skkn giúp học sinh khắc phục những sai lầm thường gặp khi giải bài tập hóa học ở trường thpt quảng xương 4 - Pdf 18

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Quyết định số 16/2006/QĐ. BGD & ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng bộ
Giáo dục và Đào tạo đã nêu: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh,
điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả
năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Để đạt các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo dục
từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học
tích cực”. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát hiện,
khai thác và xử lí thông tin,…Học sinh tự mình hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất. “Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh:
cách tự học, sáng tạo, hợp tác,…dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa
học, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện tại và
tương lai…Giúp học sinh nhận thức được những điều đã học cần thiết, bổ ích
cho bản thân và cho sự phát triển xã hội.
Trong chương trình THPT, Hoá học là một bộ môn khoa học tự nhiên có
vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông. Môn học cung cấp cho học sinh
một hệ thông kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, rèn
cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan nhanh nhạy .Vì vậy giáo
viên bộ môn hoá học cần hình thành ở các em một kỹ năng cơ bản ,thói quen
học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận
thức và năng lực hành động. Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết
như tính cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác yêu khoa học. Nhằm đạt
được mục tiêu đào tạo ra thế hệ những người lao động đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành giáo dục và đào tạo phải tiến hành đổi
mới trên mọi mặt: nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện,….Trong đổi
mới hoạt động dạy học hóa học, vai trò của BTHH đặc biệt quan trọng nhằm
thực hiện tốt các nhiệm vụ của bộ môn hóa học, đi tới mục tiêu nâng cao một
bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh (HS), tạo ra một môi trường giáo

- Học sinh khối 12, học sinh ôn thi đại học,ôn thi học sinh giỏi.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy
học,
Các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học tích cực bộ môn hóa.
Nghiên cứu thực trạng dạy học hóa lớp 12 ở Trường THPT Quảng Xương
IV.
-Phân tích các sai lầm học sinh thường mắc khi giải bài tập Hoá học.
2

B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Để hướng dẫn HS phát hiện và phân tích những sai lầm trong quá trình
giải bài tập hoá học ở trường THPT ta cần hiểu rõ một số vấn đề và lý luận dạy
học sau:
1. Tìm hiểu sai lầm và cơ chế phát sinh sai lầm trong dạy học
a .Khái niệm về sai lầm- sai lầm trong nghiên cứu khoa học
Theo trung tâm từ điển học ,từ điển Tiếng Việt (nhà xuất bản KHXH , Hà
Nội 1994).Thì sai lầm là “ trái với yêu cầu khách quan ,lẽ phải dẫn đến hậu quả
không hay” .
Sai lầm không chỉ xuất hiện trong cuộc sống mà còn xuất hiện cả trong
học tập, nghiên cứu khoa học. Alber Einstein nói về tác hại của sai lầm trong
nghiên cứu khoa học “ nếu tôi mắc sai lầm thì chỉ cần một lần cũng đủ
rồi”.Trong giáo dục Komensky khẳng định “bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể
làm cho học sinh kém đi, nhưng giáo viên không chú ý tới sai lầm đó bằng cách
hướng dẫn học sinh nhận thức sửa chữa khắc phục sai lầm. A.A Stoliar cũng đã
lên tiếng nhắc nhở giáo viên “ không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ
học các sai lầm của học sinh”
b.Nguyên nhân phát sinh các sai lầm của học sinh trong giải bài tập HH.
Qua tìm hiểu thực tế ở các lớp tôi trực tiếp giảng dạy,tìm hiểu quá trình

phản ứng oxi hoá khử
Phản ứng oxi hoá khử là kiến thức rất quan trọng nó xuyên suốt trong
quá trình hoá học vô cơ , trong kiểm tra kiến thức trong các kì thi tốt nghiệp, đại
học và trong các kì thi chọn học sinh giỏi tỉnh thành phố,cho đến các kì thi quốc
gia đều có kiểm tra kiến thức về phản ứng oxi hoá khử . Việc vận dụng kiến
thức về phản ứng oxi hoá khử không thật đơn giản và dễ.Sau đây là một số
“nhầm lẫn” về việc vận dụng kiến thức
Ví dụ 1: Cho 39,2g hỗn hợp M gồm Fe, FeO, Fe
2
O
3,
Fe
3
O
4
,CuO và Cu
(trong đó oxi chiếm 18,367%về khối lượng) tác dụng vừa đủ với 400 ml dung
dịch HNO
3
nồng độ a mol/l,thu được 0,2 mol NO(sản phẩm khử duy nhất của
N
5+
) .Gía trị của a là: A. 2,0

B.4,25

C .3,0 D.1,0
Phân tích :

HS sẽ áp dụng pp bảo toàn e như sau:

O
4
,FeO,Fe
2
O
3
,Cu. Vậy
phải giải như sau: tách hỗn hợp thành Fe, Cu và O
4

Ta có khối lượng oxi=7,2g nên số mol oxi là 0,45mol
Ta có quá trình oxi hóa: Fe  Fe
3+
+3e
x 3x
Cu Cu
2+
+2e
y 2y
Quá trình khử: O + 2e  O
2-
0,45 0,9
N
5+
+ 3e  N
2+

0,6 0,2 mol
Áp dụng bảo toàn e ta có:3x +2y=1,5= số mol HNO
3

4 đ
 Fe
2
(SO
4
)
3
+H
2
O +SO
2
* Phân tích : với loại câu hỏi học sinh thường áp dụng kiến thức về điện li
và trình bày với kết quả như sau:
a . - phương trình ion đầy đủ:
Al +4H
+
+NO
3
-
 Al
3+
+ 3NO
3
-
+NO

+ H
2
O
- Phương trình ion rút gọn: Al +4H

c.phương trình ion đầy đủ:
2Fe +12H
+
+6SO
4
2-
 2Fe
3+
+3SO
4
2-
+6H
2
O+3SO
2
Phương trình ion rút gọn:
2Fe +12H
+
+3SO
4
2-
 2Fe
3+
+ 6H
2
O+3SO
2
Với cách giải trên học sinh học sinh phạm một sai lầm ở câu (c) đó là
nhìn phương trình ion rút gọn ta thấy SO
4

tập là điều khó tránh khỏi . Giáo viên nên dự đoán về sai lầm để tạo tình huống
có vấn đề trong bài tập ,phần nào giúp học sinh hiểu được những sai lầm đó qua
hoạt động giải bài tập, tránh mắc những tình huống tương tự sau khi đã hiểu
kiến thức một cách chính xác.
Ví dụ 3:
ốt cháy hoàn toàn 7,2 gam một hợp chất A ,thu được 22gam CO
2
. Tìm
CTPT của A.
Phân tích :với bài tập này nhiều học sinh đưa ra lời giải như sau:
Từ giả thiết ta có số mol CO
2
=0,5mol=số mol CmC= 6g mH=1,2
gam ,với CTTQ của A là C
x
H
y
ta có x:y= mC/12:mH/1==5:12 vậy công thức
hợp chất A là C
5
H
12.
Với cách giải trên nhiều học sinh đã phạm sai lầm là nhầm lẫn giữa công
thức thực nghiệm và công thức phân tử, thực chất của việc giải trên mới tìm ra
CTTN, để có CTPT ta phải làm như sau:
nCO
2
= 1mol mH =2,4gam nH
2
O=1,2mol. Do nH

6
4s
2
3d
2
c. 1s
2
2s
2
2p
6
4s
2
* Phân tích : đây là bài tập kiểm tra về kiến thức cấu hình e nguyên tử
.Vậy học sinh phải hiểu khái niệm về cấu hình electron và phương pháp viết cấu
hình electron,cụ thể là :
Bước 1: mức năng lượng 1s2s2p3s3p4s3d4p5s4d5p….
Bước 2 : hiểu rõ các quá trình viết cấu hình electron: sắp xếp các phân
lớp theo đúng trật tự của từng lớp trong mỗi lớp theo đúng thứ tự phân lớp
Với kiến thức này học sinh sẽ áp dụng giải quyết vấn đề trên như sau:
a.
1s
2
2s
1
2p
5
Điểm sai vi phạm về việc sắp xếp e theo trật tự mức năng lượng
Sửa sai: chủ yếu học sinh sửa lại theo kết quả:1s
2

2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
2
4s
2
.Tuy nhiên cấu hình e trên HS có
thể sửa theo kết quả không bảo toàn:1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
4s
2
6

c. 1s
2
2s
2

1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
x
4s
2
. với x= 0,1,2,3,5,6,7,8,10
Ví dụ 5: xác định sản phẩm chính của phản ứng sau :
CH
2
=CH-COOH +HBr
* Phân tích : đây là câu hỏi về phản ứng cộng hợp các tác nhân bất đối
xứng vào liên kết đôi C=C .Để giải quyết vấn đề này học sinh phải vận dụng
quy tắc Maccopnhicop.
+ Áp dụng CH
2
=CH-COOH + HBr→ CH
3
-CHBr-COOH( SPChính).
với cách giải quyết trên học sinh đã vướng vào cái “ bẫy” là phản ứng
trái với quy tắc Maccopnhicop vì 2 liên kết đôi liên hợp C
3

3
. Vì vậy ,các em sẽ giải quyết bài tập bằng việc viết các
PTHH :Fe + 4HNO
3
→Fe(NO
3
)
3
+ NO+ 2H
2
O
4Fe(NO
3
)
3
→2Fe
2
O
3
+12 NO
2
+3O
2
Vậy chất rắn là Fe
2
O
3 ,
hỗn hợp khí là NO
2
và O

n
NO
2
+
n
O
2
= 6
n
Fe
2
O
3
+3/2
n
Fe
2
O
3
=15/16 mol.
Tuy nhiên cách giải trên học sinh đã sai lầm là không chú ý dữ kiện kim
loại đây là kim loại Fe,khác với kim loại khác ở chỗ khi Fe dư thì xãy ra phản
ứng: Fe +2Fe(NO
3
)
3
 3Fe(NO
3
)
2

(I) Số electron lớp ngoài cùng trong nguyên tử R là 7
(II) Công thức oxit cao nhất tạo ra từ R là: R
2
O
7
(III) Công thức với hidro tạo ra từ R là RH
(IV) Công thức hidroxit tương ứng là HRO
4
.
Số nhận xét đúng là:
A. 4

B.1 C. 3 D. 2
* Phân tích:Bài tập trên là bài kiểm tra kiến thức học sinh về nội dung
Bảng tuần hoàn,. Để làm bài tập này học sinh phải nắm vững kiến thức về
CTTQ của các hợp chất quan trọng: số e tối đa trong mỗi phân lớp, oxit cao nhất
, hiđroxit, hợp chất khí với hidro của các nguyên tố nhóm IA đến VIIA. Học
sinh dễ dàng suy ra n=2 , nguyên tố thuộc nhóm VIIA.
Với kiến thức đó các nguyên tố nhóm VIIA, học sinh sẽ chọn đáp án A.
Tuy nhiên học sinh đã mắc sai lầm là nguyên tố thuộc chu kì 2,thì kết
quả trên là sai .Ở nhóm VIIA ,chu kì 2 là nguyên tố F,do đặc điểm cấu tạo
nguyên tử F nên công thức oxit cao nhất của F là F
2
O, F không có công thức
hidroxit tương ứng là HRO
4
.Vì vậy chọn D.
Ví dụ 8: dãy gồm các chất đều tác dụng với Fe(NO
3
)

)
2
+ HCl có phản ứng dạng ion như sau:
8

Fe
2+
+2H
+
+NO
3
-
 Fe
3+
+ NO

+ H
2
O.
Vậy chọn đáp án C.
Ví dụ 9:cho các chất p-crezol, natrietylat, alanin, phenylamoniclorua,
protein,số chất phản ứng với NaOH là:
A. 5 B. 4 C . 3 D. 2
* Sai lầm : học sinh thường chọn đáp án B là gồm 4 chất p-crezol, alanin,
phenylamoniclorua, protein.
* Phân tích: Học sinh đã sai lầm khi không để ý phản ứng
C
2
H
5

3
không xãy ra phản ứng do AgOH không tồn tại.
Vậy học sinh chọn đáp án D.
* Phân tích: Do AgOH không tồn tại nên đã bị phân huỷ tạo thành
Ag
2
O+H
2
O. Vì vậy NaOH vào dung dịch AgNO
3
tạo kết tủa => đáp án C.
Ví dụ 11:
Fructozo phản ứng được với
A. dd Br
2 ,
B. Cu(OH)
2
, C. KMnO
4
D. cả ba chất
* Sai lầm: Đa số HS chọn đáp án D vì các em suy nghĩ rằng Fructozo là
một ancol đa chức nên phản ứng với Cu(OH)
2
có cân bằng
Fructozo ↔ Glucozo , nên có phản ứng của nhóm chức
CHO,bị oxi hoá bởi các chất oxi hoá như dd brom, dd KMnO
4
* Phân tích : thực ra để có cân bằng Fructozo ↔ Glucozo , thì cần phải
có môi trường OH
-

2
NH
2
(benzylamin) thấy quỳ tím
chuyển thành màu xanh.
C. Cho từ từ anilin vào dung dịch HCl thấy tan dần vào dung dịch HCl.
D. Cho propilen vào dung Br
2
, Br
2
bị mất màu và thu được dung dịch
đồng nhất trong suốt.
*Sai lầm : hầu hết học sinh đã chọn đáp án B.Vì cho rằng amin thơm rất ít
tan trong nước nên không làm đổi màu quỳ tím .
*Phân tích :
Benzylamin là một trường hợp đặc biệt,tan rất nhiều trong nước và đổi
màu quỳ tím ,vì có phản ứng thuỷ phân với nước. Vì vậy chọn đáp án A.
.3. Vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lý và
triệt để trong công việc giải các bài tập hoá học.
Một số sai lầm phổ biến như khi tính theo PTHH hoặc sơ đồ phản ứng
mà quên cân bằng , hoặc cân bằng không đúng ,hiểu sai công thức tính toán
trong hoá học,sử dụng đơn vị tính không thống nhất, không để ý đến hiệu suất
của phản ứng, không xác định được chất nào hết hay dư,trong quá trình phản
ứng , hiểu sai tính chất của các chất nên viết PTHH không chính xác, thiếu các
khái niệm cơ bản ,khi sử dụng phương pháp giải bài tập.
Ví dụ 14: Hỗn hợp X gồm HCOOH, CH
3
COOH, có số mol bằng nhau.
Lấy 5,3g hỗn hợp X cho tác dụng với 5,75g C
2

hiệu suất phản ứng m=8,8.0,8=7,04g=> đáp án A
Rõ ràng kết quả này cũng chưa chính xác vì học sinh mắc sai lầm khi tính
toán theo lượng chất dư C
2
H
5
OH(H=100%) Hướng dẫn học sinh tìm số mol axit
và so sánh với ancol xem chất nào là chất thiếu trong PTHH .
Gọi x là số mol mỗi axit ,ta có: 46x+60x=5,3  x=0,05, số mol
axit=0,1<0,125 nên tính theo axit
RCOOH +C
2
H
5
OH RCOOC
2
H
5
+ H
2
O
1mol 1 mol  m tăng

=18g
0,1mol m tăng =2,8g
Vậy khối lượng Este m=(5,3+2,8).0,4=3,24g => đáp án B.
Ví dụ 15: trong một cốc nước chứa a mol Ca
2+
, b mol Mg
2+

c 2xV 2Xv
CO
3
2-
+ Mg
2+
 MgCO
3

b b
CO
3
2-
+ Ca
2+
 CaCO
3
a+xV a+xV
vậy ta có a+b+xV=2xV =>V=b+a/x => đáp án B(nhiễu)
* Sai lầm ở đây là học sinh không biết được độ tan của Mg(OH)
2
(T=5.10
-12
)nhỏ hơn nhiều so với MgCO
3
( T=10
-5
) nên có sự ưu tiên tạo kết
tủa Mg(OH)
2

2b b
CO
3
2-
+ Ca
2+
 CaCO
3
c c
vậy ta có a+xV=c và a+2b=2xV =>V=2b+a/x => đáp án A.
Ví dụ 16 : Cho 31,84g NaX và NaY (X,Y là 2 halozen ở 2 chu kì liên tiếp)
vào dung dịch AgNO
3
dư thì thu được 57,34 g kết tủa. Công thức 2 muối là:
A. NaCl và NaBr B. NaBr và NaCl
C. NaF và NaCl D. NaF và NaCl hoặc NaBr và NaI.
*Phân tích : hầu hết học sinh sẽ giải bài tập này bằng cách chuyển bài
toán hỗn hợp thành bài toán 1 chất tương đương bằng việc gọi công thức tổng
quát chung 2 muối là :NaX
PTHH đã được viết là: NaX + AgNO
3
 AgX + NaNO
3

23+X 108+ X
31,84 57,34
X=83,18 ,suy ra 2 halozen là Br và I=> Đáp án B
Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm là cho cả 2 muối đều tạo
kết tủa với dung dịch AgNO
3


Ví dụ 17: Đun một chất hữu cơ A đơn chức có khối lượng 8,6 gam trong
môi trường kiềm ta thu được 2 chất hữu cơ B và C .Chất B không phản ứng
tráng gương ,còn lượng chất C tác dụng với Ag
2
O/NH
3
thu được 21,6 gam Ag và
chất D. Khi cho D tác dụng với NaOH tạo chất B. Tìm CTCT A,B,C.
Giải:
* Sai lầm ,hầu hết học sinh đều có thói quen suy nghĩ rằng:
khi thuỷ phân este trong môi trường axit tạo axit và ancol
khi thuỷ phân este trong môi kiềm tạo muối và ancol .Do đó bài tập trên
học sinh sẽ nhầm tưởng B là ancol còn C là HCOOH, A là este.
* Phân tích :ta giả sử C là chất có chức anđehit, CTTQ : RCHO
Ta có RCHO + Ag
2
O  RCOOH +2Ag
RCOOH + NaOH RCOONa +H
2
O .
Theo 2 phản ứng trên :
số mol RCOOH=nRCOONa= nRCHO =1/2 .nAg=0,1 mol
Gỉa sử A là este đơn chức RCOOR
1
+NaOH  RCOONa +R
1
OH
0,1 0,1 0,1
Theo giả thiết M

3
CHO có phản ứng tráng
gương. Vậy A là CH
3
COOCH=CH
2
.
Ví dụ 18:
Hoà tan 2,8 gam Fe trong 150ml dung dịch HCl 1M, sau phản ứng thu
được và khí H
2
. Cho lượng dư dung dịch AgNO
3
vào dung dịch X thì thu được
m gam chất rắn. H ãy tìm giá trị m
Giải :
* Sai lầm hầu hết học sinh làm như sau :
PTHH: Fe + 2 HCl FeCl
2
+ H
2
(1).
0,05 0,1 0,05 mol
Ag
+
+ Cl
-

 AgCl


.5. Không xét hết các trường hợp dẫn đến thiếu nghiệm .
Một số học sinh thường mắc sai lầm khi giải bài tập không chú ý đến
các tính chất đặc biệt của các phản cũng như các chất sản phẩm , như tính
lưỡng tính của các oxit , hiđroxit lưỡng tính quá trình hoà tan các kết tủa của
các oxit axit như hoà tan CaCO
3
bởi CO
2
,Vì vậy học sinh thường xét thiếu
nghiệm .Sau đây là một số ví dụ .
Ví dụ 19:
X là một dung dịch chứa 0,1 mol AlCl
3
, Y là dung dịch NaOH
1M. Cho dung dịch Y tác dụng với dung dịch X thu được kết tủa là 3,9 gam. V
dung dịch X là :
A . 0,15 lít B. 0,32lít C. 0,15 lít hoặc 0,35lít D. 0,35 lít.
* Sai lầm :
Hầu hết học sinh đều giải theo cách sau :
PTHH: AlCl
3
+3 NaOH Al(OH)
3
+ 3NaCl
Bđ 0,1 1V 0,05
Qua số mol Al(OH)
3
ta thấy AlCl
3
dư, nên NaOH hết;

2
(5).
Những chất nào trong các chất trên bị hoà tan trong dung dịch NH
3
.
14

A. Chỉ có 1,2 B. Chỉ có 1,2,3. C. Chỉ có 1,3 D. 1,2,3và 5
* Sai lầm :
Đa số học sinh thường chọn 1,2 vì học sinh nghĩ ngay đến khả năng tạo
phức của dung dịch NH
3
với Cu(OH)
2
(1), AgCl(2), nên chọn đáp án A
*Phân tích : đề ra yêu cầu tìm chất bị hoà tan trong dung dịch NH
3
nên có
thêm NaOH vì NaOH không phản ứng nhưng tan trong dung dịch NH
3
, nên
phải chọn B
Ví dụ 21 :
Để điều chế Cl
2
trong phòng thí nghiệm có thể dung các cách sau :
1.Cho dung dịch KMnO
4
+ dung dịch HCl đặc
2. Cho dung dịch KMnO

không dùng phương pháp diện phân .
Vậy chỉ có phương án (1) là hợp lí nên chọn đáp án A.
Ví dụ 22 : dãy gồm các chất đều làm mất màu dung dịch Brom là:
A. Xiclobutan, propilen, axetilen, butadien.
B. Propilen, axetilen, glucozo, triolein.
C. Benzen, axetilen , etilen,tripanmitin.
D. Propilen, axetilen, butadiene, saccarozo.
* Sai lầm : hầu hết học sinh khi giải quyết kiến thức trên thấy các chất
trong câu A đều thoả mãn, nên chọn đáp án A .
* Phân tích :Xiclobutan chỉ có khả năng phản ứng với Brom khan ,chứ
không phản ứng với Br
2
dd trong dung môi CCl
4
=> đáp án dung là B
Ví dụ 23: Cho 0,1 mol mantozo thuỷ phân với hiệu suất 60% . Cho sản
phẩm tác dụng với lượng dư dung dịch AgNO
3
/ NH
3
thu được m gam
kết tủa . Giá trị của m là:
15

A. 34,56 g . B. 43,2g . C. 38,88g . D .17,28g .
*Sai lầm: hầu hết học sinh sẽ làm như sau :
C
12
H
22

3
sau phản ứng thu
được 0,224 lít khí N
2
(đktc) và dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được m
gam muối khan. Gía trị của m là:
A. 14,8 B. 13,8 C .15,8 D .7,4
* Sai lầm: hầu hết học sinh đều nghĩ rằng ,vì Mg phản ứng hết , nên muối
tạo thành là Mg(NO
3
)
2
có khối lượng là: 0,1. 148=14,8 g =>đáp án A(nhiễu)
* Phân tích: học sinh đã không để ý đến giá trị V
N2
,nên ta phải sử dụng
phương pháp bảo toàn electron :
Qúa trình oxi hoá: Mg Mg
2+
+2e
0,1 0,1 0,2 mol.
Qúa trình khử : 2N
5+
+ 10e N
2
0,1 0,01 mol.
Vậy chứng tỏ trong dd muối có NH
4
NO
3

nghiệm. Các em phải tận mắt quan sát được các hiện tượng và giải thích được
các hiện tượng đó một cách khoa học.Từ đó, các em khái quát và hình thành nên
tư duy thực nghiệm hoá học.
IV. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC:
Như vậy, đổi mới dạy và học hiện nay là hướng tới học tập chủ động, tích
cực, tự tòm tòi, chống thói quen học tập thụ động. Các phương pháp tích cực
hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học
phải gắn liền với giá trị thực tiễn của nội dung bài học. Đó là nhu cầu cũng là xu
hướng của giáo dục thời hội nhập để rèn luyện cho học sinh khả năng tự lực,
nhạy bén trong cuộc sống bao gồm các kĩ năng đặc trưng chung là :
Khả năng liên hệ thực tế các vấn đề học tập vào cuộc sống.
Khả năng tự học.
Khả năng tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Tăng cường học tập cá nhân phối hợp với học tập hợp tác.
Áp dụng các bài tập mà học sinh thường mắc sai lầm nên lồng ghép vào
các giờ luyện tập ,giờ học yêu cầu và lựa chọn đúng nội dung bài, thời gian hợp
lí trong giờ học mới cuốn hút sự chú ý, tập trung của học sinh tạo không khí
thoải mái trong tiết học, mới tạo được ý thức học tập và yêu thích bộ môn.
Khi tôi chưa áp dụng kinh nghiệm này thì tỉ lệ học sinh yêu thích bộ môn
hóa học không nhiều, các em vẫn ngại học môn Hoá. Từ đó dẫn đến kết quả học
tập,điểm thi đại học của học sinh không cao.
Sau khi tôi áp dụng phương pháp dạy học tích cực lồng ghép các bài tập
có vấn đề và phân tích các sai lầm thường gặp cho học sinh, chất lượng học tập
bộ môn này được nâng cao,tôi nhận thấy, trong quá trình tự học, học sinh tự tìm
tòi, phát hiện được nhiều phương pháp khác nhau trong giải bài tập hoá học.
Giúp cho niềm hứng thú, say mê trong học tập của học sinh càng được phát
17

huy.Trong những lần kiểm tra định kì ,kiểm tra chất lượng khối 12 (thi thử đại
học) kết quả tăng lên rõ rệt .

thông ngày càng tốt hơn.
Xác nhận của Ban giám hiệu Thanh Hóa, ngày 13 tháng 05 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người thực hiện
Hà Thị Hiền
19

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đề thi đại học cao đẳng các năm từ 2007 đến 2012.
2. Đề thi thử đại học cao đẳng các năm từ 2007 đến 2012
3. Cao Cự Giác .Thiết kế và sử dụng bài tập hoá học thí nghiệm trong
dạy và học hoá học.Nhà xuất bản giáo dục 2009.
4. Cao Cự Giác .Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập hoá
học.Nhà xuất bản Giáo Dục,2009.
5. Đào Hữu Vinh.500 bài tập hóa học. Nhà xuất bản giáo dục 1995.
20

MỤC LỤC
A. Phần mở đầu 1
I. Lý do chọn đề tài: 1
II. Mục đích nghiên cứu: 2
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
IV. Phương pháp nghiên cứu: 2
B. Nội dung: 3
I. Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề: 3
1. Tìm hiểu sai lầm và cơ chế phát sinh sai lầm trong dạy học 3
1.1. Khái niệm về sai lầm – sai lầm trong nghiên cứu khoa học 3
1.2. Nguyên nhân phát sinh các sai lầm của học sinh trong giải bài tập HH. .3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status