3PB 3PB
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
H
oạt động truyền thông
Khoa học và Công nghệ
(KH&CN) là lĩnh vực khá
mới mẻ, mới được xuất hiện trong
mấy năm trở lại đây, nhất là từ khi
Đảng và Nhà nước ta coi phát triển
KH&CN là quốc sách hàng đầu,
là động lực then chốt để phát triển
nhanh và bền vững, điều này đã
được khẳng định tại Nghị quyết 20-
NQ/TW của BCHTW Đảng khóa
XI về phát triển KH&CN phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;
Luật KH&CN năm 2013 và Chiến lược phát
triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020.
Tỉnh Lai Châu, hoạt động truyền thông
KH&CN cũng mới được chú trọng và coi
đây là một phần nhiệm vụ quan trọng của
hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh. Trong
những năm qua hoạt động truyền thông
KH&CN đã được quan tâm đầu tư về cơ sở
vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, tăng cường
tiềm lực, kinh phí phục vụ công tác, nhờ đó
các ấn phẩm thông tin KH&CN ngày càng
được nâng cao về số lượng và chất lượng
đáp ứng được nhu cầu cho mọi tầng lớp
Hội nghị CTV nâng cao chất lượng Thông tin KH&CN năm 2014.
54 54
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
đóng góp cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Hoạt động này của Sở KH&CN Lai Châu
được đẩy mạnh với ấn phẩm báo in là Thông
tin KH&CN, Thông tin chọn lọc Kinh tế -
xã hội, Thông tin công nghệ phục vụ doanh
nghiệp, Thông tin KH&CN phục vụ nông
nghiệp - nông thôn; Báo điện tử: trang thông
tin điện tử KH&CN, Chuyên mục Khoa hoc
và đời sống trên Đài Phát thanh - Truyền
hình tỉnh chất lượng các ấn phẩm và kênh
truyền thông đang ngày càng được nâng cao
đã góp phần đưa những chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
KH&CN đến với bạn đọc, với mọi tầng lớp
nhân dân, thông qua đó các tổ chức, cá nhân,
doanh nghiệp đã chủ động trong việc thực
hiện các chủ trương, chính sách về KH&CN
và quan trọng hơn là nhận thức về KH&CN
của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý, cán
bộ và nhân dân có sự chuyển biến rõ nét về
vai trò KH&CN trong sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên hoạt động truyền thông vẫn
còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, cụ thể số
lượng biên chế cho hoạt động truyền thông
còn quá ít so với nhiệm vụ trong giai đoạn
hiện nay; trình độ chuyên môn đào tạo của
một số viên chức chưa phù hợp nên trong
phục vụ đời sống và sản xuất, phục vụ quá
trình CNH, HĐH đất nước; đồng thời chú ý
suy tôn những thành tựu KH&CN ứng dụng
thiết thực vào đời sống và biểu dương, cổ vũ
các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương
người tốt, việc tốt trong lĩnh vực KH&CN
và nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và
tác dụng của KH&CN trong phát triển KT-
XH.
Hoạt động truyền thông KH&CN cần
tiếp tục nâng cao chất lượng các bài viết bảo
đảm tính khoa học; phản ánh kịp thời những
vấn đề người dân đang quan tâm; nâng cao
tính phản biện khoa học; tổ chức lại các
chuyên mục của các ẩn phẩm, trang thông
tin điện tử; tăng cường số chuyên mục Khoa
học và đời sống trên đài phát thanh - truyền
hình tỉnh.
Nâng cao trình độ lực lượng tham gia
54 54
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
truyền thông KH&CN: Tổ chức cho cán bộ
làm công tác truyền thông KH&CN tham gia
các lớp tập huấn về truyền thông KH&CN
và các lĩnh vực KH&CN để có nhận thức
đúng, đầy đủ và am hiểu sâu về KH&CN,
nhằm viết đúng, viết đủ và viết tốt; đặc biệt
tập huấn về công tác truyền thông cho cộng
tác viên của ngành để tăng cường nguồn lực
cho hoạt động truyền thông KH&CN; hỗ
thông, trường chuyên nghiệp, các sở, ban
ngành, các huyện, thành phố nhằm thúc
đẩy sự hợp tác giữa các nhà khoa học với
học sinh, sinh viên, nhà quản lý, cán bộ làm
công tác khoa học. Đặc biệt, hình thành các
mô hình nơi sinh hoạt, giao lưu giữa các
nhà khoa học với công chúng, họ đến để
trao đổi các thông tin KH&CN hoặc dự
các buổi nói chuyện về lĩnh vực KH&CN
chuyên sâu.
Hàng năm, tổ chức Hội nghị cộng tác
viên để đánh giá kết quả truyền thông
KH&CN, tổng kết, khen thưởng các bài báo
được đăng trên các báo, tạp chí có nội dung
về KH&CN điển hình, tiên tiến, đồng thời
định hướng hoạt động trong giai đoạn tiếp
theo cho các cộng tác viên. Phối hợp với
các sở, ban, ngành, huyện, thành phố và cơ
quan thông tấn, báo chí trên địa bàn tỉnh tổ
chức tuyển chọn các tác phẩm báo chí về
KH&CN địa phương tham gia “Giải thưởng
Báo chí về khoa học và công nghệ”, nhằm
ghi nhận, tôn vinh những người làm công
tác truyền thông KH&CN tạo điều kiện cho
các cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác
truyền thông KH&CN của sở nói riêng và
các nhà báo tỉnh Lai Châu nói chung có cơ
hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm tuyên
truyền về KH&CN.
Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức, nội
án nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ trong điều kiện khó khăn cũng đã có
những đóng góp nhất định: Lĩnh vực Khoa
học xã hội và nhân văn, Khoa học tự nhiên
đã cung cấp các luận cứ khoa học cho hoạch
định chính sách ở một số ngành, lĩnh vực
của tỉnh; Lĩnh vực Nông lâm nghiệp đã ứng
dụng chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật đối
với cây trồng (lúa tẻ râu Phong Thổ, lúa
khẩu ký, nếp tan ở Tân Uyên), vật nuôi (cá
tầm, lợn lạc Tam Đường) những tiến bộ về
giống, kỹ thuật thâm canh được chuyển giao
góp phần không nhỏ làm tăng năng suất,
chất lượng sản phẩm nông sản đã đóng góp
thiết thực cho các mục tiêu kinh tế - xã hội
của các huyện, thành phố.
Để không ngừng nâng cao hiệu quả
nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ trong thời gian tới ngoài việc bám sát
mục tiêu chiến lược khoa học và công nghệ
của tỉnh đến năm 2020; Mục tiêu, chương
trình phát triển kinh tế - xã hội của các cấp
thì cần hiểu đúng vai trò của huyện, thành
phố trong hoạt động nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ. Vì huyện, thành
phố là nơi giải quyết những vấn đề như:
Nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
gì? Nghiên cứu, chuyển giao cho cá nhân,
tổ chức và thời gian nào? Ai là người nghiên
cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật? Đây cũng
học. Chẳng hạn việc xác định các giống lúa
bản địa có giá trị kinh tế cao đang dần bị
thoái hóa, dần mất đi đặc tính di truyền ban
đầu, như Khẩu Ký, Nếp Tan, Tẻ Râu cần
phải phục tráng bảo tồn, vấn đề này chỉ có
huyện mới phát hiện được. Như vậy, việc
xác định vấn đề nghiên cứu, các tiến bộ kỹ
thuật người dân đang cần được chuyển giao
thì lãnh đạo huyện, phòng chuyên môn của
huyện sẽ nắm rõ hơn và đưa ra các đề xuất
nhiệm vụ KH&CN với UBND tỉnh thông
qua Sở Khoa học và Công nghệ. Cách làm
này đúng với tinh thần đổi mới của Luật
Khoa học và Công nghệ năm 2013 nhằm
tối ưu gắn mục tiêu nghiên cứu ứng dụng
chuyển giao với thực tiễn cuộc sống tránh
tình trạng kết quả sau khi nghiệm thu không
đến được nơi cần ứng dụng.
Vấn đề cá nhân, tổ chức nào đang cần
kết quả nghiên cứu, tiến bộ kỹ thuật, và cần
vào thời gian nào? Khi một vấn đề nghiên
cứu, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ được xác
định việc chọn địa điểm, đối tượng để triển
khai cũng như thời điểm thực hiện là những
yếu tố quan trọng tác động đến thành công
của hoạt động nghiên cứu và chuyển giao
công nghệ. Như đã đề cập ở nội dung trên
cấp huyện là cấp tiếp xúc trực tiếp cơ sở nên
nắm vững địa bàn, nắm vững những nơi có
điều kiện đáp ứng với nội dung nghiên cứu,
gười xưa thường có câu “buôn có
bạn, bán có phường”, quả thực khi
chúng ta xây dựng vùng chuyên
canh thì sẽ tạo thế cạnh tranh rất cao, vì ở đó
hội tụ đầy đủ những thế mạnh như tạo dựng
được thương hiệu sản phẩm, chất lượng sản
phẩm, chuỗi giá trị khép kín tránh lãng phí,
qua đó công nghệ cũng được áp dụng có hệ
thống hiệu quả hơn, tạo ra nhiều sản phẩm
hơn so với nơi khác, vì vậy tất yếu giá thành
sẽ thấp hơn, nên có sức cạnh
tranh cao hơn, dành lợi
thế thị trường cho sản
phẩm.
HTX Đốm lửa:
là loại hình kinh tế
tập thể kiểu mới, do
những người lao động
và các tổ chức có nhu
cầu, lợi ích chung tự nguyện
góp vốn, góp sức lập ra theo quy định
của pháp luật để phát huy sức mạnh của
tập thể và của từng xã viên, ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, gắn với vùng chuyên
canh, xây dựng thương hiệu sản phẩm
nhằm giúp nhau thực hiện hiệu quả hơn các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh.
Đó là tổ chức lại các hợp tác xã theo hình
Nhiệm vụ HTX, xã viên: Các HTX sẽ
quyết định việc mình sẽ kinh doanh, sản
xuất theo hướng nào trên cơ sở Nhà nước
cung cấp, tư vấn thông tin đầy đủ (mỗi loại
hình sẽ có phương án riêng).
Dựa vào thị trường để điều chỉnh cơ cấu
nuôi trồng, hình thành các vùng phát triển
nông sản đặc sản, phát triển nông nghiệp đặt
hàng.
Phương án góp vốn và góp sức:
Tất cả các hộ gia đình trong xã đều được
cử 01 đại diện tham gia theo tiêu chí (nhiệt
tình, yêu lao động, đủ sức khỏe). Góp sở
hữu về tư liệu sản xuất tự nguyện góp vốn,
góp sức lao động, trí tuệ, kinh nghiệm kinh
doanh tham gia vào hợp tác xã.
Theo mô hình này, kinh tế tập thể hợp tác
Hợp tác xã kiểu mới
Dương Đình Đức
Đốm lửa -
98 98
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
xã không đối lập với kinh tế tư nhân mà là sự
liên kết, hợp tác giữa các hình thức sở hữu,
các quyền sử dụng đất đai, tài sản, vốn, sức
lao động với hình thức tổ chức thích hợp,
sản xuất tập trung; làm dịch vụ đầu vào, đầu
ra, gia công một số công đoạn trong quy
trình sản xuất và canh tác, giúp hộ xã viên
giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng các
xã viên đi đôi với việc xã viên sử dụng sản
phẩm, dịch vụ của hợp tác xã. Đây là bản
chất kinh tế rất quan trọng làm cho hợp tác
xã phát triển bền vững.
Trong mối quan hệ giao dịch với hợp tác
xã, xã viên cần nhận thấy được những lợi
ích, những ưu điểm tích cực từ việc tham
gia hợp tác xã. Thất bại trong việc nhận
diện các lợi ích khi tham gia hợp tác xã sẽ
dẫn tới hiện tượng xã viên thiếu niềm tin và
thiếu trung thành khi giao dịch với hợp tác
xã. Chất lượng hoạt động của hợp tác xã và
thành công về mặt kinh tế đều phụ thuộc vào
mối quan hệ giao dịch giữa xã viên và hợp
tác xã.
Việc phân phối lợi nhuận của hợp tác xã
cho xã viên thuần túy theo vốn góp có thể
làm xói mòn tinh thần hợp tác, đề cao tư
tưởng lợi nhuận, dễ biến hợp tác xã thành
mô hình doanh nghiệp, công ty cổ phần.
Lúc này, hợp tác xã không còn có lợi thế
riêng trong việc khuyến khích tinh thần
hợp tác trong cộng đồng.
Một phần lợi nhuận trong hợp tác xã
dùng để trích lập các quỹ, được phân chia
cho việc đáp ứng nhu cầu giáo dục, huấn
luyện, thông tin cho xã viên, đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt văn hóa - xã hội chung của
cộng đồng dân cư địa phương … Một phần
lợi nhuận khác cần được phân phối lại cho
trợ, hay hoạch toán kinh tế đối với loại hình
này. Kinh tế hợp tác, bước đầu tạo dựng sản
phẩm ở những nơi còn gặp nhiều khó khăn
về tài chính, giao thông và thị trường, là
bước đệm để các cá nhân cùng phát triển.
Một thực tế cho chúng ta thấy do không
có người đứng ra làm tổ chức và cam kết các
thành viên với nhau mà mô hình thường gọi
là “phường, hội, hụi” vẫn tồn tại trong dân,
họ tự nguyện đóng góp tài chính để phục vụ
cá nhân cần và chịu khoản phí lãi suất. Tuy
nhiên loại hình này không được xã hội thừa
nhận do không có tính pháp lí, nên thường
xẩy ra vụ “vỡ hội, hụi”. Chính lẽ đó loại hình
kinh tế hợp tác là bước kiến tạo năng lực cho
các thành viên sử dụng hiệu quả nguồn lực,
san sẻ trách nhiệm cộng đồng, cùng nhau
phát triển, ở đó nó thể hiện đầy đủ vai trò
của nhà nước, tổ chức và các xã viên.
Với việc đầu tư phát huy mô hình hợp
tác xã “Đốm lửa” gắn với việc ứng dụng
tiến bộ KH&CN tạo vùng chuyên canh,
xây dựng thương hiệu tại Lai Châu phù hợp
trong giai đoạn phát triển mới. Mô hình
hợp tác xã chắc chắn sẽ đảm đương vai trò
tốt hơn, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông
thôn trong tỉnh.
hàng nên trong Hội đồng tư vấn khoa học và
công nghệ không thể thiếu được tiếng nói
ở cơ sở (đơn vị đặt hàng) đó là các huyện,
là công cụ để điều hành quản lý giúp
các cá nhân, tổ chức đưa ra quyết
định phù hợp và đúng lúc. Thông tin
KH&CN cũng là phương tiện hữu
hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết
giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn
cung cấp tri thức mọi lĩnh vực cho
công chúng, là nguồn lực để phát
triển kinh tế - xã hội.
Thông tin KH&CN được xem
là một dạng nguồn lực quan trọng
mang tính chiến lược trong xã hội hiện đại.
Việc phát hiện và vận dụng nguồn lực thông
tin KH&CN sẽ trở thành sức mạnh quan
trọng thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế,
xã hội. Hiện nay, nguồn thông tin KH&CN
không chỉ cung cấp cho chúng ta tri thức để
nhận biết và nắm bắt quy luật phát triển kinh
tế, xã hội mà còn khơi dậy khả năng sáng tạo
của con người.
Thông tin KH&CN là một hoạt động quan
trọng và thiết yếu không chỉ đối với nghiên
cứu khoa học, vai trò, chức năng và tác dụng
của nó ngày càng được thể hiện rõ trong tất cả
các mặt đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực
phát triển kinh tế, quản lý giáo dục.
Nguồn thông tin KH&CN là một nguồn tri
thức không bị hao mòn, tổn thất khi sử dụng,
khi chuyển giao tri thức cho người khác,
người sở hữu tri thức vẫn còn giữ nguyên tri
ra của cải vật chất mới, nâng cao chất lượng
cuộc sống và phát triển xã hội.
Trình độ công nghệ phải thích hợp, ví dụ
như chúng ta không thể đem những công trình
nghiên cứu không gian ra ứng dụng trong môi
trường sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Xác định thông tin KH&CN là chìa khóa
của mọi hoạt động sáng tạo, là yếu tố thiết yếu
của năng lực đổi mới, cạnh tranh và phát triển
của mỗi cá nhân, tập thể và của toàn xã hội,
nên nguồn thông tin KH&CN có những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
Phục vụ hoạt động lãnh đạo quản lý gắn liền
với thông tin. Thông tin được các nhà lãnh đạo
quản lý xem như là hệ thần kinh của hệ thống
quản lý. Thông tin cung cấp tin tức để ra quyết
định quản lý, thông tin được truyền đi như các
thông điệp để thực hiện quyết định quản lý.
Thông tin có mặt và tác động đến tất cả các
khâu của quá trình lãnh đạo quản lý. Vấn đề
thu thập thông tin là một trong những công cụ
cơ bản để mở rộng tầm nhìn cho nhà lãnh đạo.
Vì vậy, việc thu thập, xử lý, đánh giá, sử dụng
thông tin có hiệu quả là một trong những đặc
điểm chủ yếu của công tác lãnh đạo, quản lý.
Nguồn thông tin KH&CN được thu thập,
xử lý, tổng hợp chính xác, đúng lúc đúng
đối tượng giúp nhà lãnh đạo quản lý tốt một
doanh nghiệp, để công việc được chạy đều
thuận lợi, tránh được các rủi ro, và nguồn
và phát triển công nghệ từ các tổ chức nghiên
cứu và phát triển, các đơn vị khoa học để phục
vụ các nhà khoa học trong công tác nghiên
cứu triển khai, nó giúp các nhà nghiên cứu
tránh trường hợp nghiên cứu trùng lặp hoặc
kế thừa được thành quả nghiên cứu của người
khác để phát triển ở tầm mức cao hơn.
Để phục vụ hoạt động nghiên cứu triển
khai cần phải xây dựng được hệ thống các cơ
sở dữ liệu thông tin KH&CN bao gồm đầy
đủ các đầu sách, báo, tạp chí, báo cáo kết quả
nghiên cứu, công trình nghiên cứu khoa học.
Do vậy hệ thống thông tin cần được cập nhật
có hệ thống và duy trì lâu dài.
1312 1312
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
H
uyện Tân Uyên
vừa được Cục Sở
hữu trí tuệ (Bộ
Khoa học và Công nghệ)
cấp giấy chứng nhận nhãn
hiệu “Tanuyentea”. Đây
là nhãn hiệu chứng nhận
đầu tiên trên địa bàn tỉnh được công nhận đã
tạo niềm tin cho các tổ chức, doanh nghiệp và
người dân sản xuất và kinh doanh chè trên địa
bàn huyện Tân Uyên.
Biểu tượng nhãn hiệu chứng nhận
“Tanuyentea” có đặc điểm dễ nhận biết với
các đơn vị như Viện Thổ nhưỡng Nông hóa
và UBND huyện Tân Uyên cùng các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh chè của
huyện thực hiện dự án “Xây dựng và quản lý
nhãn hiệu chứng nhận “Tanuyentea” dùng cho
các sản phẩm chè của huyện Tân Uyên tỉnh
Lai Châu” hơn 2 năm qua.
Thực tế trong nhiều năm qua, các sản
phẩm chè chủ lực của huyện Tân Uyên như
trà xanh ướp hương nhài, trà xanh, trà Olong,
trà Sencha các sản phẩm được quản lý, đầu
tư và hướng dẫn quy trình chặt chẽ từ khâu
chăm sóc, quản lý dịch hại tổng hợp, hái đúng
quy trình kỹ thuật đến khâu chế biến đã tạo
ra các sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất. Sản
phẩm của huyện đã xuất khẩu sang thị trường
các nước Pakistan, Ấn Độ, Đài Loan và
Niềm tin từ nhãn hiệu
chứng nhận “Tanuyentea”
Phạm Loan
Lễ Công bố nhãn hiệu chứng nhận “”Tanuyentea”.
1514 1514
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong
và ngoài tỉnh. Bên cạnh đó theo đề án phát
triển cây chè của tỉnh Lai Châu và của huyện
Tân Uyên thì diện tích cây chè đang và đã
được mở rộng, đặc biệt là các giống chè có
chất lượng cao nhằm tăng sản lượng và giá trị
kinh tế cho cây chè.
khuyến khích và tạo mối quan hệ chặt chẽ
giữa chủ sở hữu nhãn hiệu, cơ quan quản lý
và những đối tượng sử dụng tại địa phương”.
Ý nghĩa với huyện đã được Ông Nguyễn
Thanh Hải - Chủ tịch UBND huyện Tân
Uyên chia sẻ “Việc được chứng nhận nhãn
hiệu giúp cho địa phương có nhiều thuận lợi
đặc biệt là giúp với người dân, các tổ chức
sản xuất chè thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ
sang sản xuất hàng hóa gắn với quy trình kỹ
thuật tiên tiến đảo bảo yêu cầu khắt khe của
thị trường. Đồng thời giúp chính quyền địa
phương nâng cao vai trò quản lý nhà nước
trên địa bàn, có trách nhiệm và quyết tâm
hơn trong việc tổ chức mở rộng sản xuất,
quản lý quy trình thâm canh, chế biến và tiêu
thụ sản phẩm gắn với hình thành và phát triển
thương hiệu chè Tân Uyên”.
Việc xây dựng nhãn hiệu chứng nhận
“Tanuyentea” đã khó, gìn giữ và phát huy
lại càng khó hơn. Bởi việc xây dựng và phát
triển nhãn hiệu là một quá trình liên tục, bền
bỉ để đảm bảo duy trì được chất lượng, số
lượng và sức sống của nó trên thị trường. Vì
vậy theo ông Vũ Ngọc An “Sự thành công chỉ
có được khi các nhà sản xuất tham gia và sẵn
sàng sử dụng nhãn hiệu chứng nhận để làm
tăng giá trị cho sản phẩm chè góp phần khẳng
định thương hiệu chè sạch có uy tín trong thị
trường người tiêu dùng”. Bên cạnh đó cần xác
Lai Châu.
Đánh giá về việc
phát triển cao su tại
Lai Châu các đại
biểu cho rằng, cây
cao su là cây có giá
trị kinh tế cao và là
cây đa mục đích.
Nếu phát triển tốt,
đúng hướng cây
vừa cho giá trị kinh
tế, vừa giải quyết
vất đề xã hội và
vấn đề môi trường.
Tuy nhiên tại Hội nghị các đại biểu cũng chỉ
ra những khó khăn thách thức trong việc phát
triển cao su tại vùng Tây Bắc nói chung và tỉnh
Lai Châu nói riêng là không phải là vùng truyền
thống phát triển cây cao su, lại có địa hình đồi
núi cao, khí hậu khắc nghiệt.
Vùng cao su Tây Bắc tập trung tại các tỉnh
Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai và Yên
Bái. Với quy hoạch phát triển thí điểm là 50
nghìn ha, trong đó Lai Châu hiện đã trồng
được trên 12.500 ha cây cao su, tập trung ở
vùng thấp các huyện Sìn Hồ, Phong Thổ, Nậm
Nhùn, dọc theo triền Sông Đà và 2 con sông:
Nậm Na và sông Nậm Mu.
Trong thời gian Hội nghị các nhà khoa học
đã thảo luận về các nội dung: Đưa ra những
loại cây thuốc, cây dược liệu quý vừa mang
lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Ông
cũng đề nghị tỉnh chỉ nên phát triển theo quy
hoạch và phải có cơ sở sơ chế tại chỗ.
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung sau khi so
Lai Châu có thể yên tâm để tiếp tục phát triển
cây cao su ở các vùng đã quy hoạch
Trọng Thiện
Toàn cảnh Hội nghị.
(Xem tiếp trang 24)
1716 1716
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
C
ông tác thống kê khoa học và công
nghệ (KH&CN) có tầm quan trọng
đặc biệt và nhận được sự quan tâm
của mọi quốc gia phát triển, đang phát triển
cũng như các tổ chức quốc tế. Tổ chức
OECD có riêng một đơn vị làm thống kê
KH&CN và đổi mới, là tổ chức tiên phong
về phương pháp luận thống kê KH&CN
hiện đại. UNESCO có Viện nghiên cứu về
thống kê, trong đó có một đơn vị chuyên
trách về thống kê KH&CN với các chương
trình nghiên cứu, phát triển phương pháp
luận định hướng ứng dụng cho các nước
đang phát triển.
Ở Việt Nam, ngoài hệ thống thống kê
tập trung thì việc xây dựng hệ thống thống
kê ngành về KH&CN đã được xác định là
KH&CN (01 cuộc). Công tác báo cáo thống
kê KH&CN cơ sở đã được thực hiện từ năm
2012, và có thể nhận thấy rõ một điều là chất
lượng thông tin, số liệu của các báo cáo càng
được nâng cao. Kết quả đợt điều tra thống
kê khoa học năm 2014 cho thấy: Hầu hết
các đơn vị đều gửi biểu mẫu đúng hạn, nhiệt
tình tìm kiếm thông tin, số liệu điền vào
biểu mẫu. Đặc biệt, nhiều đơn vị gửi sớm
hoặc thường xuyên trao đổi với Trung tâm
để hoàn thiện biểu mẫu một cách chính xác
như: Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên môi
trường; Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ
phẩm, thực phẩm; Chi cục Kiểm lâm tỉnh;
Trung tâm Khuyến nông tỉnh, trường Cao
đẳng Cộng đồng,… Đây là một kết quả đáng
mừng, thể hiện nhận thức và trách nhiệm
của các đơn vị đối với công tác thống kê
KH&CN đã được nâng lên, từ đó, số liệu
báo cáo thống kê cũng được đầy đủ và chính
Thống kê KH&CN –
Những vấn đề cần quan tâm
Thanh Huyền
1716 1716
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
xác hơn. Đó cũng chính là điều mà những
người làm công tác thống kê mong muốn
có được những con số không “ảo”, không
chênh lệch, không sai sót.
Tuy nhiên, qua các đợt thống kê đã triển
động thống kê KH&CN một cách hệ thống
và bài bản; quy định của nhà nước về tài
chính không có nội dung chi cho công tác
thống kê; sự quan tâm của các tổ chức đối
với công tác thống kê KH&CN còn hạn chế;
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt
động thống kê còn chưa nhiều, hiện nay
chưa có phần mềm quản lý chuyên ngành và
phần mềm thống kê chuyên ngành KH&CN.
Thống kê KHCN là một nhiệm vụ quan
trọng, đặc biệt là trong giai đoạn cả nước
đang nỗ lực, phấn đấu hướng tới sự phát
triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công
tác thống kê nhằm đánh giá tiềm lực của địa
phương và có thể định hướng, hoạch định
chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển
KH&CN trong các giai đoạn tiếp theo. Như
vậy, với vai trò là hoạt động nhằm cung cấp
thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều
hành; là một trong những cơ sở quan trọng
để hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển ngành KH&CN, công tác
thống kê KH&CN đòi hỏi phải được xây
dựng, tổ chức thực hiện một cách bài bản,
khoa học và phát triển theo hướng hiện đại
và hội nhập quốc tế. Đồng thời, nhằm nâng
cao tính pháp lý và việc chấp hành đầy đủ
của các doanh nghiệp, các tổ chức tại địa
phương, UBND tỉnh cần ban hành văn bản
chỉ đạo về tổ chức báo cáo và thống kê khoa
công nghiệp của tỉnh phát triển.
Khoa học và công nghệ
hỗ trợ Doanh nghiệp đổi mới
công nghệ
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh
nghiệp cần đổi mới công nghệ, áp dụng công
nghệ sản xuất tiên tiến, ứng dụng rộng rãi các
tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp
và tập trung đầu tư ứng dụng công nghệ mới,
công nghệ thích hợp góp phần đẩy mạnh phát
triển sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng
một số sản phẩm có thế mạnh của tỉnh.
Trong những năm qua, việc đầu tư đổi
mới công nghệ phục vụ sản xuất công nghiệp
trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến
tích cực. Các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến và
sản xuất chè, sản xuất miến dong đã mạnh
dạn đầu tư áp dụng công nghệ mới, nâng cao
chất lượng sản phẩm. Công ty
TNHH Chè Lai Châu (Công
ty TNHH chè Tam Đường cũ)
đã đầu tư hơn 2 tỷ đồng mua
máy tách màu chè. Máy hoạt
động theo cơ chế dùng hệ thống
camera phân biệt màu sắc và các van khí để
bắn toàn bộ: Cậng, bồm, tạp chất ra khỏi chè
và cho ra sản phẩm chè sạch. Máy tách màu
chè được ứng dụng vào hệ thống phân loại có
hiệu quả trong việc tách cậng, tạp chất, khắc
quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp
trong tỉnh đã nâng cao ý thức về quyền sở hữu
công nghiệp. Nhiều cơ sở sản xuất trong tỉnh
đã thực hiện việc ghi nhãn đúng quy định;
công bố tiêu chuẩn chất lượng, hàng hóa có
nhãn không đúng quy định đã giảm nhiều so
với những năm trước. Đặc biệt từ năm 2004
đến năm 2014, nhiều cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh đã quan tâm tới vấn
đề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Một số nhãn
hiệu hàng hóa/dịch vụ được Cục Sở Hữu trí
tuệ cấp chứng nhận bảo hộ, như: Nhãn hiệu
“Tutéa”của Công ty Cổ phần trà Than Uyên;
nhãn hiệu “Rượu Mông kê ” của HTX Sùng
Phài; nhãn hiệu “Công ty TNHH Thương
mại Châu Tuấn” của Công ty TNHH Châu
Tuấn; nhãn hiệu “Miến dong Bình Lư” của
HTX Nông nghiệp Hoa Vân; nhãn hiệu “Chè
tuyết san Tam Đường Lai Châu” của Doanh
nghiệp tư nhân chế biến chè San và nhãn
hiệu “Phương Thanh” của khách sạn Phương
Thanh… Và gần đây nhất UBND huyện Tân
Uyên đã được Cục Sở Hữu trí tuệ cấp Chứng
nhận nhãn hiệu chứng nhận “Tanuyentea”,
đây là một cơ hội cho các doanh nghiệp sản
xuất và kinh doanh chè trên địa bàn huyện có
bước phát triển mới. Nhìn chung, các cơ sở
sản xuất, kinh doanh đã thực hiện tốt các quy
định về quyền sở hữu công nghiệp.
sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, đăng ký xác
lập quyền sở hữu trí tuệ; công bố tiêu chuẩn
cơ sở; công bố hợp quy, công bố hợp chuẩn
nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Cùng với chính sách hỗ trợ của tỉnh các doanh
nghiệp cũng cần chủ động hơn trong việc tìm
nguồn để đầu tư đổi mới công nghệ, xây dựng
và phát triển thương hiệu, có như thế doanh
nghiệp mới tồn tại và phát triển được trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2120 2120
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
T
hực hiện Chỉ thị số 04/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ về việc tăng
cường quản lý sản xuất, kinh doanh
và sử dụng mũ bảo hiểm khi tham gia giao
thông, Công điện số 659/CĐ-BKHCN của
Bộ Khoa học và Công nghệ. Thực hiện ý
kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, Đoàn thanh
tra liên ngành do ban ATGT tỉnh chủ trì đã
được thành lập để tổ chức triển khai thực
hiện việc thanh tra, kiểm tra đối với các cơ
sở nhập khẩu, kinh doanh về chất lượng mũ
bảo hiểm, sự phù hợp của sản phẩm hàng
hóa với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn
công bố áp dụng. Đoàn gồm các thành viên
thuộc các Sở: Khoa học và Công nghệ, Công
an , Công thương. Đồng thời tại các huyện,
cơ sở tại huyện Than Uyên) đang trưng bày,
bán mũ bảo hiểm của các nhãn hàng Index,
Andes, Amoro, hàng hóa có nhãn hiệu bằng
tiếng nước ngoài nhưng không có nhãn phụ
bằng tiếng Việt Nam, không rõ nguồn gốc
xuất xứ, không đảm bảo chất lượng và phù
hợp với quy chuẩn kỹ thuật; đình chỉ lưu
thông và buộc khắc phục về nhãn hàng chục
chiếc mũ vi phạm về nhãn mác hàng hóa.
Đợt thanh tra này còn nhận được sự đồng
tình, ủng hộ của người dân nên bước đầu
công tác thanh, kiểm tra chất lượng mũ bảo
hiểm đã đạt được một số kết quả nhất định,
tạo bước chuyển biến về nhận thức, ý thức
và hành động của các cơ sở kinh doanh, bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, tăng cường
hiệu lực quản lý nhà nước về chất lượng sản
phẩm hàng hóa trên địa bàn tỉnh.
Thời gian tới, để quản lý tốt chất lượng
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng
mũ bảo hiểm trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Quốc Huy
2120 2120
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU
mũ bảo hiểm, các cơ quan chức năng tập
trung thực hiện một số biện pháp, đó là:
Tăng cường thanh tra, kiểm tra chất lượng
mũ bảo hiểm, ngăn chặn kịp thời không cho
các loại mũ không rõ nguồn gốc, mũ không
có dấu hợp quy, mũ không đảm bảo chất
chúng, chủ yếu được thực hiện qua các
phương tiện ấn phẩm, kênh truyền hình còn
phương thức diễn đàn, triển lãm, bảo tàng,
hợp tác, hội thảo,…chưa được phổ biến.
Trong thời gian tới, công tác truyền thông
KH&CN cần có bước đi hiệu quả, vững vàng
hơn; đội ngũ những người làm truyền thông
về KH&CN cần được đào tạo cả lý thuyết và
kỹ năng cơ bản để có thể làm việc hiệu quả;
cần tăng cường năng lực và phối hợp chặt
chẽ với các cơ quan thông tin, báo chí, phổ
biến những thành tựu về KH&CN đến với
đông đảo nhân dân. Trong đó, đặc biệt quan
tâm đến phản hồi xã hội về KH&CN. Một
trong những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt
động truyền thông KH&CN là sự kết hợp
chặt chẽ giữa các nhà khoa học có tinh thần
báo chí và các nhà báo có tinh thần khoa học
để chuyển hóa các thông tin KH&CN vốn
khô khan, thiếu tính hấp dẫn đến với công
chúng.
Cần có cơ chế, chính sách cụ thể về tài
chính cho hoạt động truyền thông, trong đó
cần xây dựng lại chế độ nhuận bút phù hợp
với điều kiện của tỉnh và ngang bằng với các
cơ quan báo chí khác trong tỉnh và một số
tỉnh bạn để thu hút đông đảo lực lượng cộng
tác viên; đầu tư kinh phí để nâng cao chất
lượng in ấn cho Thông tin KH&CN; đầu tư
thêm các trang thiết bị hiện đại phục vụ hoạt
bón để hoàn thiện quy trình kỹ thuật. Qua chăm
sóc bón phân ở các mức độ: ít, trung bình, cao
và thường xuyên được tiến hành theo dõi diễn
biến tình hình sâu bệnh cũng như quá trình sinh
trưởng và phát triển của từng loại giống, theo
báo cáo đánh giá của đơn vị thực hiện cơ bản
các giống lúa này đều phát triển tốt và cho năng
suất, hiệu quả kinh tế cao nhất ở mức độ bón
phân trung bình đối với 1ha gồm 280kg
đạm, lân 550kg và kali 150kg.
Thực tế tại các địa điểm được gieo
trồng thử nghiệm thì các giống HYT108,
HT6, HT9 đều có tỷ lệ hạt chắc/bông
cao từ 66 đến gần 69%, năng suất đạt từ
53 - 56 tạ/ha cũng cao hơn so với một
số giống lúa đang trồng khác. Trên cơ sở
đó, huyện sẽ tiếp tục khảo nghiệm tiếp
2 vụ chiêm và vụ mùa năm 2015 ở cánh
đồng Bình Lư với quy trình kỹ thuật về
khung thời vụ và mật độ gieo cấy để đến
khi kết thúc dự án 3 giống lúa này đáp
ứng được quy trình kỹ thuật và đưa vào
cơ cấu giống của huyện để nhân ra diện
rộng trong các năm tiếp theo. Việc triển
khai khảo nghiệm các giống lúa thuộc dự án
góp phần quan trọng trong việc xác định các
giống lúa có tiềm năng về năng suất, chất lượng
cao phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện.
Tại Hội thảo đánh giá kết quả mô hình đại
diện Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ,
Hồ. Sinh ra và lớn lên trên quê hương
Hà Nam, bác tham gia bộ đội và chiến
đấu ở chiến trường Lạng Sơn năm 1979,
giải ngũ trở về quê hương. Năm 1996,
trong một chuyến lên thăm bà con ở Lai
Châu, rồi cơ duyên đã gắn bó bác với
mảnh đất nơi đây. Bác lập gia đình và
cùng vợ quyết tâm lập nghiệp ở vùng
đất mới. Trong cuộc sống thời bình, bác tiếp
tục phát huy bản chất của người lính, tích cực
lao động sản xuất, chịu khó học hỏi tìm tòi
sáng tạo và xây dựng thành công mô hình kinh
tế vườn, ao, chuồng cho thu nhập cao.
“Vạn sự khởi đầu nan” khi bắt tay vào lập
nghiệp gia đình bác cũng gặp không ít khó
khăn do thiếu vốn, thiếu kiến thức về kỹ thuật
trồng trọt, chăn nuôi, chưa chọn được loại cây
con giống phù hợp. Vì vậy bác đã phải mất tới
mấy năm thử nghiệm các loại cây trồng để tìm
ra cây, con giống thích hợp. Trên diện tích 4 ha
đồi hoang mua lại của bà con hàng xóm bác đã
trồng thử nghiệm các loại cây: bưởi diễn, phật
thủ, mắc ca, hồng đỏ, hồng không hạt, mận
tam hoa …. Nhưng đều không thành công do
điều kiện tự nhiên và khí hậu nơi đây không
phù hợp. Nhưng với suy nghĩ đây là vùng đất
phù hợp để phát triển kinh tế, ổn định cuộc
sống, bác cùng gia đình tiếp tục tìm tòi, thử
nghiệm các loại cây trồng, vật nuôi mới.
Bác đã đi học hỏi nhiều nơi, về các viện
ra từ tâm huyết của tôi đấy”. Vì yêu nó nên bác
có chế độ chăm sóc đặc biệt, bón phân, chăm
sóc theo các kỳ trong năm vô tình đã cho bác
giống chanh tứ quý này. Thành công này của
bác có được nhờ tình yêu đối với cây chanh nói
riêng và với nghề nông nói chung.
Bên cạnh cây chanh, mô hình kinh tế của
gia đình bác còn phát triển một số cây trồng
ngắn ngày và dài ngày khác đồng thời nuôi cá
và chim bồ câu pháp, nuôi lợn để phát triển
đa dạng mô hình kinh tế. Hiện nay, trên diện
tích 4 ha đã trồng, gia đình bác còn trồng xen
canh các loại cây ăn quả như cam, quýt, ổi;
và chăn nuôi khoảng 100 con gà thả vườn,
100 con lợn, 50 đôi chim bồ câu pháp, dành
hơn 200 m
2
ao hồ để nuôi cá. Hiệu quả từ mô
hình, đã giúp gia đình bác thu lãi hơn 200 triệu
đồng mỗi năm từng bước ổn định cuộc sống
và vươn lên làm giàu. Để có thành quả ngày
hôm nay, ngoài tình yêu với nghề nông, bác
còn có nghị lực vươn lên, tinh thần cầu tiến,
sáng tạo, chịu khó học hỏi, áp dụng các tiến bộ
KH&KT vào quá trình sản xuất, tích cực công
tác phòng ngừa sâu bệnh, dịch bệnh gây hại
cây trồng, vật nuôi.
Mô hình kinh tế của bác đã được bà con
hàng xóm khâm phục và chính quyền địa
phương nghi nhận. Năm 2007 bác được UBND
cũng như hướng phát triển cây cao su vùng
Tây Bắc và trên địa bàn Lai Châu hiện tại và
trong thời gian tới, ông Lê Trọng Quảng –
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết: Ý kiến các
chuyên gia cung cấp rất nhiều thông tin hữu
ích về thực trạng phát triển cây cao su trong
khu vực, trong nước và đặc biệt là Lai Châu.
Với những thông tin, nhận định đó, Lai Châu
có thể yên tâm để tiếp tục phát triển cây cao
su ở các vùng đã quy hoạch. Tỉnh cũng sẽ phát
triển một cách thận trọng chứ không làm theo
phong trào và sẽ tính toán để đảm bảo cả mục
tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
Lai Châu có thể
(Tiếp theo trang 15)
2524 2524
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
87,87ha là diện tích lúa mà huyện Phong Thổ mở rộng được để sản xuất 2 vụ trong
năm 2014, nâng tổng diện tích lúa 2 vụ toàn huyện lên 607ha. Đây là sự nỗ lực rất lớn
đối với 1 huyện biên giới có đặc điểm địa hình chia cắt phức tạp, tạo nên địa hình vùng
núi cao và thấp, khiến cho việc canh tác gặp rất nhiều trở ngại.
T
heo thống kê, diện tích đất bằng
chưa sử dụng của huyện là 115,94ha,
hệ số sử dụng đất lúa mới đạt 17,5%,
nguyên nhân do việc đầu tư thâm canh, tăng
vụ chưa được quan tâm nhiều; trình độ kỹ
thuật và tay nghề của bà con nông dân còn
hạn chế; đời sống kinh tế còn khó khăn việc
đầu tư phân bón, vật tư chưa được chú trọng.
1 số bản của xã Hoang Thèn, Nậm Xe, Sì Lờ
Lầu, Mù Sang, Vàng Ma Chải, Mồ Sì San
và Ma Ly Chải. Nếu mở rộng ở độ cao trên
800m sẽ không kịp thời vụ sản xuất vụ mùa
bởi lẽ khi thời tiết lạnh, lúa trổ muộn nên
Phong Thổ nâng cao hệ số sử dụng đất trong nông nghiệp
Thu Trang
Bà con xã Hoang Thèn đang thu hoạch lúa.
2726 2726
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
khung thời vụ kéo sẽ dài.
Việc nâng cao hệ số sử dụng đất của
huyện đạt hiệu quả bởi lẽ ngoài việc đảm
bảo nguồn nước, hệ thống kênh mương kiên
cố, Phòng NN và PTNT huyện phối hợp
chặt chẽ với Trạm Khuyến nông và Đoàn
kinh tế Quốc phòng 356 đóng chân trên địa
bàn huyện xuống tận bản cầm tay chỉ việc,
hướng dẫn nông dân từ cách thức ngâm ủ
giống cho đến gieo mạ, che phủ nilông chống
rét, cấy và theo dõi tình hình sâu bệnh. Cũng
nhờ ý thức tích cực của người dân, vụ đông
xuân vừa qua dù không được hỗ trợ kinh phí
nhưng có đến 70% các hộ đã tự bỏ tiền mua
nilong chống rét cho mạ. Bởi vậy, mạ sinh
trưởng tốt và nhanh bén rễ khi cấy. Huyện
cũng tiến hành ký cam kết với bà con nông
dân gieo trồng đúng khung thời vụ để dễ
kiểm soát sâu bệnh, phun thuốc phòng trừ và
không ảnh hưởng vụ sau. Với 87,87ha lúa 2
nguồn hỗ trợ và trồng đại trà lúa vụ 2. Xã
Ma Ly Chải tuy không thuộc diện thí điểm
mô hình tăng vụ song nhìn thấy hiệu quả từ
bản Hoang Thèn, nông dân khu vực lân cận
cũng chủ động mua giống về trồng, từ đó,
lan rộng và hình thành phong trào trồng lúa
2 vụ. Tại xã Nậm Xe, vụ đông xuân vừa qua
là năm thứ 2 thực hiện trồng lúa 2 vụ trên
tổng diện tích là 60ha.
Cải tiến được thói quen sản xuất lúa của
người dân, vụ đông xuân 2014 – 2015, huyện
đang triển khai Đề án cánh đồng tập trung
trên diện tích khoảng 30ha tại cánh đồng
Mường So với 2 loại giống Tẻ râu và PC6.
Huyện cũng đưa ra hướng mở, để cho bà
con tự thống nhất chọn 1 trong 2 loại giống
trên để đưa vào gieo trồng. 3 năm đầu bà con
được hỗ trợ giống, sau đó sẽ tiến hành trồng
đại trà. Đây là cách để huyện Phong Thổ
hướng tới sản xuất lương lực có giá trị kinh
tế cao, nâng mức thu nhập cho người dân.
2726 2726
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
G
iống lúa Khẩu Ký, Nếp
Tan là 2 giống lúa đặc sản
của huyện Tân Uyên, được
trồng chủ yếu tại 2 xã Pắc Ta và
xã Thân Thuộc. Do là giống địa
phương được trồng từ lâu đời cùng
giá được 24 dòng là Nếp Tan và 26 dòng Khẩu
Ký có đặc điểm về kiểu hình giống nhau. Để
chính xác hơn, nhóm tác giả thực hiện dự án
dùng phương pháp đánh giá đa dạng di truyền
bằng các macker phân tử SSR để xác định
kiểu gen:
Đối với dòng lúa Khẩu Ký, kết quả cho
thấy 23 dòng (D1, D2, D3, D5, D6, D7, D8,
D10, D11, D12, D13, D14, D15, D16, D17,
D18, D20, D21, D22, D23, D24, D25, D26);
18 dòng Nếp Tan (D1, D3, D5, D6, D7, D8,
D10, D11, D12, D16, D17, D18, D20, D21,
D22, D23, D24) là đúng giống cần được chọn
và là giống được phục tráng.
Qua việc ứng dụng công nghệ sinh học để
đánh giá genôm kết hợp với kiểu hình để phục
tráng 2 giống lúa Khẩu ký tại Tân Uyên, Lai
Châu đã thu được 23 dòng lúa khẩu ký mang
những đặc điểm tương đồng đúng giống phục
tráng và 18 dòng có cùng đặc điểm đúng giống
Nếp tan của huyện được phục tráng. Đây là 2
giống siêu nguyên chủng có hàm lượng tinh
bột cao, gạo sắc bóng, cơm mềm, dẻo và thơm
nhẹ đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và
ngoài tỉnh.
(Xem tiếp trang 30)
Phục tráng thành công
2 giống lúa Khẩu Ký
và Nếp Tan Co Giàng
Thu Loan