MỘT VÀI BIỆN PHÁP
KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG GẶP
KHI THỰC HIỆN TÍNH CHIA CHO HỌC SINH LỚP 3
A. PHẦN THỨ NHẤT. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Nhân loại đang sống vào những năm đầu của thế kỷ 21. Thế kỷ của những thành tựu khoa
học và công nghệ… đặc biệt chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc xã
hội với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” để đạt được
mục tiêu này, Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng đến giáo dục và đào tạo. Theo NQ của hội
nghị lần thứ tư BCHTW đảng khoá VII, Đảng đã đặt ra nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp
giáo dục và đào tạo” và Đảng đã xác định: “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện
mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Để thực hiện tốt trọng trách nặng nề và vô cùng vẻ vang mà Đảng, nhà nước và nhân dân
giao phó, giáo dục Tiểu học đã có sự thay đổi và lớn mạnh rõ rệt. Nội dung ngày một hiện đại,
tính hệ thống ngày một cao, bên cạnh đó phương pháp giảng dạy ngày một phong phú theo
hướng tích cực hoá. Đặc biệt giáo dục Tiểu học được coi là nền tảng không chỉ cho hệ thống
giáo dục phổ thông mà cho toàn hệ thống giáo dục quốc dân.
Hiện nay trong nhà trường tiểu học đã dạy đủ 9 môn học bắt buộc, ngoài ra bộ GD-ĐT còn
khuyến khích các trường có điều kiện dạy học thêm các môn tự chọn 2 buổi/ ngày. Trong bối
cảnh mới đã đặt ra những yêu cầu mới cho việc dạy và học. Học trò không còn là đối tượng thụ
động tiếp thu những kiến thức sẵn có do giáo viên truyền thụ mà bản thân các em trở thành chủ
thể của các hoạt động giáo dục .
Vào thời điểm ngành giáo dục nước nhà đang tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Hai
không” mà Bộ giáo dục phát động, bản thân là một giáo viên tôi muốn đóng góp phần công lao
nhỏ vào việc phát triển giáo dục nước nhà.
Qua việc học hỏi trên các phương tiện thông tin đại chúng và bạn bè đồng nghiệp, qua việc
giảng dạy thực tế trong những năm qua, bản thân tôi thấy không ít việc học sinh ngồi nhầm lớp,
việc học sinh ngồi nhầm lớp xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng điều chủ yếu cơ bản là các
em không nắm được kiến thức và kỹ năng cơ bản trong các môn học nói chung và môn toán nói
riêng, việc thực hiện các phép tính đơn giản như: cộng, trừ, nhân, chia với các em không phải là
đơn giản. Đặc biệt là khi thực hiện phép chia, các em còn lúng túng trong việc tìm thương (ước
2. Tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng thực hiện phép chia cho học sinh lớp 3:
Như chúng ta đã thấy việc học phép tính cộng, trừ với học sinh tiểu học tương đối dễ dàng,
do sự tự học, tích luỹ trong cuộc sống của trẻ khi chưa đến trường và do sự cọ sát thực tế, trẻ ít
nhất cũng biết cộng trừ bằng cách thêm, bớt như: 1 thêm 1 bằng 2; 3 bớt 1 bằng 2… . Từ việc
học phép cộng, phép trừ có vẻ dễ dàng hơn. Còn đối với phép nhân và phép chia, mãi tới lớp 2
các em mới được làm quen và được học bảng nhân, bảng chia (từ bảng nhân chia 2 đến bảng
nhân chia 5). Việc thực hiện phép tính nhân chia nằm trong bốn phép tính đơn giản nhưng nó
đòi hỏi kỹ năng nhiều hơn.
Chính vì vậy mà việc dạy học tính nhân, chia trong nhà trường Tiểu học tưởng rất bình
thường nhưng trong thực tế nó không hề đơn giản. Ở tiểu học việc học phép chia gắn liền với
việc học phép nhân. Việc xây dựng mỗi công thức chia đều dựa vào một công thức nhân tương
ứng. Chẳng hạn từ công thức nhân: 9 x 4 = 36 mà xây đựng được công thức chia: 36 : 9 = 4.
Đối với lớp Ba, phép chia được tiến hành đồng thời với phép nhân. Ngoài chia trong bảng
còn có chia ngoài bảng trong phạm vi 100 000. Nội dung chương trình môn toán lớp Ba về số
học có liên quan đến phép chia chiếm số lượng không ít. Học sinh được học chia số có hai, ba,
bốn, năm chữ số cho số có một chữ số. Học sinh phải thực hiện đúng và nhận biết chính xác
phép chia hết và phép chia có dư. Để từ đó áp dụng phép tính vào các dạng toán khác. Ngoài ra,
nó còn là cơ sở để học sinh thực hiện tốt các dạng toán cao hơn các lớp cuối cấp.
II. Cơ sở thực tiễn:
1. Thực trạng tình hình nhà trường:
Trường tiểu học 3 thị trấn Năm Căn là một trường thuộc địa bàn thị trấn Năm Căn, là một
trường trong những năm gần đây phong trào dạy và học đã có những phát triển rõ rệt. Qua tìm
hiểu tôi thấy đa số các hộ dân ở đây có cuộc sống khó khăn cha mẹ lo bươn chải làm ăn (hoặc
đi làm ăn xa) không có thì giờ kèm cặp con em dẫn đến con em học yếu. Một bộ phận học yếu
nữa là do gia đình di cư đến đây làm ăn theo mùa vụ, nay đây mai đó, hết mùa lại dời nhà đi
chính vì lẽ đó nhiều em học giở dang lại phải theo cho mẹ đi nơi khác…
Mặt khác do lớp học đông nên đôi khi giáo viên chủ nhiệm chưa quan tâm đúng mức.
Trong giờ toán chỉ hướng dẫn chỉ gọi được một số em, đặc biệt là các tiết dự giờ thì các em tính
toán yếu sẽ bị lãng quên…
2. Thực tiễn việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
3. Những sai lầm học sinh lớp 3 thường mắc phải khi thực hiện phép chia.
a. Đối với dạng toán chia hết:
Trường hợp thứ nhất:
Trong quá trình thực hiện phép tính nhiều học sinh còn lầm cách đặt tính tương tự cách đặt
tính cộng, trừ.
Ví dụ. 30 : 5 = ?
Học sinh đặt như sau:
30
:
5
6
Trường hợp thứ hai:
Học sinh biết đặt tính như lại chưa biết trình bày đúng phép tính:
Ví dụ:
42 : 6 =?
Học sinh sẽ làm:
Trường hợp thứ ba :
Học sinh chưa biết cách ước lượng thương, các em bỏ qua bước thử lại sau mỗi lần chia để
tìm số dư. Học sinh chưa nắm vững bảng nhân, bảng chia dẫn đến các em thực hiện sai.
Ví dụ : 27468 : 4 = ?
Học sinh sẽ thực hiện: 25468 4
04 611
06
08
b. Đối với những phép chia có dư:
Trường hợp thứ nhất:
Học sinh ước lượng thương sai dẫn đến số dư lớn hơn số chia.
Ví dụ: 2957 : 3 = ?
Học sinh thực hiện : 2957 3
ngay tại lớp.
Ở lớp ba, học sinh học tiếp các bảng nhân và chia 6, 7, 8, 9. Trong quá trình hình thành
bảng nhân, chia giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu và thuộc lòng các bảng nhân, chia. Thực
tế trong trường tôi do học sinh chưa có điều kiện học tập, không được sự quan tâm đúng mức
của các bậc phụ huynh (sự ỷ lại của gia đình giao toàn bộ trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm
lớp và nhà trường) dẫn đến học sinh thiếu tính tự giác học tập. Đa số các em không thuộc bảng
nhân, chia hoặc học sinh học theo một cách máy móc không biết áp dụng vào bài làm và học
vẹt. Chính vì vậy nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc học phép tính chia. Do đó, giáo viên phải
hết sức nhiệt tình, có phương pháp tổ chức cho học sinh học thuộc bảng nhân, chia, dưới nhiều
hình thức mà áp dụng sao cho phù hợp, đặc biệt là hình thức tổ chức trò chơi .
Khi vào lớp giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi vào 10 phút đầu giờ. Cho học sinh
thi đọc thuộc các bảng nhân, chia. Em nào thuộc sẽ được một bông hoa điểm 10 và có quyền chỉ
định bạn khác đọc tiếp, nếu không thuộc sẽ phải hát hoặc múa một bài cho các bạn xem. Sau
khi học sinh đã thuộc, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh rèn luyện kỹ năng bằng cách chia
học sinh thành 2 đội A và B. Đội A sẽ nêu phép tính nhân hoặc chia bất kỳ trong bảng nhân,
chia cho đội B trả lời, nếu trả lời đúng có quyền chỉ định lại số đội A. Giáo viên hoặc cán sự lớp
làm trọng tài, trong thời gian nhất định sẽ phân thắng bại.
Ngoài ra giáo viên có thể treo bảng nhân, bảng chia mà học sinh đã được học trên tường
lớp học để học sinh được tiếp cận hàng ngày, các em có thể học bất cứ lúc nào khi đến lớp.
4.2. Chuẩn bị của giáo viên trong từng tiết học.
Để hạn chế thấp nhất chất lượng học sinh chưa cập nhật được kiến thức khi thực hiện các
phép tính chia và giúp học sinh nắm bắt, khắc sâu được kiến thức, giáo viên phải có kế hoạch
bài dạy cụ thể, phân chia lượng thời gian hợp lí. Đối với phần hình thành kiến thức, giáo viên
phải tổ chức cho học sinh phát hiện, tự rút ra được các bước thực hiện phép tính chia.
Mặt khác, giáo viên phải tăng cường công tác tự rèn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ. Cải tiến công tác soạn - giảng, xây dựng kế hoạch dạy toán qua việc nghiên cứu kĩ các bài
toán có liên quan. Phải xác định nội dung, mục tiêu cơ bản cần đạt được trong tiết dạy để chuẩn
bị các loại đồ dùng cần thiết phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy.
Bên cạnh đó giáo viên phải xác định các biện pháp động viên, hỗ trợ và theo dõi học sinh
trong quá trình dạy – học toán. Giáo viên phải nắm được khả năng học tập của từng học sinh
6 (Đây là trường hợp đặt tính sai)
Trường hợp thứ hai:
Học sinh biết đặt tính nhưng lại chưa biết trình bày đúng phép tính thì giáo viên sẽ hướng
dẫn học sinh khi chia xong ta phải nhân ngược lại thương với số chia xem kết quả mình đã chia
đúng chưa.
Ví dụ:
42 : 6 = ?
42 6
42 7
0
Phải lấy 7 x 6 = 42; 42 ghi thẳng cột số bị chia và trừ cho nhau: bằng 0.
Trường hợp thứ ba:
Học sinh chưa biết cách ước lượng thương, các em bỏ qua bước thử lại sau mỗi lần chia để
tìm số dư. Học sinh chưa nắm vững bảng nhân, bảng chia dẫn đến các em thực hiện sai.
Ví dụ. 25 468 : 4 = ?
Học sinh có thể thực hiện: 25 468 4
04 611
06
08
Giáo viên thực hiện phép chia cho học sinh thấy khi ta nhân thử lại thì kết quả sẽ chưa
đúng vì sau mỗi lần chia ta quên không nhân ngược lại và trừ đi để tìm số dư cho lần chia tiếp
theo thì phép tính sẽ sai.
Giáo viên hướng dẫn để học sinh thực hiện như sau:
25468 : 4 = 6367
Đặt tính và tính: 25468 4
14 6367
26
28
0
chữ số 0 ở thương:
Ở trường hợp phép chia với số bị chia có chữ số hàng đơn
vị là chữ số 0 thì học sinh hay nhầm lẫn không thực hiện chia tiếp dẫn đến kết quả sai.
Ví dụ. 420 : 7 = ?
Có em thực hiện:
* Khi chia có chữ số 0 thì lưu ý học sinh số 0 chia cho số nào cũng bằng 0 và ngược lại 0
nhân cho số nào cũng bằng 0.
Khi thực hiện các lần chia tiếp theo sau lần chia đầu tiên, số bị
chia nhỏ hơn số chia, học sinh không thực hiện chia mà hạ tiếp số sau nó để chia nên dẫn đến
kết quả sai .
Ví dụ: 4249 : 7 = ?
Có học sinh thực hiện:
* Giáo viên lưu ý học sinh khi thực hiện các lần chia tiếp theo sau lần chia đầu tiên, tuy số
bị chia nhỏ hơn số chia nhưng vẫn phải thực hiện chia tiếp bằng cách thêm không ở kết quả sau
đó nhân ngược lại rồi trừ đi rồi mới hạ tiếp số sau nó để chia.
Trường hợp chia số có hai, ba, bốn, năm chữ số:
Giáo viên có thể cho học sinh thực hiện theo cách rút gọn.
Ví dụ. 26548 : 4 = ?
* 26 chia 4 được 6, viết 6;
6 nhân 4 bằng 24, 26 trừ 24 bằng 2.
Ở dạng bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra được phép tính a đúng, phép tính c sai,
cách trình bày ở lần thứ 2, phép tính sai vì chưa nhân thử lại để tìm số dư ở lượt chia thứ 3.
Ví dụ: Nối thông tin tương ứng ở cột a, với cột b.
8
72 : 8 = 10
56 : 8 = 5
64 : 8 = 7
40 : 5 = 9
30 : 5 = 6
Các dạng bài tập này giúp học sinh củng cố các bảng chia đã học và rèn luyện kĩ năng
nhẩm nhanh, giúp học sinh phân biệt được cái đúng, cái sai, biết chỉ ra cái đúng, cái sai, biết
nhận xét, đánh giá và trình bày quan điểm của mình trước những tình huống của bài.
Môn toán là môn học rất khô khan và trừu tượng. Để phát triển tư duy sáng tạo cho học
sinh sau khi học xong một đơn vị kiến thức nào đó và để gây hứng thú học tập cho học sinh,
chúng ta cần tăng cường các dạng bài như trên.
Dạng trò chơi học tập này giúp học sinh có thói quen không bằng lòng với kết quả đạt được
và có mong muốn tìm ra giải pháp tốt nhất cho bài của mình. Đặc biệt, giáo viên có thể rèn óc
tư duy và phương pháp suy nghĩ, khả năng phán đoán, khả năng loại trừ, khả năng ước lượng để
tìm ra đáp số đúng của học sinh, đồng thời giúp cho giáo viên trong một thời gian ngắn để có
thể củng cố hay kiểm tra được nhiều kiến thức của học sinh.
4.4. Biện pháp xây dựng đôi bạn cùng tiến:
Từ xưa ông cha ta đã có câu: “Học thầy không tày học bạn”. Như vậy đối với học sinh
còn lúng túng trong khi thực hiện phép tính, giáo viên sẽ tổ chức học tập theo nhóm, đôi bạn
học tập, hướng dẫn giao nhiệm vụ cho các bạn học khá, giỏi kèm theo bạn yếu.
Giáo viên nên tập trung 30 phút đầu giờ cho các em khá kèm các em yếu ngay trên bảng,
điều này vừa tạo cho học sinh khá, giỏi phát huy năng lực, khắc sâu kiến thức, vừa giúp học
sinh yếu kém cảm thấy thoải mái do được học và trao đổi với bạn đồng lứa tuổi.
4.5 Kết hợp với các tổ chức trong trường và kết hợp với phụ huynh học sinh.
như trên đã tự biết khắc phục, sửa chữa, học sinh trong lớp nắm vững cách thực hiện phép tính
chia. Số học sinh yếu môn toán giảm dần và không còn học sinh học yếu toán. Cuối năm lên lớp
100% tham gia vào công cuộc xóa mù chữ của xã hội.
* Sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp dụng thành công ở lớp, ở trường tôi trong năm học
trước. Năm học 2010 – 2011 này tôi cũng áp dụng và đạt được kết quả rất khả quan. Nó trực
tiếp liên quan đến kết quả chung của môn Toán lớp tôi như sau:
ạạạạ ạ
KQKS
Loại
Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng
Khảo sát chất lượng đầu năm Giữa học kì I Cuối học kì I Giữa học kì II
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
Giỏi 5 20.0 4 16.0 5 20.0
Khá 9 36.0 7 28.0 11 44.0 10 40.0
TB 10 40.0 10 40.0 9 36.0 9 36.0
Yếu 6 24.0 3 12.0 1 4.0 1 4.0
Tổng 25 100 25 100 25 100 25 100
Trên đây là những biện pháp khắc phục những sai lầm của học sinh khi thực hiện phép tính
chia ở lớp 3. Rất mong sự đóng góp của bạn bè đồng nghiệp để sáng kiến của tôi hoàn thiện
hơn.
Năm Căn, ngày 25 tháng 04 năm 2009
Người viết Lê Thị Thanh Tươi