lúa với rầy nâu nhỏ trong ống nghiệm
6
theo phương pháp đánh giá tính kháng của 1 số giống với rầy nâu và rầy lưng trắng
của Hồ Thị Thu Giang và cs. (2012).
Đánh giá mức độ mẫn cảm của 14 giống lúa với rầy nâu nhỏ trên khay mạ theo
phương pháp đánh giá của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI, 1987).
- Biện pháp sinh học
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hình thái và tác hại của rầy nâu nhỏ L. striatellus
3.1.1. Đặc điểm hình thái rầy nâu nhỏ L. striatellus
3.1.1.1. Đặc điểm hình thái rầy nâu nhỏ L. striatellus
- Pha trứng: Trứng cong hình quả chuối, trứng được đẻ thành từng ổ trong mô
bẹ lá hoặc gân chính lá lúa. Trong mỗi ổ trứng, các quả trứng được xếp thành 2 hàng,
7
số trứng trên mỗi ổ từ 3-9 quả. Các ổ trứng có đặc điểm chóp trứng nhô lên khỏi mô
của bẹ hoặc gân chính lá. Trứng lúc mới đẻ có màu trong suốt, sau khi đẻ 3-4 ngày ở
đầu trứng xuất hiện điểm mắt màu đỏ. Kích thước trứng: Chiều dài trứng 0,76 ± 0,03
mm, chiều rộng 0,19 ± 0,01 mm.
- Pha rầy non: Toàn bộ giai đoạn rầy non rầy nâu nhỏ trải qua 4 lần lột xác và
gồm 5 tuổi. Tuổi 1 mới nở có màu trắng, tuổi 3 chuyển sang màu vàng sám, mắt lồi có
màu hồng sau chuyển sang màu đỏ, mặt trước của đầu có 3 gờ mầu vàng sáng. Cơ thể
có chiều dài từ 0,74 đến 2,27 mm và chiều rộng 0,32 đến 0,98 mm (tùy theo từng tuổi).
- Giai đoạn trưởng thành: Trưởng thành có 2 dạng, trưởng thành cánh ngắn và
trưởng thành cánh dài. Cả cánh dài và cánh ngắn mặt trước của đầu có 3 gờ màu nâu
sáng và con đực nhỏ hơn con cái. Cánh ngắn: cánh của rầy cái cánh ngắn trùm hết đốt
bụng thứ 7, rầy đực cánh trùm hết đốt bụng thứ 8, cơ thể có chiều dài từ 2,14 đến
2,27mm, chiều rộng từ 0,84 - 0,93mm. Cánh dài cơ thể có chiều dài từ 2,95 đến 3,83
mm, chiều rộng từ 0,81 đến 0,90 mm.
Bảng 3.1. Kích thước các pha của rầy nâu nhỏ L. striatellus
(tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2013)
Pha phát dục
của rầy nâu nhỏ
Kích thước cơ thể (mm)
Chiều dài Chiều rộng
đen, màu đen, trong khi trưởng thành rầy nâu có màu nâu vàng, nâu vàng đậm và
trưởng thành rầy lưng trắng có màu trắng sữa, vàng nghệ.
3.1.2. Tác hại của rầy nâu nhỏ L. striatellus
3.1.2.1. Triệu chứng gây hại của rầy nâu nhỏ L. striatellus
Rầy nâu nhỏ phát sinh và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển
cây lúa: Giai đoạn mạ đến đẻ nhánh triệu chứng hại ban đầu là các vết chích có màu
nâu vàng trên thân sau chuyển thành nâu nhạt, khi mật độ cao lá chuyển màu vàng cây
héo dần và khô cháy. Giai đoạn đứng cái - làm đòng triệu chứng gây hại thường gây
hại trên thân nhiều hơn. Khi bị hại nặng ở giai đoạn sinh trưởng này thường trên bề
mặt của lá và thân cây lúa xuất hiện muội đen và làm cây lúa kém phát triển, nghẹn
bông lúa, kéo dài thời gian trỗ, lá chuyển màu vàng và tóp lại. Giai đoạn trỗ bông rầy
nâu nhỏ tập trung chủ yếu trên bông chúng gây hại trực tiếp lên bông lúa, làm cho hạt
lúa có màu thâm đen và không vào sữa, dẫn đến hạt thóc lép lửng, khi mật độ cao trên
lá xuất hiện muội đen và lá phía trên chuyển màu vàng, khô tóp lại. Giai đoạn chín sữa
– chín sáp – chín, triệu chứng gây hại tương tự giai đoạn trỗ bông.
3.1.2.2. Mức độ gây hại của rầy nâu nhỏ L. striatellus
Số liệu lưu trữ tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, Văn Lâm, Hưng Yên
cho thấy, sau khi gây hại tăng vào vụ Xuân 2009, những năm sau rầy nâu nhỏ vẫn tiếp
tục phát sinh gây hại với xu hướng ngày càng tăng. Nếu như năm (2009) diện tích lúa
bị nhiễm rầy nâu nhỏ mới chỉ 179 ha trong toàn vùng thì sang 2010 diện tích nhiễm đã
lên 1.387 ha, trong đó diện tích bị hại nặng là trên 61 ha. Đến năm 2014, chỉ tính riêng
vụ Xuân diện tích nhiễm đã lên 3.748 ha, trong đó có trên 815 bị nhiễm nặng (bảng
3.2).
Bảng 3.2. Diện tích lúa nhiễm rầy nâu nhỏ L. striatellus ở các tỉnh phía Bắc Việt
Nam từ năm 2009 đến năm 2014
Năm
Diện tích nhiễm rầy nâu nhỏ
trong vụ Xuân (ha)
Diện tích nhiễm rầy nâu nhỏ
trong vụ Mùa (ha)
3.2.2. Thời gian các pha phát dục và vòng đời rầy nâu nhỏ L. striatellus
Thức ăn là cây lúa giống Bắc thơm số 7, thời gian các pha phát dục của rầy nâu nhỏ
tại 2 nhiệt độ là 25
o
C và 30
o
C, ẩm độ 85% (bảng 3.3).
Bảng 3.3. Thời gian các pha phát dục của rầy nâu nhỏ L. striatellus
(tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2013)
Pha phát dục
Thời gian phát dục ở các điều kiện (ngày)
t
o
C = 25
o
C, RH = 85%
t
o
C = 30
o
C, RH = 85%
Thời gian n Thời gian n
Trứng 7,48
a
± 0,11 60 5,65
b
± 0,12 70
Rầy non tuổi 1 3,75
a
± 0,35 14 24,00
b
± 0,36 19
Thời gian sống trưởng thành đực 11,38
a
± 0,64 17 6,19
b
± 0,37 21
Thời gian sống trưởng thành cái 18,21
a
± 0,55 14 10,74
b
± 0,32 19
Ghi chú: n- Số lượng cá thể theo dõi. Thức ăn là giống lúa Bắc thơm số 7
Trong phạm vi cùng một hàng, các giá trị mang các chữ cái khác nhau chỉ sự sai khác
có ý nghĩa ở mức xác suất P<0,05.
Thời gian phát dục pha trứng rầy nâu nhỏ ở điều kiện nhiệt độ 25
o
C, ẩm độ
85% là 7,48 ngày tương đương với kết quả của công bố của Nguyễn Đức Khiêm
(1995) ở nhiệt độ 23,8
o
C – 29,8
o
C, ẩm độ 93 – 94%, thời gian phát dục của trứng là
6,7 – 7,5 ngày và của Kisimoto (1957) ở nhiệt độ 25
o
C là khoảng 7 ngày. Vòng đời
của rầy nâu nhỏ ở điều kiện nhiệt độ 25
sinh trưởng
của cây lúa
Số trưởng
thành RNN
được quan
sát (con)
Số
trưởng
thành
đực (con)
Số
trưởng
thành cái
(con)
Tỷ lệ rầy
đực:cái
8-9/4 Đứng cái 458 162 296 0,55
29-30/4 Làm đòng 576 238 338 0,70
6-7/5 Đòng già 1.348 637 711 0,90
3-4/6 Chín sáp 746 426 320 1,33
Tổng 3.128 1.463 1.665 0,88
Kết quả điều tra trong vụ Mùa 2013 cũng tương tự như trong vụ Xuân năm
2013, giai đoạn đầu vụ tỷ lệ trưởng thành cái rầy nâu nhỏ chiếm ưu thế, giai đoạn cuối
vụ khi lúa chín tỷ lệ trưởng thành đực rầy nâu nhỏ chiếm ưu thế.
Kết quả theo dõi số lượng trưởng thành đực và trưởng thành cái rầy nâu nhỏ
vào đèn phù hợp với kết quả điều tra tỷ lệ trưởng thành đực và trưởng thành cái của
rầy nâu nhỏ trên đồng ruộng. Trong năm 2013 chỉ có 2 tháng là tháng 6 và tháng 10 là
có số lượng trưởng thành đực rầy nâu nhỏ vào đèn cao hơn so với số lượng trưởng
thành cái rầy nâu nhỏ, số liệu này đồng nhất với kết quả điều tra tỷ lệ trưởng thành đực
trong điều kiện nhiệt độ 24
o
C (Park and Huyn, 1983).
Bảng 3.5. Nhịp điệu đẻ trứng của rầy nâu nhỏ L. striatellus
(tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2013)
Ngày đẻ trứng
Số lượng trứng đẻ trong một ngày
(trứng/ngày/cái)
t
o
C = 25
o
C, RH = 85% t
o
C = 30
o
C, RH = 85%
Ngày thứ 1 28,64 ± 1,26 28,68 ± 1,94
Ngày thứ 2 32,50 ± 1,34 33,42 ± 1,90
Ngày thứ 3 29,57 ± 1,94 22,42 ± 2,38
Ngày thứ 4 24,50 ± 2,05 11,00 ± 1,70
Ngày thứ 5 18,77 ± 2,33 7,79 ± 1,17
Ngày thứ 6 12,00 ± 1,70 6,38 ± 1,09
Ngày thứ 7 8,55 ± 1,07 4,33 ± 1,45
Ngày thứ 8 5,00 ± 0,80 0
Ngày thứ 9 3,33 ± 1,33 0
Ngày thứ 10 0 0
Tổng 154,07 ± 10,58 104,63 ± 7,95
n = 14 n = 19
Ghi chú: n - Số lượng cá thể cái theo dõi, thức ăn là giống lúa Bắc thơm số 7
Rầy non tuổi 5 174 8 4,60 95,40
Rầy trưởng thành 166 68,03
Ghi chú: Thức ăn là giống lúa Bắc thơm số 7
Thí nghiệm trong điều kiện nhiệt độ 25
o
C, ẩm độ 85%
12
Tỷ lệ nở của trứng trong điều kiện nhiệt độ 25
0
C, ẩm độ 85% của đề tài thấp
hơn so với kết quả của Phạm Hồng Hiển và cs. (2011), ở điều kiện nhiệt độ 29,69
0
C,
ẩm độ 65,78% tỷ lệ nở là 100%. Nhưng cao hơn so với kết quả theo dõi của Nguyễn
Đức Khiêm (1995), ở điều kiện nhiệt độ 24,9 – 26,4
o
C và độ ẩm 93 – 93,4% tỷ lệ nở
của trứng là 42,4%.
Bảng 3.7. Tỷ lệ sống ở các pha phát dục của RNN trong phòng thí nghiệm
(tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2013)
Pha phát dục (x)
Số cá thể
sống vào lúc
đầu của x (l
x
)
Số cá thể chết
trong khoảng
Hình 3.8. Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của rầy nâu nhỏ L. striatellus ở
nhiệt độ 25
0
C, ẩm độ 85% (tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2013)
Hệ số nhân (R
o
) một thế hệ của rầy nâu nhỏ ở điều kiện nhiệt độ 25
o
C, ẩm độ
85% và điều kiện 30
o
C, ẩm độ 85% nuôi trên giống lúa Bắc thơm số 7 giai đoạn bắt
đầu đẻ nhánh tương ứng là 52,07 và 32,9. Chỉ số này cao hơn rất nhiều so với hệ số
nhân (R
o
) của một thế hệ của rầy nâu trong điều kiện nhiệt độ 23
o
C - 33
o
C, ẩm độ 58%
- 90% là 10,02 (Win et al., 2011).
13
Hình 3.2. Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của rầy nâu nhỏ L. striatellus
ở nhiệt độ 30
o
C và ẩm độ 85% (tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2013)
3.2.3.2.Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của rầy nâu nhỏ L. striatellus
Từ kết quả bảng sống đã tính toán được giá trị các chỉ tiêu sinh học cơ bản của
So với giá trị các chỉ tiêu sinh học cơ bản của rầy nâu ở điều kiện nhiệt độ từ
23
o
C đến 33
o
C, ẩm độ từ 58% đến 90% cho thấy tỷ lệ tăng tự nhiên (r) của rầy nâu
nhỏ nuôi ở cả 2 điều kiện 25
o
C và 30
o
C, ẩm độ 85% trên giống lúa Bắc thơm số 7
đều cao hơn so với tỷ lệ tăng tự nhiên (r) của rầy nâu (đối với rầy nâu nhỏ chỉ số r
tương ứng là 0,1194 và 0,1294; mà của rầy nâu chỉ số r là 0,0677). Thời gian tăng
đôi quần thể (DT) của rầy nâu nhỏ lại ngắn hơn rất nhiều so với của rầy nâu (DT
của rầy nâu nhỏ ở 25
o
C là 5,81 ngày và 30
o
C là 5,36 ngày; DT của rầy nâu là 10,42)
(Win et al., 2011). Điều này cho thấy rầy nâu nhỏ có tiềm năng gia tăng quần thể
lớn hơn so với rầy nâu, một trong loài dịch hại quan trọng nhất của Việt Nam hiện
nay. Khi gặp điều kiện thuận lợi rầy nâu nhỏ rất dễ phát sinh thành dịch.
14
3.3. Đặc điểm sinh thái học của rầy nâu nhỏ L. striatellus
3.3.1. Diễn biến mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus trên đồng ruộng
3.3.1.1. Diễn biến mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus trên đồng ruộng năm 2012,
năm 2013
Trong năm 2012, tại Tân Lập, Yên Mỹ, Hưng Yên trên cả vụ lúa xuân và vụ
lúa mùa, rầy nâu nhỏ xuất hiện và gây hại từ giai đoạn lúa đẻ nhánh đến cuối vụ.
(tại xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)
Trong năm 2013, các tháng 1, tháng 2, tháng 11 và tháng 12 trưởng thành rầy
nâu nhỏ vào đèn thấp. Trong 8 tháng còn lại trưởng thành rầy nâu nhỏ hình thành 4 cao
điểm số lượng vào đèn, ứng vụ Xuân có 2 cao điểm và vụ mùa 2 cao điểm. Mật độ
trưởng thành rầy nâu nhỏ vào đèn của cao điểm 2 trong vụ (cao điểm 2, cao điểm 4
16
trong năm) luôn cao hơn cao điểm 1. Số lượng trưởng thành rầy nâu nhỏ vào đèn ở cao
điểm 1 trong mỗi vụ sớm hơn cao điểm mật độ trên đồng ruộng từ 7 đến 10 ngày và
cao điểm 2 sau cao điểm mật độ trên đồng ruộng từ 10 đến 15 ngày.
3.3.3. Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đến mật độ rầy nâu nhỏ L. stritellus
3.3.3.1. Ảnh hưởng của yếu tố chân đất đến mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus
Kết quả cho thấy mật độ rầy nâu nhỏ trên giống lúa Bắc thơm số 7 cấy ở các
chân đất khác nhau trong vụ Xuân năm 2013 là khác nhau (bảng 3.9)
Bảng 3.9. Mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus trên các chân đất
trong vụ Xuân 2013 (tại xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)
Ngày, tháng
điều tra
Mật độ rầy nâu nhỏ (con/m
2
)
trên lúa cấy ở các chân đất
CV % LSD
0,05
Cao Vàn Trũng
24/3 2,3
a
1,6
a
a
42,6 23,4
28/4 85,0
a
46,4
b
24,2
b
29,7 34,9
5/5 278,0
a
160,7
b
58,9
c
19,5 73,3
12/5 348,7
a
178,4
b
71,6
c
20,1 90,7
19/5 209,3
a
106,3
b
41,2
c
7,7 20,8
Trong vụ Mùa năm 2013, kết quả điều tra ảnh hưởng của yếu tố chân đất đến
mật độ rầy nâu nhỏ cũng tương tự như vụ Xuân 2013. Sự sai khác thể hiện rõ nhất ở
giai đoạn lúa trỗ đến giai đoạn lúa chín sữa.
3.3.3.2. Ảnh hưởng của giống lúa đến mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus
Kết quả thí nghiệm trên đồng ruộng cho thấy: trong 4 giống lúa thí nghiệm ở
vụ Xuân 2013 giống Bắc thơm số 7 và giống Thục hưng có mật độ rầy nâu nhỏ cao
hơn mật độ rầy nâu nhỏ trên giống TH3-3 và giống Khang dân 18. Sự sai khác này thể
17
hiện rõ nhất ở giai đoạn lúa trỗ đến chín sữa. Trong vụ Mùa 2013, giống lúa Nếp 9603
và giống Syn 6 nhiễm rầy nâu nhỏ hơn so với giống lúa TH 3-3 và giống Q5. Kết quả
đánh giá mức độ kháng nhiễm của giống lúa trên đồng ruộng phù hợp với kết quả đánh
giá trong phòng thí nghiệm.
3.3.3.3. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus
Kết quả thí nghiệm cho thấy mật độ cấy có ảnh hưởng đến mật độ rầy nâu nhỏ
xuất hiện trên đồng ruộng, đối với giống lúa Bắc thơm số 7 cấy tại xã Tân Lập, huyện
Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, khi cấy ở mật độ 30 đến 35 khóm/m
2
mật độ rầy nâu nhỏ
giảm xuống chỉ còn bằng 50 -70% so với mật độ rầy nâu nhỏ trên mật độ cấy 40
khóm/m
2
.
3.3.3.4. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến mật độ rầy nâu nhỏ L. striatellus
Liều lượng bón trên đồng ruộng có ảnh hưởng đến diễn biến mật độ rầy nâu nhỏ
trên đồng ruộng, ảnh hưởng này thể hiện rõ nhất ở giai đoạn giữa vụ lúa, khi rầy nâu
nhỏ có mật độ cao. Trong lượng đạm bón từ 77 kg N/ha đến 128 kg N/ha trên giống
Bắc thơm số 7, khi bón tăng lượng đạm thì mật độ rầy nâu nhỏ trên đồng ruộng tăng.
3.4. Phòng chống rầy nâu nhỏ L. striatellus
3.4.1. Nghiên cứu khả năng sử dụng giống lúa kháng rầy nâu nhỏ
TT
Tên Việt Nam Tên khoa học Họ
Mức độ
phổ biến
Bộ cánh cứng – Coleoptera
1
Bọ cánh cứng ngắn chân vàng
Paederus fuscipes Curtis
Staphylinidae +++
2
Bọ cánh cứng ngắn chân xanh
Paederus tamulus Erichson
Staphylinidae +
3 Bọ 3 khoang
Ophionea indica (Thunberg)
Carabidae
++
4 Bọ rùa đỏ
Micraspis discolor (Fabricius)
Coccinellidae
++
5 Bọ rùa chữ nhân
Coccinella transversalis Fabricius
Coccinellidae
+
6 Bọ rùa 8 chấm
Harmonia octomaculata (Fabricius)
+
15 Nhện linh miêu
Oxyopes javanus Thorell
Oxyopidae
++
16 Nhện lớn hàm to
Tetragnatha mandibulata (Walckenaer)
Tetragnathidae
+
Ghi chú: Mức độ phổ biến của các thiên địch:
- : Rất ít ( <10 % số điểm bắt gặp). + :Ít (11 – 20 % số điểm bắt gặp).
++ : Trung bình (21– 50 % số điểm bắt gặp). +++ : Nhiều ( >50 % số điểm bắt gặp).
3.4.2.2. Khả năng sử dụng bọ xít mù xanh C. lividipennis phòng chống rầy nâu nhỏ
a. Đặc điểm hình thái bọ xít mù xanh C. lividipennis
- Pha trứng: Trứng bọ xít mù xanh có hình ống, một đầu hơi tròn, một đầu
phẳng có nắp đậy. Khi mới đẻ trứng có màu trắng trong, gần nở có màu trắng đục, ở đầu
có nắp xuất hiện một đốm nhỏ có màu nâu đỏ.
- Pha bọ xít non: Bọ xít non bọ xít mù xanh gồm 4 tuổi. bọ xít non có hình elip,
hình dạng cơ thể gần giống với bọ xít trưởng thành, cơ thể bọ xít non phân thành 3
phần rõ rệt: đầu, ngực, bụng. Kích thước và màu sắc cơ thể thay đổi theo tuổi.
- Trưởng thành: Trưởng thành có hình elip, đầu và râu đầu có màu đen, hai đôi
cánh và các đôi chân có màu xanh lá cây. Phần đuôi cánh có màu nâu nhạt.
b. Đặc điểm sinh vật học của bọ xít mù xanh C. lividipennis
- Thời gian các pha phát dục bọ xít mù xanh C. lividipennis nuôi bằng trứng rầy
nâu nhỏ ở điều kiện nhiệt độ 25
0
C, ẩm độ 85% được trình bày tại bảng 3.12.
19
Hình 3.7. Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của bọ xít mù xanh
C. lividipennis nuôi bằng trứng rầy nâu nhỏ ở nhiệt độ 25
0
C, ẩm độ 85%
(tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2014)
- Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của bọ xít mù xanh C. lividipennis: Bảng 3.13 các
chỉ tiêu sinh học cơ bản của bọ xít mù xanh.
Ở điều kiện nhiệt độ 25
o
C và ẩm độ 85%, với thức ăn là trứng của rầy nâu nhỏ, hệ
số nhân một thế hệ của bọ xít mù xanh (R
o
) là 16,29, tỷ lệ tăng tự nhiên (r) của bọ xít
20
mù xanh là 0,091; thời gian của một thế hệ là 30 ngày; thời gian tăng đôi số lượng
quần thể (DT) là 7,6 ngày và chỉ số giới hạn tăng tự nhiên (
λ
) là 1,138.
Bảng 3.13. Chỉ tiêu sinh học cơ bản của bọ xít mù xanh C. lividipennis
(tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, 2014)
Chỉ tiêu Giá trị
Hệ số nhân của một thế hệ R
0
16,29
Thời gian một thế hệ tính theo đời con T (ngày) 30,29
Thời gian một thế hệ tính theo mẹ T
C
(ngày) 30,97
Thời gian tăng đôi quần thể DT (ngày) 7,60
cái bọ xít mù xanh ăn trung bình là 5,27 con/ngày, đối với trưởng thành đực bọ xít mù
21
xanh chỉ tiêu này chỉ là 3,73 con/ngày.
d. Khả năng khống chế quần thể rầy nâu nhỏ của bọ xít mù xanh
Tính khả năng kìm hãm quần thể rầy nâu nhỏ của bọ xít mù xanh dựa vào mô
hình một loài bắt mồi và một loài vật mồi đơn giản (simple one-predator-one prey
model) do Janssen và Sabelis xây dựng năm 1992. Kết quả tính toán cho thấy khi mật
độ quần thể rầy nâu nhỏ ban đầu là 10 con/m
2
và mật độ bọ xít mù xanh là 1 con/m
2
theo lý thuyết 1 bọ xít mù xanh sau 2,5 ngày ăn hết quần thể 10 rầy nâu nhỏ. Tương tự
nếu quần thể rầy nâu nhỏ ban đầu là 20; 30; 40 và 50 con/m
2
, thời gian quần thể rầy
nâu nhỏ bị 1 bọ xít mù xanh ăn hết tương ứng là sau 5,19 ngày; 8,11 ngày; 11,28 ngày
và 14,78 ngày.
e. Vai trò khống chế quần thể rầy nâu nhỏ của bọ xít mù xanh trên đồng ruộng
Để xác định khả năng kìm hãm số lượng quần thể rầy nâu nhỏ của bọ xít mù
xanh trên đồng ruộng, đề tài tiến hành điều tra diễn biến mật độ rầy nâu nhỏ và diễn
biến mật độ của bọ xít mù xanh trên đồng ruộng. Kết quả điều tra diễn biến mật độ bọ
xít mù xanh trên lúa trong vụ Xuân và vụ Mùa 2013 (hình 3.8 và hình 3.9).
Như vậy qua phương pháp tính theo lý thuyết và diễn biến mật độ bọ xít mù
xanh và mật độ rầy nâu nhỏ ngoài đồng ruộng trong vụ Xuân và vụ Mùa 2013 cho
thấy: bọ xít mù xanh có vai trò nhất định trong việc khống chế quần thể rầy nâu nhỏ và
thời gian khống chế không theo đúng như lý thuyết đã tính. Nguyên nhân là do trong
điều kiện tự nhiên, mối quan hệ giữa bọ xít mù xanh và rầy nâu nhỏ không giống với
mô hình lý thuyết một loài bắt mồi và một loài vật mồi đơn giản (simple one-predator-
10
ngày
14
ngày
Chế phẩm M.a 0,40 21,25
b
31,25
b
43,03
b
52,05
b
55.44
b
Chế phẩm M.a 0,60 31,25
a
43,75
a
53,09
a
63,01
a
68.95
a
Chế phẩm M.a 0,80 36,25
a
46,25
23
Từ kết quả nghiên cứu thử hiệu lực các loại thuốc bảo vệ thực vật trong phòng,
các thuốc trên được tiến hành thí nghiệm ngoài đồng ruộng, nhằm chọn ra thuốc có
hiệu lực trừ rầy nâu nhỏ cao. Kết quả thí nghiệm được trình bày tại bảng 3.15.
Bảng 3.15. Hiệu lực trừ rầy nâu nhỏ của một số loại thuốc hóa học trong vụ Xuân
2013 (tại xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)
Số
TT
Công thức
Liều
lượng
(kg,l/ha)
Hiệu lực của thuốc sau xử lý (%)
1 ngày 3 ngày 7 ngày 10 ngày
1 Bassa 50 EC 2,00 58,80
a
77,61
a
78,73
a
73,72
ab
2 Penalty gold 50 EC 1,50 46,91
b
67,74
ab
81,03
a
6 Conphai 10 WP 0,40 35,86
c
51,58
cd
64,50
b
63,96
ab
LSD
0,05
8,7 10,2 9,7 16,4
CV% 10,7 9,2 7,2 12,5
Ghi chú: Trong phạm vi cùng một cột, các giá trị mang các chữ cái khác nhau chỉ sự
sai khác có ý nghĩa ở mức xác suất P<0,05,
Như vậy, 4 loại thuốc Bassa 50 EC, Penalty gold 50 EC, Dantotsu 16 SG và
Chess 50 WG luôn có hiệu lực trừ rầy nâu nhỏ cao, có thể sử dụng trong phòng chống
rầy nâu nhỏ gây hại trên cây lúa tại tỉnh Hưng Yên.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
1) Tại Hưng Yên, trong vòng 5 năm trở lại đây mức độ gây hại của rầy nâu nhỏ
Laodelphax striatellus (Fallén) ngày một tăng. Trong cả hai vụ lúa (vụ lúa Xuân và vụ
lúa Mùa), rầy nâu nhỏ phát sinh gây hại trên lúa cùng với rây nâu và rầy lưng trắng. Ở
đầu mỗi vụ rầy nâu nhỏ xuất hiện và gây hại muộn hơn so với rầy nâu và rầy lưng
trắng, giai đoạn lúa trỗ đến chín sữa rầy nâu nhỏ chiếm tỷ lệ cao hơn so với rầy nâu và
rầy lưng trắng, các giai đoạn khác rầy nâu nhỏ chiếm tỷ lệ thấp hơn.
2) Khi nuôi trên giống Bắc thơm số 7 ở hai nhiệt độ 25
o
C và 30