SỬ DỤNG BÀI TẬP PHÂN HÓA TRONG GIẢNG DẠY CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC HÓA HỌC - Pdf 24

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
A- PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp học
sinh: phát triển toàn diện về đạo đức, trí lực, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân
cách con người xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
…(Luật giáo dục 2005). Quyết định số 16/2006/QĐ. BGD & ĐT ngày
5/5/2006 của Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nêu: Phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học,
đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học
sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách
nhiệm học tập cho học sinh.
Để đạt các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo
dục từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy
học tích cực”. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát
hiện, khai thác và xử lí thông tin,…Học sinh tự mình hình thành hiểu biết,
năng lực và phẩm chất. “Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho
học sinh: cách tự học, sáng tạo, hợp tác,…dạy phương pháp và kĩ thuật lao
động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống
hiện tại và tương lai…Giúp học sinh nhận thức được những điều đã học cần
thiết, bổ ích cho bản thân và cho sự phát triển xã hội.
Với bộ môn hóa học, định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng
được coi trọng đó là: quan tâm và tạo mọi điều kiện để học sinh trở thành chủ
thể hoạt động sáng tạo trong giờ học; để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng về hóa học bằng nhiều biện pháp như:
+ Khai thác đặc thù bộ môn tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng,
phong phú.
+ Đổi mới hoạt động học tập của học sinh và tăng thời gian dành cho
học sinh hoạt động trong giờ học.

kĩ năng vận dụng kiến thức trong học tập và sự phân hóa học sinh.
2
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
2. PHẠM VI:
Các bài dạy trong chương sự điện li chương trình hóa học lớp 11.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa đảm bảo tính
khoa học của nội dung, logic về cấu trúc, phù hợp với đối tượng học sinh thì
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hóa học nói chung và chương “Sự
điện li” nói riêng theo hướng chiều rộng và chiều sâu. Đồng thời gây hứng thú
cho học sinh trong học tập.
B- NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
3
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng
lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng
người học trên cơ sở am hiểu từng cá thể, giáo viên tiếp cận người học ở tâm
lí, năng khiếu, về mơ ước trong cuộc, …Có thể nói trong phương pháp dạy
học phân hóa giáo viên phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”.
Đặc điểm cơ bản của dạy học phân hóa là:
- Phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập
- Biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập
- Dạy học phân hóa là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy
học đồng loạt.
Các hình thức của dạy học phân hóa:
- Phân hóa theo hứng thú: căn cứ vào đặc điểm hứng thú học tập của
học sinh để tổ chức cho người học tìm hiểu khám phá nhận thức.
- Phân hóa theo sự nhận thức: Lấy sự phân biệt nhịp độ làm căn cứ
phân hóa. Nhịp độ được tính bằng lượng thời gian chuyển từ hoạt động này

- Gây động cơ học tập và tiến hành hoạt động.
- Truyền thụ tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp như là phương
tiện và kết quả của hoạt động.
- Phân bậc hoạt động làm chỗ dựa cho việc điều khiển quá trình dạy
học. Dựa vào các tư tưởng này thầy có thể thiết kế quá trình dạy học nhằm
điều khiển học sinh tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh nội dung dạy học,
thực hiện được múc đích và nhiệm vụ dạy học.
Việc dạy học một mặt yêu cầu đảm bảo vừa sức để học sinh có thể lĩnh
hội được tri thức, rèn luyện kỷ năng kỹ xảo, mặt khác lại đòi hỏi không ngừng
nâng cao yêu cầu để thúc đẩy sự phát triển. Hai mặt này tưởng chừng như
mâu thuẫn nhưng thực chất lại thống nhất. Vừa sức không phải là quá khó
hoặc quá dễ. “Sức” học sinh – trình độ, năng lực – không bất biến mà thay đổi
trong quá trình học tập nói chung là tăng lên. Vì vậy sự vừa sức ở những thời
5
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
điểm khác nhau chính là sự không ngừng nâng cao yêu cầu đối với học sinh.
Để thực hiện được nguyên tắc này, quá trình dạy học cần được “phân biệt hóa
và cá nhân hóa” một cách hợp lý đối tượng người học và nội dung, phương
pháp dạy học cho phù hợp với trình độ nhận thức của họ.
III.Thực trạng của vấn đề
1. Thực trạng chung
Thực tiễn ở các trường phổ thông hiện nay, quan điểm phân hoá trong dạy,
học chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên chưa được trang bị đầy đủ
những hiểu biết và kỹ năng dạy học phân hóa, chưa thực sự coi trọng yêu cầu
phân hóa, trong dạy học.
Đa số các giờ dạy vẫn được tiến hành đồng loạt, áp dụng như nhau, cho
mọi đối tượng học sinh, các câu hỏi, bài tập đưa ra cho mọi đối tượng học
sinh, đều có chung một mức độ khó-dễ. Do đó, không phát huy được tính tối
đa năng lực, cá nhân của học sinh, chưa kích thích được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức, dẫn đến chất lượng

những học sinh có điều kiện tìm mua; các học sinh khó khăn sẽ mượn sách
bạn để học tập.
- Xác định mục tiêu, chọn lọc và nhóm các bài toán theo dạng, xây dựng
nguyên tắc áp dụng cho mỗi dạng, biên soạn bài tập mẫu và các bài tập vận
dụng và nâng cao. Ngoài ra phải dự đoán những tình huống có thể xảy ra khi
bồi dưỡng mỗi chủ đề.
- Chuẩn bị đề cương bồi dưỡng, lên kế hoạch về thời lượng cho mỗi dạng
toán.
- Sưu tầm tài liệu, trao đổi kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp; nghiên cứu
các đề thi học sinh giỏi của tỉnh ta và một số tỉnh, thành phố khác
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện
7
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
1. Đặc điểm bộ môn hóa học với việc áp dụng dạy học phân hóa
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức: quá
trình nhận thức của con người luôn luôn phát triển cả về lượng và chất. Trong
quá trình đó, sự biến đổi về lượng kiến thức sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất:
Năng lực nhận thức chuyển sang mức độ cao hơn và sau mỗi giai đoạn, mỗi
vấn đề nhận thức lại trở nên hoàn thiện hơn, bản chất hơn. Quá trình phát
triển của khoa học hóa học nói chung và chương trình hóa học nói riêng cũng
tuân theo quy luật đó.
Tính phát triển và tính phân hóa luôn luôn gắn liền với nhau. Nhận thức càng
phát triển thì sự phân hóa càng rõ rệt, sự phân hóa theo các hướng.
- Phân hóa theo mức độ phức tạp dần của vấn đề nhận thức
Trong chương trình hóa học phổ thông từ lớp 8 đến lớp 12 nội dung kiến
thức hóa học tăng dần và đồng thời quá trình dạy học cũng đòi hỏi sự phát
triển tư duy tăng dần.
- Phân hóa theo hướng phân nhánh.
Khoa học càng phát triển, nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về một vấn đề nào
đó buộc người ta phải có sự phân nhánh, phân hóa vấn đề nghiên cứu thành

- Tái hiện kiến thức lý thuyết
- Tái hiện và giải thích
- Vận dụng sáng tạo và suy luận linh hoạt kiến thức ở điều kiện mới.
Ví dụ:
9
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
* Nội dung bài tập gốc: Các ion cho dưới đây đóng vai trò là axit, bazơ hay
lưỡng tính:
Tại sao?
* Thiết kế theo kiểu phân hóa
Mức độ 1: Từ các phản ứng axit – bazơ sau hãy cho biết chất nào là axít, chất
nào là bazơ, lưỡng tính?
a.
b.
c.
Mức độ 2: Viết các phương trình trao đổi proton để chứng minh rằng:
a. là axit
là bazơ
b. là lưỡng tính
Mức độ 3: Các ion cho dưới đây đóng vai trò là axít, bazơ hay lưỡng tính?
* Nhận xét về mức độ phân hóa và tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu
- Ở mức độ 1: Học sinh chỉ cần xét sự cho nhận proton trên phương trình đã
cho, nhớ lại định nghĩa về axit, bazơ của Bronsted, từ đó xác định được trong
10
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
mỗi phản ứng các chất đóng vai trò là axit hay bazơ. Như vậy kiến thức ở đây
chỉ mới tái hiện lại kiến thức theo sự dẫn dắt của đề ra.
- Ở mức độ 2: Đòi hỏi cao hơn. Từ sự gợi ý của đề ra học sinh tự tìm phương
trình trao đổi proton để chứng minh. Ở đây đã có sự vận dụng kiến thức về
khái niệm axít, bazơ và phản ứng axít bazơ trong tình huống mới.

Mức độ 2: Có 6 ống nghiệm mất nhãn đựng riêng biệt các dung dịch:
. Chỉ dùng quỳ tím và các chất
cần phân biệt để thử, hãy nhận biết các dung dịch trên?
Mức độ 3: Chỉ dùng quỳ tím hãy nhận biết các dung dịch sau:
* Nhận xét:
- Ở mức độ 1: Học sinh tái hiện các thao tác theo sự chỉ dẫn rõ ràng của giáo
viên, theo đó mà giải thích các hiện tượng đã thấy được.
- Ở mức độ 2: Chỉ gợi ý dùng thuốc thử quỳ tím và cho phép sử dụng thêm
các hóa chất khác cần thiết, từ đó vạch ra các công đoạn thực hành, đồng thời
tự dự đoán giải thích hiện tượng xãy ra.
12
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
- Ở mức độ 3: Giới hạn ở việc chỉ dùng thêm một thuốc thử là quỳ tím, học
sinh tự vạch ra quỳ trình tiến hành dự đoán và giải thích hiện tượng. Mức độ
này phức tạp hơn mức độ 2.
2.3. Bài tập tổng hợp
Những bài tập này có thể phân hóa theo cách:
- Phức tạp hóa điều kiện bài toán hoặc giảm sự phức tạp điều kiện bài toán.
- Phức tạp hóa hoặc giảm sự phức tạp hóa yêu cầu bài toán.
- Phức tạp hoặc giảm sự phức tập của cả yêu cầu và điều kiện bài toán.
- Ghép các nội dung các bài tập khác nhau thành một bài toán mới.
Ví dụ:
* Nội dung bài tập: Một dung dịch X có chứa các ion:
làm kết tủa hết ion Cl
-
trong 10 ml dung dịch X cần
70 ml dung dịch 1M. Để kết tủa hết ion trong 10 ml
dung dịch X dưới dạng hiđroxit cần 100 ml dung dịch NaOH 1M. Cô cạn 100
ml dung dịch X (trong điều kiện không có không khí) thu được 60,05g hỗn
hợp muối khan. Tính nồng độ mol/lit mỗi muối trong dung dịch X (biết rằng

dịch NaOH 1M. Để thu được lượng kết tủa bé nhất với 10 ml dung dịch X cần
120 ml dung dịch NaOH 1M.
a. Tính khối lượng muối khan thu được khi cô cạn 100ml dung dịch X
(trong điều kiện không có không khí)
b. Dung dịch có ít nhất bao nhiêu muối? Tính nồng độ mol/lit của mỗi
muối trong trường hợp đó?
* Nhận xét
14
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
- Ở mức độ 1: giảm sự phức tạp hóa điều kiện ở bài toán gốc bằng cách đổi
yêu cầu với điều kiện ở bài toán gốc và tăng chi tiết dẫn dắt.
- Mức độ 2: Chính là bài toán gốc phức tạp hơn mức độ 1 đòi hỏi học sinh
phải biết làm việc với các ion
- Mức độ 3: Chính là sự phức tạp hóa cả điều kiện và yêu cầu của bài toán
gốc. Đặc biệt là khi chỉ mới biết số mol mỗi ion trong dung dịch X các em
phải suy luận, tính toán để xem nó có thể gồm những muối gì.
3. Hệ thống các câu hỏi và bài tập thiết kế theo kiểu phân hóa.
Bài 1:
1. Thế nào là chất điện li? Hiện tượng điện li? Viết phương trình điện li của
HCl, NaCl?
2. Cấu tạo của phân tử nước có đặc điểm gì là cho dung môi nước có vai trò
quan trọng trong quá trình điện li của chất tan? Giải thích sự dẫn điện của
dung dịch HCl và dung dịch NaCl.
3. Giải thích tại sao dung dịch HCl với dung môi nước là dung dịch điện li
còn dung dịch HCl dung môi benzen là dung dịch không điện li,
Bài 2:
1. Hòa tan 2 muối và vào nước thu được dung dịch A
có mặt các ion: . Hãy giải thích?
2. Hòa tan 2 muối và vào nước thu được dung dịch A.
Dung dịch có thể có mặt những ion nào?

2
SO
4
; NH
4
Cl; FeCl
2
, AlCl
3
, FeCl
3
Cho dung dịch Ba(OH)
2
vào mỗi ống nghiệm thì thấy:
- Ống 1: cho kết tủa keo trắng xanh
- Ống 2: có khí thoát ra và kết tủa trắng tạo thành.
- Ống 3: xuất hiện kết tủa sau đó kết tủa tan.
- Ống 4: xuất hiện kết tủa nâu.
- Ống 5: có khí thoát ra, dung dịch trong suốt.
Hãy chỉ ra các ống và viết phương trình hóa học xãy ra.
3. Có 5 dung dịch: (NH
4
)
2
SO
4
; NH
4
Cl; FeCl
2

2
(đktc).Lấy dung dịch thu được đổ vào phần thứ 2 .
Tính nồng độ muối trong dung dịch tạo thành?
2- Dẫn khí CO
2
từ từ vào dung dịch NaOH cho đến dư, thu được dung dịch
B. Dung dịch A, dung dịch B chứa những muối gì? Viết các phương trình
phản ứng xảy ra trong quá trình thí nghiệm trên?
3- Phòng thí nghiệm có : Dung dịch NaOH, bình khí CO
2
, cốc có vạch chia
độ. Hãy tìm cách điều chế dung dịch Na
2
CO
3
nguyên chất. Viết phương trình
hóa học xảy ra?
Bài 7:
1- Viết phương trình dạng phân tử và ion khi cho dung dịch H
2
SO
4
(chứa a
mol) vào dung dịch NaOH (chứa b mol). Tìm pH của dung dịch khi b = 2a ?
2- Cho 100 ml dung dịch A chứa 0,49 gam H
2
SO
4
. Dung dịch B có 100 ml
chứa 0,4 gam NaOH . Tính pH của mỗi dung dịch và của dung dịch sau khi

%
11B 46 26 20 18 36,9% 20 43,47% 8 19,63
Bảng 2: Tình hình kết quả sau khi áp dụng phân hóa
Đặc
điểm

số
Nam Nữ
Học lực
Khá giỏi Trung bình Yếu
11A 46 27 19 30 65,2% 16 34,8% 0 0%
11B 46 26 20 18 36,9% 20 43,47% 8 19,63%
18
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Như vậy chất lượng ở lớp 11A được nâng lên rõ rệt còn tại lớp 11B chất
lượng học sinh thay đổi không đáng kể.
C. KẾT LUẬN
Từ những việc đã làm tôi nhận thấy:
- Hình thức dạy học mới đã gây hứng thú và lôi cuốn các hoạt động tham
gia vào quá trình tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức cả bề rộng lẫn bề sâu. Từ đó
chất lượng học tập được nâng lên rõ rệt cả diện đại tràvà mũi nhọn.
- Việc thiết kế các câu hỏi bài tập theo kiểu phân hóa đã có tác dụng phát
triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và kỹ năng
chuyển từ lý thuyết sang tư duy thực hành cho mọi đối tượng học sinh.
- Khó khăn và thuận lợi khi áp dụng rộng rãi đề tài
+ Vì bài tâp sát đối tượng học sinh nên rất được học sinh ủng hộ, học sinh
nhiệt tình và đạt kết quả tốt.
+ Giáo viên phải hiểu rõ về dạy học phân hóa từ đó xây dựng bài soạn, các
bài tập và câu hỏi.
+ Trước khi dạy học phân hóa thì giáo viên phải phân hóa học sinh. Điều này

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status