Vai trò của nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay - Pdf 24

33=/.,m
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ KIM OANH
V
V
A
A
I
I
TRÒ CỦ
TRÒ CỦ
A
A
NHÀ
NHÀ
N
N
ƯỚ
ƯỚ
C
C
T
T
R
R
O
O
N
N
G
G

P
P
K
K
I
I
N
N
H
H
T
T


Q
Q
U
U


C
C
T
T
Ế Ở
Ế Ở
V
V
I
I

A
A
I
I
TRÒ CỦ
TRÒ CỦ
A
A
N
N
H
H
À
À
N
N
ƯỚ
ƯỚ
C
C
T
T
R
R
O
O
N
N
G
G

P
P
K
K
I
I
N
N
H
H
T
T


Q
Q
U
U


C
C
T
T
Ế Ở
Ế Ở
V
V
I
I

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả được sử dụng, nêu
trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và
được trích dẫn đầy đủ theo qui định.
Tác giả
Hoàng Thị Kim Oanh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
6
1.1. Các công trình nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế
6
1.2. Những nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong toàn cầu
hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
11
1.3. Các công trình nghiên cứu về vấn đề chủ động, tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
18
1.4. Đánhgiáchung về tìnhhình nghiên cứu liênquanđến vai trò của Nhà
nước Việt Nam trongchủđộngvà tích cực hội nhập kinh tếquốc tế
23
Chương 2: CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM – TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
28
2.1. Tính tất yếu của chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam hiện nay

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC : Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM : Diễn đàn họp tác Á – Âu
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
EU : Liên minh Châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
IMF : Quĩ Tiền tệ thế giới
LHQ : Liên hợp quốc
ODA : Viện trợ phát triển chính thức
USD : Đơn vị tiền tệ Mỹ (Đô la Mỹ)
WB : Ngân hàng Thế giới
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập quốc tế ngày nay đã trở thành xu thế tất yếu khách quan của
tiến trình phát triển nhân loại, trong đó, hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung
cốt lõi, căn bản, cơ sở nền tảng của toàn bộ tiến trình hội nhập.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt đem lại cho các quốc gia
những cơ hội tốt cho thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng mặt khác cũng khiến
các quốc gia phải đối mặt với muôn vàn rủi ro, thách thức. Tuy nhiên, mỗi
quốc gia khi tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế không phải đều cùng
nhận được những cơ hội hay phải gánh chịu những rủi ro, thách thức ngang

Nhờ đó chúng ta đã khai thác được nhiều giá trị từ tiến trình hội nhập cho
thúc đẩy kinh tế phát triển, đem lại cho nền kinh tế Việt Nam những bước
khởi sắc tốt đẹp với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm, năng
lực cạnh tranh và vị thế kinh tế của đất nước trên trường quốc tế không ngừng
được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, hiệu quả tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đến nay vẫn chưa thực sự như mong
đợi. Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và
lợi thế của đất nước. Nhiều nguồn lực của nền kinh tế chưa được khai thác,
phát huy tốt. Nền kinh tế cũng chưa tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ từ bên
ngoài cho việc giải quyết, ứng phó hiệu quả trước những khó khăn, thách thức
và biến động phức tạp của tiến trình hội nhập.
Một trong những nguyên nhân căn bản của thực trạng đó là do Nhà nước
chưa thực sự phát huy tốt vai trò của mình trong chủ động và tích cực chỉ đạo,
điều hành tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; năng lực quản lý, điều tiết kinh tế
vĩ mô của Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém; hệ thống pháp luật, bộ
máy hành chính Nhà nước chưa đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của tiến trình
hội nhập và yêu cầu phát triển đất nước, v.v…
Vì vậy, việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác được nhiều hơn nữa những lợi ích to lớn
từ hội nhập cho thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển đất nước vẫn là
nội dung cần chú trọng trong tiến trình hội nhập ở nước ta thời gian tới.
3
Hơn thế, trong bối cảnh hội nhập quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như
hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức
nan giải (ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế, mất ổn định
chính trị diễn ra ở nhiều quốc gia; đối phó với những âm mưu chống phá từ các
lực lượng thù địch và những toan tính xâm lược, chèn ép nước ta trên nhiều
lĩnh vực ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc;…), Nhà nước càng cần phải
phát huy hơn nữa vai trò của mình trong chủ động và tích cực hội nhập; chỉ đạo
khai thác, kết hợp tối đa nội lực và ngoại lực nhằm củng cố và tăng cường sức

Luận án tập trung nghiên cứu về vai trò của Nhà nước Việt Nam với
tư cách là bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng trong chủ động và
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu, khảo sát vấn đề vai trò của Nhà nước Việt Nam
trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn đất nước mở
rộng hội nhập từ năm 2000 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đặc biệt là các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về vấn đề hội nhập, vai trò của nhà nước trong bối cảnh hội
nhập nói chung, vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế nói riêng, đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã công bố liên quan tới đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít, đặc biệt là các
phương pháp lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát
hoá, đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như điều tra, thống kê xã
hội học… để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án phân tích, làm rõ sự cần thiết phải chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
5
- Phân tích dưới góc độ triết học vai trò của Nhà nước Việt Nam trong
việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá thực trạng, đồng thời đề xuất quan điểm và một số giải pháp
cơ bản góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước trong chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.

cách thứ nhất, theo chủ nghĩa liên bang, tức là xem hội nhập là sản phẩm cuối
cùng chứ không phải là một quá trình, với quan tâm chủ yếu dành cho thể chế,
hướng tới sự hình thành một nhà nước liên bang kiểu Hoa Kỳ và Thụy Sỹ; cách
tiếp cận thứ hai, xem hội nhập trước hết thể hiện ở sự liên kết giữa các quốc gia
thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, thư tín, thông tin, du
lịch, di trú, đào tạo trong một cộng đồng an ninh hợp nhất như Hoa Kỳ, hay
cộng đồng an ninh đa nguyên như Liên minh châu Âu (EU); cách tiếp cận thứ
ba, của những người theo phái tân chức năng, xem hội nhập dưới góc độ là hành
vi mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác giữa các chủ thể với nhau trong việc
hoạch định chính sách [29, tr.53-54].
Theo tác giả Nguyễn Vũ Tùng trong bài viết “Quan hệ giữa độc lập tự chủ
và hội nhập quốc tế” đăng trên Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới, số 2, năm
7
2009, hội nhập chính là quá trình chủ động tham gia ngày càng sâu rộng vào đời
sống mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội) của quan hệ quốc tế. Tác giả
cũng nhấn mạnh, ở mức độ trừu tượng hơn, hội nhập còn là quá trình chấp nhận
những qui tắc ứng xử mới đối với hành vi quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hoá và
hậu chiến tranh lạnh. Hội nhập là một tiến trình chủ quan, phụ thuộc vào sự lựa
chọn của từng nước [122].
Trong cuốn Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối
cảnh mới do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, năm 2011, các tác giả cho rằng, khái niệm hội nhập là một cách diễn đạt
khác về toàn cầu hoá. Nếu toàn cầu hoá (nhìn từ góc độ thể chế) là quá trình tạo
ra khung khổ phát triển chung, lôi cuốn các quốc gia đi theo thì hội nhập quốc tế
tự nó là quá trình hoá thân một cách chủ động của mỗi nước, mỗi khu vực vào
trong các thực thể khu vực, toàn cầu để một mặt, thể hiện được vị thế và tính tự
cường quốc gia, dân tộc, và mặt khác, tham gia loại trừ những khác biệt để mình
là một bộ phận hợp thành trong các chỉnh thể khu vực và toàn cầu đó. Hội nhập
quốc tế là quá trình liên kết có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp
độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước. Hội nhập quốc tế là quá trình chủ

là hợp tác kinh tế nhưng ở trình độ cao hơn, đáp ứng những đòi hỏi chặt chẽ
hơn như gắn kết với nhau, chia sẻ với nhau lợi ích, nguồn lực, quyền lực; tuân
thủ các quy tắc chung, luật chơi và chuẩn mực chung theo một quá trình phát
triển liên tục từ thấp đến cao, với những hình thức đa dạng, phong phú, phù
hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực hoặc từng cơ chế hội nhập. Theo
ông, hội nhập bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ đó mở rộng sang các lĩnh vực khác
của đời sống xã hội. Cũng có một số trường hợp hội nhập không bắt đầu từ
kinh tế, mà bắt đầu từ chính trị hay văn hóa như trường hợp các nước gia nhập
LHQ, hay trường hợp Việt Nam gia nhập ASEAN, nhưng trong quá trình phát
triển, kinh tế vẫn chiếm vị trí trọng tâm. Hội nhập quốc tế diễn ra không chỉ
trên cấp độ toàn cầu, mà còn ở nhiều cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao dưới
danh nghĩa "liên kết" hoặc "nhất thể hóa" như liên kết tiểu khu vực, liên kết
khu vực, liên kết liên khu vực, liên kết liên châu lục, liên kết trên bình diện
song phương hoặc đa phương [33].
Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hội nhập quốc tế, song từ quan
niệm của các học giả có thể thấy, hội nhập quốc tế là quá trình các nước gia tăng
9
các hoạt động gắn kết, hợp tác với nhau trên những lĩnh vực cụ thể theo những
nguyên tắc nhất định, phù hợp với mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia.
Ngoài việc đưa ra các quan niệm về hội nhập quốc tế, các tác giả cũng tập
trung phân tích một số đặc điểm, cũng như những tác động của quá trình hội
nhập quốc tế đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội toàn cầu nói
chung, đồng thời chỉ ra những thời cơ, thách thức, cũng như những yêu cầu, đòi
hỏi của quá trình hội nhập đối với Việt Nam nói riêng.
Bên cạnh các nghiên cứu về chủ đề hội nhập quốc tế, nhiều học giả đã dành
sự quan tâm, tìm hiểu sâu hơn về vấn đề hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội
nhập kinh tế quốc tế) trên tinh thần xác định đây là lĩnh vực, nội dung trọng tâm
của toàn bộ tiến trình hội nhập.
Trong cuốn Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam do GS.TS Nguyễn Xuân Thắng

nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, tác giả tiếp tục phân tích quá trình hội nhập kinh tế
khu vực của các nước ASEAN, triển vọng hội nhập kinh tế khu vực và một số
kinh nghiệm hội nhập của các nước này Những nội dung nghiên cứu của tác giả
có giá trị nhất định cả về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho công cuộc hội
nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng ở nước ta.
Trong cuốn Phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế do PGS.TS Nguyễn Văn Nam chủ biên, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, năm 2006, trước khi đi vào những nội dung nghiên cứu chính, các tác
giả cũng tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về toàn cầu hoá, hội nhập
kinh tế quốc tế. Cũng như nhiều học giả khác, các tác giả của công trình này quan
niệm, hội nhập thực chất là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu
vực hoá. Hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế
và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực
tự do hoá và mở cửa trên các cấp độ [87, tr.19, 20]. Tiếp đó, các tác giả phân tích
vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong
bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định, chỉ có phát triển kinh
tế thị trường, Việt Nam mới khai thác được các nguồn lực để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, mới hội nhập được với nền kinh tế thế giới hiện đại, tránh tụt hậu và đưa
đất nước phát triển với nhịp độ nhanh hơn, tiến tới phồn thịnh và phát triển bền
vững. Các tác giả cũng dành thời gian phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia
11
như Trung Quốc, Thái Lan và một số nước Đông Âu nhằm rút ra những bài học
cho Việt Nam trong việc chuyển đổi nền kinh tế tham gia hội nhập. Trên cơ sở
đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế của Việt Nam trong chính sách
hội nhập kinh tế quốc tế, các tác giả đưa ra những quan điểm, giải pháp mang tính
định hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta như xây dựng đồng bộ các yếu tố
thị trường, cải cách doanh nghiệp nhà nước, nâng cao năng lực cạnh tranh,…
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong bài viết “Nâng cao khả năng cạnh
tranh để hội nhập thành công” đăng trong sách Việt Nam 20 năm đổi mới và phát

Những xu hướng biến đổi lớn do TS Phạm Thái Việt chủ biên, Viện Thông tin
KHXH, Hà Nội, 2004; Toàn cầu hóa và sự tồn vong của nhà nước của Nguyễn
Vân Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, Vấn đề điều chỉnh chức
năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của toàn cầu hóa của Phạm Thái
Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, các tác giả đã cho thấy những quan
điểm không thống nhất, thậm chí là trái ngược nhau của nhiều học giả quốc tế
khi bàn luận về vai trò và xu hướng biến đổi của nhà nước trong thời đại mới.
Tựu chung lại có thể thấy hai luồng ý kiến khác nhau:
Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng, tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, hội
nhập quốc tế, vai trò của nhà nước ở các quốc gia sẽ giảm đi và ngày càng trở
nên không còn cần thiết nữa. Theo các học giả, quyền lực nhà nước đang bị phân
mảnh. Sự tiêu vong của nhà nước là tất yếu để thay bằng phương thức cai trị mới
tương hợp hơn. Bởi lẽ, tiến trình toàn cầu hoá gắn liền với cơ chế mở cửa, tự do
hoá trên nhiều lĩnh vực với sự hoạt động và gia tăng mạnh mẽ các qui luật khách
quan của kinh tế thị trường, các qui tắc, hiệp ước, điều lệ quốc tế, cùng với sự
chi phối, điều hành của các định chế, tổ chức tài chính kinh tế quốc tế lớn buộc
các quốc gia phải tuân thủ, chấp hành khi gia nhập “cuộc chơi toàn cầu”. Quá
trình đó tự nó tất yếu sẽ thu hẹp vai trò của nhà nước. Nhà nước sẽ dần mất đi
năng lực điều hành, quản lý xã hội hoặc không có khả năng tác động hữu hiệu
đến sự phát triển kinh tế xã hội trong kỷ nguyên toàn cầu hoá. Quyền lực tưởng
chừng là cố hữu, độc tôn của nhà nước trong lịch sử (tổ chức, quản lý, chỉ đạo,
điều hành, quyết định mọi vấn đề của đời sống kinh tế - xã hội) sẽ ngày càng bị
các nhân tố mới của toàn cầu hóa (các tổ chức, định chế toàn cầu, các công ty
xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ) cạnh tranh, lấn át, v.v…
13
Luồng ý kiến thứ hai khẳng định, mặc dù đang phải chịu áp lực nặng nề từ
những tác động của tiến trình toàn cầu hoá, hội nhập, song nhà nước vẫn có vai
trò quan trọng đối với các quốc gia. Các học giả cũng chỉ ra những thách thức
đối với vai trò của nhà nước trong điều kiện toàn cầu hóa khiến cho chức năng
của nhà nước dường như không còn quan trọng nữa đồng thời khẳng định, trong

quốc tế về vai trò quản lý nhà nước về kinh tế; đánh giá thực trạng những thành
tựu cũng như những hạn chế của quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta trong
khoảng mười năm kể từ đổi mới năm 1986; từ đó, các tác giả đề xuất quan điểm
định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta trong thời gian tiếp theo.
Tác giả Phạm Ngọc Quang với bài viết “Vai trò của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” đăng trên
Tạp chí Cộng sản, số 8, năm 2009 đã khẳng định, phát huy vai trò của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã hội, vì sự phát triển dân
chủ, văn minh của đất nước, đồng thời vẫn giữ được bản sắc chính trị - xã hội
của dân tộc trong thời kỳ hội nhập. Tác giả nhấn mạnh, ở Việt Nam hiện nay, vai
trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của
quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển nền
kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm sự
ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế; cân đối, hài hòa các quan hệ
nhu cầu, lợi ích giữa người và người; tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành
động vì mục tiêu phát triển của đất nước. Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của
việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do
Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất tạo ra sự tăng trưởng kinh tế
và sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, Nhà nước có vai
trò quan trọng trong việc chỉ đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu to lớn của đất
nước: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong bài viết “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9,
năm 2000, tác giả Chu Văn Cấp đã phân tích, chỉ ra vai trò của Nhà nước trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: Nhà nước tạo môi
15
trường hoạt động hiệu quả cho các cá nhân, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần

16
để Nhà nước hoàn thành được chức năng quản lý điều tiết nền kinh tế. Các tác
giả cũng đánh giá vai trò của Nhà nước ta đối với sự phát triển kinh tế đất nước
hiện nay, đó là vai trò quản lý, điều tiết kinh tế chứ không can thiệp, điều khiển
thị trường, đồng thời cho rằng nhờ có vai trò kinh tế của Nhà nước mà nền kinh
tế nước ta đã có sự tăng trưởng nổi bật, các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản
được giữ ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của Nhà nước trong việc thực
hiện vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành kinh tế ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện
những mục tiêu đã đề ra của đất nước. Từ đó, các tác giả đề xuất một số quan
điểm và các giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước phù hợp với đặc
thù nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả Nguyễn Văn Mạnh với bài viết “Nhận thức mới về vai trò, chức
năng của Nhà nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và mở cửa” đăng trong sách Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý
luận của Đảng 1986 - 2005, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 đã phân tích,
chỉ ra vai trò, chức năng chủ yếu của Nhà nước Việt Nam hiện nay: tạo môi
trường pháp lý và khuôn khổ, giới hạn cho các hoạt động kinh tế; thực hiện chức
năng quản lý kinh tế vĩ mô; bảo đảm quốc phòng, an ninh, cung cấp các dịch vụ
hàng hóa công cộng; xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo công
bằng xã hội; đối ngoại phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh
việc khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Nhà nước, bao phủ toàn diện
các mặt, các lĩnh vực trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tác giả cũng lưu
ý, Nhà nước chỉ nên phát huy vai trò quản lý, điều hành vĩ mô chứ không can
thiệp trực tiếp vào sự vận động khách quan của nền kinh tế trên các lĩnh vực.
Trong luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò Nhà nước đối với việc xây dựng nền
kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
của Trần Thị Thu Hường, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, 2011, trên cơ sở
chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập đến sự phát
triển của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, phân tích một số vấn

giải của đời sống kinh tế, chính, trị, văn hoá, xã hội hơn.
Tuy nhiên, các học giả cũng nhận thấy, so với yêu cầu phát triển của đất
nước trong bối cảnh mới, vai trò quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nước
Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như: hệ thống luật pháp còn thiếu và
18
chưa đồng bộ so với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường; một số chính sách
ban hành chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu phát triển kinh tế với các
mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội; sự quản lý của Nhà nước ở một số lĩnh vực
còn lúng túng, chưa hiệu quả… Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến
cho tốc độ phát triển của nền kinh tế nước ta còn thấp và chưa tương xứng với
tiềm năng, lợi thế của đất nước; nhiều mục tiêu lớn của nền kinh tế chưa được
hoàn thành theo đúng yêu cầu đề ra, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo tầng lớp
nhân dân. Đó là lý do các công trình tập trung đưa ra những kiến nghị quan trọng
nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong tổ chức điều hành nền kinh tế phát
triển hơn nữa phù hợp với xu thế vận động, phát triển chung của kinh tế toàn cầu.
1.3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ CHỦ ĐỘNG, TÍCH
CỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, kể từ Đại hội IX, theo tinh thần chỉ
đạo của Đảng về thúc đẩy nền kinh tế chủ động, tích cực hội nhập mạnh mẽ
vào thể chế kinh tế toàn cầu, đã có nhiều các công trình, bài viết của các nhà
khoa học, các nhà nghiên cứu và cả những nhà hoạch định chính sách quan
tâm phân tích, lý giải các vấn đề xung quanh chủ đề này.
Trong cuốn Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006, tác giả Lương Văn Tự với bài viết “Chủ động hội nhập kinh tế, những thành
tựu quan trọng” đã phân tích, đánh giá một cách khái quát những thành tựu mà
Việt Nam đã đạt được trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế, mở rộng quan hệ
kinh tế thương mại với các quốc gia như gia tăng quan hệ kinh tế thương mại, kim
ngạch xuất khẩu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; thu hút được nhiều
nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý; thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước
phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế…, đồng thời cũng chỉ

càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thu được nhiều thành tựu kinh tế quan
trọng. Bên cạnh đó, các tác giả cũng tập trung đánh giá những tác động của quá
trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đến công cuộc phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam, chỉ ra những thành tựu và hạn chế yếu
kém của quá trình đó, từ đó đề xuất những quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm
đẩy mạnh tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế góp phần phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như xây dựng chiến lược
tổng thể về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng, phát triển, hoàn thiện
20
hệ thống thị trường, nâng cao hiệu quả đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế. Ngoài những nội dung cơ bản có giá trị tham khảo tốt nói trên, các
tác giả cuốn sách cũng bước đầu đưa ra quan niệm khái quát về vấn đề chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là sự chủ động mở
cửa nền kinh tế phù hợp với xu thế vận động khách quan của kinh tế thế giới và
điều kiện cụ thể cùng với sự nỗ lực phát triển về mọi mặt để tận dụng thời cơ,
vận hội nhằm thu hút, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong phát
triển kinh tế [65, tr.143].
Tác giả Trần Minh Châu với bài viết “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ đồng thời tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần đại
hội XI của Đảng” đăng trong cuốn Văn kiện ĐH XI của Đảng – Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, 2013 đã khẳng định, xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là nội
dung chỉ đạo trọng tâm của Đảng trong cả Cương lĩnh 2011 lẫn trong Chiến lược
2011-2020; đường lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với tích cực và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tại Đại hội XI không những là cần thiết mà
còn bao hàm cả sự phát triển về lý luận và nhận thức. Tác giả cũng chỉ rõ mối
quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế, trong đó hội nhập quốc tế tạo nguồn lực và môi trường để tăng
tiềm lực cho nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế là cách thức thực hiện
độc lập tự chủ tốt nhất trong điều kiện toàn cầu hóa. Sau khi đưa ra những quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status