Sử dụng bài tập phân hóa để giảng dạy chương “Sự điện ly” nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường tại trường THPT Quảng Xương 4 - Pdf 26

A- PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp học
sinh: phát triển toàn diện về đạo đức, trí lực, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân
cách con người xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
…(Luật giáo dục 2005). Quyết định số 16/2006/QĐ. BGD & ĐT ngày
5/5/2006 của Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nêu: Phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học,
đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học
sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách
nhiệm học tập cho học sinh.
Để đạt các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo
dục từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy
học tích cực”. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát
hiện, khai thác và xử lí thông tin,…Học sinh tự mình hình thành hiểu biết,
năng lực và phẩm chất. “Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho
học sinh: cách tự học, sáng tạo, hợp tác,…dạy phương pháp và kĩ thuật lao
động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống
hiện tại và tương lai…Giúp học sinh nhận thức được những điều đã học cần
thiết, bổ ích cho bản thân và cho sự phát triển xã hội.
Với bộ môn hóa học, định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng
được coi trọng đó là: quan tâm và tạo mọi điều kiện để học sinh trở thành chủ
thể hoạt động sáng tạo trong giờ học; để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng về hóa học bằng nhiều biện pháp như:
+ Khai thác đặc thù bộ môn tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng,
phong phú.
+ Đổi mới hoạt động học tập của học sinh và tăng thời gian dành cho
học sinh hoạt động trong giờ học.
+ Tăng mức độ hoạt động trí lực, chủ động, tích cực, sáng tạo của học

2. PHẠM VI:
Các bài dạy trong chương sự điện li chương trình hóa học lớp 11.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa đảm bảo tính
khoa học của nội dung, logic về cấu trúc, phù hợp với đối tượng học sinh thì
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hóa học nói chung và chương “Sự
điện li” nói riêng theo hướng chiều rộng và chiều sâu. Đồng thời gây hứng thú
cho học sinh trong học tập.
B- NỘI DUNG
2
I. Cơ sở lý luận
Dạy học phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng
lực nhận thức mà ở đây là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng
người học trên cơ sở am hiểu từng cá thể, giáo viên tiếp cận người học ở tâm
lí, năng khiếu, về mơ ước trong cuộc, …Có thể nói trong phương pháp dạy
học phân hóa giáo viên phải “tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”.
Đặc điểm cơ bản của dạy học phân hóa là:
- Phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập
- Biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập
- Dạy học phân hóa là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy
học đồng loạt.
Các hình thức của dạy học phân hóa:
- Phân hóa theo hứng thú: căn cứ vào đặc điểm hứng thú học tập của
học sinh để tổ chức cho người học tìm hiểu khám phá nhận thức.
- Phân hóa theo sự nhận thức: Lấy sự phân biệt nhịp độ làm căn cứ
phân hóa. Nhịp độ được tính bằng lượng thời gian chuyển từ hoạt động này
sang hoạt động khác, từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ khác. Lớp học có nhiều
nhịp độ, chẳng hạn như nhóm có nhịp độ nhận thức nhanh, nhóm có nhịp độ
nhận thức trung bình, nhóm có nhịp độ nhận thức chậm.
- Phân hóa giờ học theo sức học: Căn cứ vào trình độ học lực có thực

điều khiển học sinh tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh nội dung dạy học,
thực hiện được múc đích và nhiệm vụ dạy học.
Việc dạy học một mặt yêu cầu đảm bảo vừa sức để học sinh có thể lĩnh
hội được tri thức, rèn luyện kỷ năng kỹ xảo, mặt khác lại đòi hỏi không ngừng
nâng cao yêu cầu để thúc đẩy sự phát triển. Hai mặt này tưởng chừng như
mâu thuẫn nhưng thực chất lại thống nhất. Vừa sức không phải là quá khó
hoặc quá dễ. “Sức” học sinh – trình độ, năng lực – không bất biến mà thay đổi
trong quá trình học tập nói chung là tăng lên. Vì vậy sự vừa sức ở những thời
điểm khác nhau chính là sự không ngừng nâng cao yêu cầu đối với học sinh.
Để thực hiện được nguyên tắc này, quá trình dạy học cần được “phân biệt hóa
và cá nhân hóa” một cách hợp lý đối tượng người học và nội dung, phương
pháp dạy học cho phù hợp với trình độ nhận thức của họ.
III.Thực trạng của vấn đề
1. Thực trạng chung
Thực tiễn ở các trường phổ thông hiện nay, quan điểm phân hoá trong dạy,
học chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên chưa được trang bị đầy đủ
những hiểu biết và kỹ năng dạy học phân hóa, chưa thực sự coi trọng yêu cầu
phân hóa, trong dạy học.
Đa số các giờ dạy vẫn được tiến hành đồng loạt, áp dụng như nhau, cho
mọi đối tượng học sinh, các câu hỏi, bài tập đưa ra cho mọi đối tượng học
sinh, đều có chung một mức độ khó-dễ. Do đó, không phát huy được tính tối
đa năng lực, cá nhân của học sinh, chưa kích thích được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức, dẫn đến chất lượng
giờ dạy không cao, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục. Từ thực tế đó đòi
hỏi mỗi giáo viên trong khâu chuẩn bị giáo án cũng như, trong khi tiến hành
tổ chức các hoạt động dạy học, phải làm thế nào để tác động đến, từng cá
nhân học sinh với những đặc điểm khác nhau về năng lực, sở thích, nhu cầu,
sao cho phát huy được tối đa khả năng của bản thân mỗi học sinh trong học
tập. Đứng trước nhu cầu đó đã làm nảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động
đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp trong ngành giáo dục đào tạo,

- Sưu tầm tài liệu, trao đổi kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp; nghiên cứu
các đề thi học sinh giỏi của tỉnh ta và một số tỉnh, thành phố khác
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện
1. Đặc điểm bộ môn hóa học với việc áp dụng dạy học phân hóa
5
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức: quá
trình nhận thức của con người luôn luôn phát triển cả về lượng và chất. Trong
quá trình đó, sự biến đổi về lượng kiến thức sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất:
Năng lực nhận thức chuyển sang mức độ cao hơn và sau mỗi giai đoạn, mỗi
vấn đề nhận thức lại trở nên hoàn thiện hơn, bản chất hơn. Quá trình phát
triển của khoa học hóa học nói chung và chương trình hóa học nói riêng cũng
tuân theo quy luật đó.
Tính phát triển và tính phân hóa luôn luôn gắn liền với nhau. Nhận thức càng
phát triển thì sự phân hóa càng rõ rệt, sự phân hóa theo các hướng.
- Phân hóa theo mức độ phức tạp dần của vấn đề nhận thức
Trong chương trình hóa học phổ thông từ lớp 8 đến lớp 12 nội dung kiến
thức hóa học tăng dần và đồng thời quá trình dạy học cũng đòi hỏi sự phát
triển tư duy tăng dần.
- Phân hóa theo hướng phân nhánh.
Khoa học càng phát triển, nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về một vấn đề nào
đó buộc người ta phải có sự phân nhánh, phân hóa vấn đề nghiên cứu thành
nhiều vấn đề nhỏ.
2. Đặc điểm của chương sự điện li
Chương sự điện li là chương mở ra giai đoạn mới, bắt đầu xem xét một
cách bản chất hơn những vấn đề về dung dịch và các quá trình xảy ra trong
dung dịch dưới ánh sáng của thuyết điện li. Cụ thể:
- Bản chất của dung dịch dưới ánh sáng thuyết điện li.
- Sự điện li, cơ chế của quá trình hòa tan.
- Khái niệm axit – bazơ
- Khái niệm độ pH

a.
b.
c.
7
Mức độ 2: Viết các phương trình trao đổi proton để chứng minh rằng:
a. là axit
là bazơ
b. là lưỡng tính
Mức độ 3: Các ion cho dưới đây đóng vai trò là axít, bazơ hay lưỡng tính?
* Nhận xét về mức độ phân hóa và tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu
- Ở mức độ 1: Học sinh chỉ cần xét sự cho nhận proton trên phương trình đã
cho, nhớ lại định nghĩa về axit, bazơ của Bronsted, từ đó xác định được trong
mỗi phản ứng các chất đóng vai trò là axit hay bazơ. Như vậy kiến thức ở đây
chỉ mới tái hiện lại kiến thức theo sự dẫn dắt của đề ra.
- Ở mức độ 2: Đòi hỏi cao hơn. Từ sự gợi ý của đề ra học sinh tự tìm phương
trình trao đổi proton để chứng minh. Ở đây đã có sự vận dụng kiến thức về
khái niệm axít, bazơ và phản ứng axít bazơ trong tình huống mới.
- Ở mức độ 3: Hoàn toàn không có sự gợi ý nào, học sinh tự dự đoán đâu là
axit. bazơ hay lưỡng tính dựa và cấu tạo của phần tử và sự phan loại iôn. Mức
độ này đòi hỏi khả năng suy luận cao hơn.
2.2. Bài tập lý thuyết – thực nghiệm: Là những bài tập có nội dung buộc
học sinh phải có kỹ năng quan sát, giải thích hiện tượng, thực hiện những thao
tác thực hành, … Loại bài tập này phân hóa theo ba mức độ:
- Tái hiện các bước của loại bài thực thực hành đó hoặc giải thích các thao tác
thực hành, giải thích các hiện tượng quan sát được.
- Vạch ra công đoạn thực hành dựa trên sự chỉ dẫn nhất định, dự đoán hiện
tượng xãy ra và giải thích.
- Tự vạch ra các công đoạn thực hành, dự đoán hiện tượng và giải thích.
Ví dụ:
8

2.3. Bài tập tổng hợp
Những bài tập này có thể phân hóa theo cách:
- Phức tạp hóa điều kiện bài toán hoặc giảm sự phức tạp điều kiện bài toán.
- Phức tạp hóa hoặc giảm sự phức tạp hóa yêu cầu bài toán.
- Phức tạp hoặc giảm sự phức tập của cả yêu cầu và điều kiện bài toán.
- Ghép các nội dung các bài tập khác nhau thành một bài toán mới.
Ví dụ:
* Nội dung bài tập: Một dung dịch X có chứa các ion:
làm kết tủa hết ion Cl
-
trong 10 ml dung dịch X cần
70 ml dung dịch 1M. Để kết tủa hết ion trong 10 ml
dung dịch X dưới dạng hiđroxit cần 100 ml dung dịch NaOH 1M. Cô cạn 100
ml dung dịch X (trong điều kiện không có không khí) thu được 60,05g hỗn
hợp muối khan. Tính nồng độ mol/lit mỗi muối trong dung dịch X (biết rằng
dung dịch X được tạo thành từ sự hòa tan 2 muối clorua và 1 muối nitrat)
* Bài tập phân hóa:
Mức độ 1: hòa tan 0,2 mol ; 0,1 mol và x mol vào
nước được dung dịch X.
a. Dung dịch X gồm những ion nào?
b. Để kết tủa hết ion Cl
-
trong 10 ml dung dịch X cần bao nhiêu ml dung
dịch 1M?
c. Để kết tủa hết ion trong 10 ml dung dịch X dưới dạng
hiđroxit cần 100 ml dung dịch NaOH 1M. Tính nồng độ mol/lit của mỗi ion
trong X?
d. Cô cạn 100 ml dung dịch X (trong điều kiện không có không khí) được
m gam muối khan. Tính m.
Mức độ 2: Một dung dịch X có chứa các ion: làm

1. Thế nào là chất điện li? Hiện tượng điện li? Viết phương trình điện li của
HCl, NaCl?
2. Cấu tạo của phân tử nước có đặc điểm gì là cho dung môi nước có vai trò
quan trọng trong quá trình điện li của chất tan? Giải thích sự dẫn điện của
dung dịch HCl và dung dịch NaCl.
3. Giải thích tại sao dung dịch HCl với dung môi nước là dung dịch điện li
còn dung dịch HCl dung môi benzen là dung dịch không điện li,
11
Bài 2:
1. Hòa tan 2 muối và vào nước thu được dung dịch A
có mặt các ion: . Hãy giải thích?
2. Hòa tan 2 muối và vào nước thu được dung dịch A.
Dung dịch có thể có mặt những ion nào?
3. Dung dịch A có mặt các ion: . Hãy nghĩ
cách điều chế A bằng cách hòa tan 2 muối vào nước.
Bài 3:
1. Giải thích hiện tượng và viết các phương trình phản ứng xãy ra trong các
thí nghiệm sau:
a. Cho từ từ dung dịch đến dư vào dung dịch NaOH, xuất hiện kết
tủa nhưng kết tủa tan nhanh.
b. Cho từ từ dung dịch NaOH đến dư vào dung dịch AlCl
3
, xuất hiện kết tủa
trắng nhiều dần sau đó lại tan dần cho đến hết.
2. Dự đoán hiện tượng và giải thích khi:
a. Cho từ từ dung dịch AlCl
3
(đến dư) vào dung dịch NaOH.
b. Cho từ từ dung dịch NaOH (đến dư) vào dung dịch AlCl
3

- Ống 5: có khí thoát ra, dung dịch trong suốt.
Hãy chỉ ra các ống và viết phương trình hóa học xãy ra.
3. Có 5 dung dịch: (NH
4
)
2
SO
4
; NH
4
Cl; FeCl
2
, AlCl
3
, FeCl
3
. Chỉ được
dùng Ba và H
2
SO
4
loãng hãy nhận biết các dung dịch trên.
Bài 5:
1. Cho hỗn hợp các kim loại Mg, Ca, Fe với số mol mỗi kim loại là 0,1 tan
hết trong 600 ml dung dịch HCl 1M. Cô cạn dung dịch thu được m gam muối
khan. Giá trị của m là:
A. 33,3 B. 34,5 C. 32,7 D. 36,6
2. Cho hỗn hợp các kim loại Mg, Ca, Fe trong đó mỗi kim loại có khối
lượng bằng 1/10 khối lượng mol mỗi kim loại tương ứng tan hết trong dung
dịch HCl dư. Cô cạn dung dịch thu được m gam muối khan. Giá trị của m là:

SO
4
(chứa a
mol) vào dung dịch NaOH (chứa b mol). Tìm pH của dung dịch khi b = 2a ?
2- Cho 100 ml dung dịch A chứa 0,49 gam H
2
SO
4
. Dung dịch B có 100 ml
chứa 0,4 gam NaOH . Tính pH của mỗi dung dịch và của dung dịch sau khi
pha A với B?
13
3- Cho 100ml dung dịch H
2
SO
4
có chứa 0,49 gam axit nguyên chất vào 100
ml dung dịch NaOH có chứa 0,4 gam NaOH nguyên chất. Tính pH của dung
dịch thu được khi pha loãng 10 lần?
III. Thực nghiệm sư phạm
Do đặc điểm của đề tài là xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa nên
việc thực nghiệm được tiến hành trong tiết ôn tập. Tôi tiến hành thực nghiệm
sư phạm tại trường THPT Quảng Xương 4 là nơi tôi đang công tác. Đây là
trường có đội ngũ giáo viên với trình độ vững vàng, đồng đều. Cơ sở vật chất
của nhà trường rất đầy đủ, hiện đại. Để có số liệu khách quan và chính xác tôi
dạy ở các lớp 11A và 11B với sĩ số mỗi lớp là 46 em, trong đó tôi chọn lớp
11A làm lớp thực nghiệm và lớp 11B làm lớp đối chứng. Học lực của các em
có yếu, trung bình và khá giỏi. Địa bàn phân bố của các em nằm rãi rác trong
các xã nên việc chọn các lớp trên vào mẫu thực nghiệm là khách quan. Nhìn
chung hai lớp có lực học ngang nhau.

triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và kỹ năng
chuyển từ lý thuyết sang tư duy thực hành cho mọi đối tượng học sinh.
- Khó khăn và thuận lợi khi áp dụng rộng rãi đề tài
+ Vì bài tâp sát đối tượng học sinh nên rất được học sinh ủng hộ, học sinh
nhiệt tình và đạt kết quả tốt.
+ Giáo viên phải hiểu rõ về dạy học phân hóa từ đó xây dựng bài soạn, các
bài tập và câu hỏi.
+ Trước khi dạy học phân hóa thì giáo viên phải phân hóa học sinh. Điều này
đòi hỏi giáo viên phải nắm rõ tình hình học tập của học sinh cũng như đặc
điểm tâm lý của các em thì mới phân loại được chính xác, do đó rất khó khăn,
cần có sự kiên trì chịu khó của giáo viên.
+ Dạy học phân hóa phải thực hiện trong thời gian lâu dài thì mới có kết. Do
đó giáo viên cần có quyết tâm, kiên trì, có nhiệt huyết thì mới thực hiện được.
Tóm lại: Từ việc nghiên cứu đề tài này tôi khẳng định hướng đi của đề
tài là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với hướng đổi mới phương pháp dạy học
hiện đại. Trong khi viết đề tài này chắc chắn tôi chưa thấy hết được những ưu
điểm và tồn tại trong tiến trình áp dụng, tôi rất mong muốn được sự góp ý phê
bình của các đồng nghiệp để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 13 tháng 05 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Lê Duy Chiến
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC 11
( Nhà xuất bản Giáo Dục)
[2] BÀI TẬP HÓA HỌC 11
( Nhà xuất bản Giáo Dục)
[3] SÁCH GIÁO VIÊN HÓA HỌC 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status