LỜI MỞ ĐẦU
Năng suất lao động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, năng suất lao động có ảnh hưởng quyết
định tới khả năng cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của từng quốc gia, từng ngành,
từng doanh nghiệp. Hơn nữa năng suất lao động còn là cơ sở để tính lương cho
công nhân, năng suất lao động càng cao thì thu nhập của người lao động càng
lớn. Sinh thời Cỏc-Mỏc luụn khẳng định vai trò quyết định và quan trọng của
tăng năng suất lao động đến sự phát triển xã hội.
Cùng với những biến đổi sâu sắc về sự chuyển đổi về phân công lao động
và cơ cấu kinh tế, sự khan hiếm của nguồn nguyên vật liệu dự trữ cũng như vai
trò ngày càng tăng của các nhân tố đầu vào như khoa học kỹ thuật, công nghệ
thông tin, chất lượng nguồn nhõn lực…đó đặt ra những vấn đề mới đối với quan
niệm về bản chất, phương pháp tính toán cũng như các biện pháp tăng năng suất
lao động
Nhận thức được tầm quan trọng của năng suất lao động, đồng thời qua quá
trình thực tập tại công ty cổ phần chè Kim Anh, cùng với những kiến thức đã
tiếp thu được trong thời gian học tập tại trường em chọn đề tài: “Thực trạng và
giải pháp tăng năng suất lao động tại công ty cổ phần chè Kim Anh”. Ngoài
phần mở bài và kết luận, nội dung đề tài gồm có:
Phần I: Cơ sở lý luận về năng suất lao động trong doanh nghiệp
Phần II: Phân tích thực trạng năng suất lao động tại công ty cổ phần chè Kim
Anh.
Phần III: Một sè giải pháp nhằm nâng cao năng suất Lao động ở công ty cổ
phần chè Kim Anh.
Là một sinh viên lần đầu tiếp cận với thực tế và trước một đề tài tổng hợp
bao gồm nhiều nội dung, mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi
1
những khiếm khuyết. Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
các thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, tiến sĩ Trần Thị Thu và cỏc cụ chỳ ở
phòng tổ chức Lao động công ty cổ phần chè Kim Anh đã hướng dẫn, giúp đỡ và
Cỏc-Mỏc chỉ rõ năng suất lao động là sức sản xuất của loại lao động mà ta có thể
cân đong, đo đếm được, sản phẩm của Lao động đó phải là những sản phẩm có
Ých tức là phải thoả mãn nhu cầu của xã hội và được xã hội chấp nhận.
3
Với quan niệm truyền thống năng suất lao động chỉ thuần tuý thể hiện mối
tương quan giữa đầu ra và đầu vào (lao động). Nếu đầu ra lớn hơn đạt từ một đầu
vào giống nhau hoặc với đầu ra giống nhau từ một đầu vào nhỏ hơn cần nói
NSLĐ cao hơn. Còn quan niệm mới nhấn mạnh đến mặt chất và phản ánh tính
phức tạp của năng suất lao động. Năng suất lao động được hiểu rộng hơn, nã như
mét chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội.
Từ những quan niệm trên ta có thể chỉ ra rằng năng suất lao động là hiệu
quả sản xuất của lao động có Ých trong một đơn vị thời gian. Tăng NSLĐ không
chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm sản xuất ra mà nó phải chỉ ra
được mối quan hệ giữa năng suất - chất lượng cuộc sống- việc làm và sự phát
triển bền vững.
b. Khái niệm về cường độ lao động.
Cường độ Lao động là mức khẩn trương về lao động. Trong cùng một thời
gian, mức chi phí năng lượng bắp thịt, trí não thần kinh của con người càng
nhiều thì cường độ lao động càng lớn. Cỏc-Mỏc gọi cường độ lao động là khối
lượng lao động bị Ðp vào trong một thời gian nhất định hoặc còn gọi là những số
lượng lao động khác nhau bị tiêu phí trong cùng một đơn vị thời gian.
Qua đó ta thấy, mặc dù năng suất lao động và cường độ lao động không
giống nhau nhưng chúng cũng không tách rời nhau vì cường độ lao động cũng là
một yếu tố làm tăng năng suất lao động.
Thời kỳ công cụ lao động còn thô sơ, khoa học kỹ thuật còn trong giai doạn
sơ khai thì muốn tăng NSLĐ người ta thường đẩy mạnh tăng cường độ lao động
bằng cách giảm thời gian lao động xã hội cần thiết và tăng thời gian lao động
thặng dư, bóc lột cùng kiệt thể lực và trí tuệ của người lao động nhằm tạo ra số
lượng sản phẩm nhiều nhất. Cho tới sau này khi khoa học kỹ thuật phát triển
mạnh mẽ, mâu thuẫn giữa chủ và người lao động trở thành xung đột thì việc sử
đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Tăng NSLĐ cá nhân có nghĩa là giảm chi phí
5
lao động sống dẫn đến làm giảm giá trị cho một đơn vị sản phẩm, giá thành sản
xuất giảm, lợi nhuận của công ty tăng lên.
Năng suất lao động cá nhân chủ yếu phụ thuộc vào cá nhân người lao động và
công cụ lao động. Sự thành thạo, sáng tạo trong sản xuất của người lao động và
mức độ hiện đại của công cụ lao dộng xã hội quyết định phần lớn một NSLĐ cá
nhân cao hay thấp.
b. Năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động xã hội là mức năng suất chung của một nhóm người hoặc
của tất cả cá nhân trong xã hội. Vì vậy có thể khẳng định NSLĐ xã hội là chỉ tiêu
hoàn hảo nhất giúp ta đánh giá chính xác thực trạng công việc sản xuất của
doanh nghiệp . Năng suất lao động xã hội liên quan đến chi phí lao động sống và
lao động quá khứ. Năng suất lao động xã hội tăng lên khi và chỉ khi cả chi phí
lao động sống và lao động quá khứ cùng giảm, tức là đó cú sự tăng lên của
NSLĐ cá nhân và tiết kiệm vật tư, nguyên nhiên liệu trong sản xuất.
Năng suất lao động xã hội không chỉ phụ thuộc vào công cụ lao động, trình
độ lành nghề, trình độ giáo dục, mà còn phụ thuộc rất nhiều vao ý thức trong lao
động sản xuất của người lao động, bầu không khí văn hoá làm việc trong doanh
nghiệp.
c. Mối quan hệ giữa NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội.
Giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Tăng năng suất lao động cá nhân dẫn đến tăng năng suất
lao động xã hội, năng suất lao động xã hội là biểu hiện của năng suất lao động cá
nhân.
Mặc dù vậy mối quan hệ này không phải luôn luôn tỷ lệ thuận, có khi năng
suất lao động cá nhân tăng nhưng năng suất lao động xã hội không tăng do lao
động sống giảm Ýt hơn sự tăng lên của lao động quá khứ.
6
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ.
và thu nhập quốc dân cho phép giải quyết thuận lợi các vấn đề tích luỹ, tiêu
dùng.
Tăng NSLĐ còn là cơ sở để tăng tiền lương cho người lao động, từ đó góp
phần làm tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất chất cho
người lao động.
Ngoài ra, NSLĐ còn là cơ sở cho cạnh tranh lâu dài và bền vững. Khi tài
sản và quá trình sản xuất được quản lý một cách có hiệu quả thì sẽ đạt được
NSLĐ cao. Chi phí cho một đơn vị ssản phẩm thấp nhưng lại đáp ứng và vượt
mức đòi hỏi của khách hàng sẽ tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả
năng cạnh tranh được thể hiện là bán được nhiều sản phẩm, giá cả thấp hơn, tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
II. Chỉ tiêu và phương pháp tính NSLĐ.
1. Chỉ tiêu tính NSLĐ.
Có nhiều loại chỉ tiêu để tính NSLĐ, nhưng dùng loại chỉ tiêu nào, điều đó
tuỳ thuộc vào việc lùa chọn một thước đo cho thích hợp với dặc điểm của từng
doanh nghiệp. Hiện nay, mgười ta thường dung 3 loại chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
a. Chỉ tiêu tính NSLĐ bằng hiện vật.
Là dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm (đơn vị tính: kg, m
2
,
m
3
….) để biểu hiện mức NSLĐ của một công nhân (hay một công nhân viên).
Công thức:
T
Q
W
=
Trong đó:
W: mức năng Suất lao động của một công nhân (hay một công nhân viên).
Q
W
=
Trong đó:
9
W: Mức NSLĐ của một cụng nhõn(hay một công nhân viên)- tính bằng tiền.
Q: Giá trị sản lượng (bằng tiền theo giá cố định của sản phẩm để tiện so sánh
các thời kỳ khác nhau).
T: Số lượng công nhân viên.
Như vậy ta thấy về hình thức thể hiện công thức trờn chớnh là công thức 1.
Chỗ khác nhau là đơn vị dùng để tính sản lượng. Công thức 1 dựng cỏc thước đo
bằng hiện vật, công thức này dùng tiền tệ để đo lường.
* Ưu điểm:
Đây là chỉ tiêu thông dụng nhất do khả năng tính được cho nhiều loại sản
phẩm khác nhau, khắc phục được nhược điểm chỉ tiêu tính bằng hiện vật. Phạm
vi sử dụng của nó rộng hơn từ doanh nghiẹp đến ngành rồi giữa các ngành và
nền kinh tế quốc dân. có thể dùng để so sánh mức NSLĐ giữa các doanh nghiệp,
giữa các ngành khác nhau.
* Nhược điểm:
Không khuyến khích tiết kiệm vật tư và dung vật tư rẻ. Nơi nào dùng nhiều
vật tư, hoặc vật tư đắt tiền sẽ đạt được mức NSLĐ cao.
Chịu ảnh hưởng của cỏch tớnh tổng sản lượng theo phương pháp công xưởng,
nếu sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm thay đổi
mức NSLĐ của bản thân doanh nghiệp. Chỉ tiêu này chỉ dùng trong trường hợp
cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi (hoặc Ýt thay đổi) vì cấu thành sản
xuất sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức và tốc độ tăng NSLĐ.
c. Chỉ tiêu NSLĐ tính bằng thời gian lao động (còn gọi là lượng lao động).
Là dùng lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm dẫn tới
tăng NSLĐ.
Công thức:
Lsx = Lcn + Lpvq + Lpvs
11
Trong đó :
Lpvs là lượng lao động phục vụ sản xuất.
Lượng lao động đầy đủ (Ldd) bao gồm hao phí lao động trong chế tạo sản
phẩm của các loại công nhân viên sản xuất công nghiệp trong doanh nghiệp.
Công thức tính:
Ldd = Lsx + Lql
Trong đó lượng lao động quản lý sản xuất (Lql) bao gồm lượng lao động của
cán bộ kỹ thuật, nhân viên quản lý doanh nghiệp và các phân xưởng, tạp vụ,
chữa cháy bảo vệ. Mặc dù chia ra nhiều loại khác nhau nhưng đối với toàn doanh
nghiệp chỉ có lượng lao động đầy đủ mới phản ánh được hao phí lao động của
mọi cộng nhân viên trong doanh nghiệp.
Chỉ tiêu tính theo lượng lao động có những công dụng nhất định nhưng không
thể thay thế hoàn toàn cho chỉ tiêu tính theo giá trị. Trong công tác lập kế hoạch
nó được sử dụng đồng thời các loại chỉ tiêu tính theo hiện vật và giá trị.
Ưu điểm:
Phản ánh được cụ thể mức tiết kiệm thời gian lao động để sản xuất ra một sản
phẩm, công nhân dễ nhận biết.
Nhược điểm:
Tớnh toỏn khỏ phức tạp, không dùng để tính tổng hợp dược NSLĐ bình quân
của một ngành hay mét doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Cả ba cỏch tớnh NSLĐ trên đây đều được sử dụng trong quản lý doanh nghiệp.
Việc lùa chọn chỉ tiêu nào là tuỳ ở nhà quản lý sao cho phù hợp với yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp.Trong quản lý, người ta phân biệt các loại NSLĐ tính theo
năm, tháng, ngày, giê.
Khi sử dụng cần thấy:
12
- NSLĐ tính theo năm phụ thuộc vào số ngày thực tế làm việc bình quân trong
I
W
=
2
1
W
W
- Tốc độ tăng NSLĐ:
T
W
=
0
01
W
WW −
.100%
Ta nhận thấy, khi giá trị sản lượng tăng lên có thể đánh giá qua hai nhõn tố
như : Thứ nhất là do sè lao động tăng lên tức khi lao động tăng thông thường giá
tri sản xuất tăng lên, đó là một nguyên tắc dễ hiểu; Thứ hai la do NSLĐ tăng lên,
có thể với cùng số lao động đó nhưng năng lực sản xuất của những người đó
tăng lên nên giá trị sản xuất tăng lên.
Ta có thể lượng hoá được từng mứcc độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu tới giá trị
sản xuất qua công thức sau:
- Kết quả mang lại do tăng NSLĐ:
Δ
q(w)
= (w
1
0
)
3. Công tác lập kế hoạch NSLĐ trong doanh nghiệp.
Bất kỳ một đơn vị nào dù là đơn vị hoạt động xã hội hay là sản xuất, kinh
doanh cũng đều hoạt động theo một mục đích nhất định,và để đạt được mục đích
đú cỏc doanh nghiệp luôn đề ra cho mình một mục tiêu, một cái đích để phấn
đấu. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận luôn là vấn đề
được quan tâm nhất, vì vậy các doanh nghiệp luụn tỡm mọi cách để nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng mức lợi nhuận cho doanh nghiệp của mình.
14
Năng suất lao động thuộc loại chỉ tiêu tổng hợp nhất cho thấy kết quả hoạt
động kinh doanh, sản xuất của một doanh nghiệp. Do đó công tác lập kế hoạch
năng suất lao động là việc làm hết sức cần thiết, nú giỳp cho quá trình sản xuất
của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi. Sở dĩ như vậy bởi vì trong quá trình
lập kế hoạch người ta đã tính đến tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng tới quá trình
sản xuất, kết quả sản xuất. Để lập kế hoạch năng suất lao động mỗi doanh nghiệp
có một phương pháp riêng, một cách đánh giá riêng tuỳ thuộc vào đặc điểm sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mình, tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của
doanh nghiệp. Thông thường kế hoạch năng suất lao động của doanh nghiệp
được lập dựa trờn nhiều yếu tố trong đó có 2 yếu tố cơ bản: thứ nhất là dùa vào
mức năng suất lao động mà doanh nghiệp đã thực hiện được ở năm trước, thứ
hai là dùa vào định mức lao động của doanh nghiệp. Đồng thời căn cứ vào nhu
cầu thị trường, qua phân tích tình hình tài chính, tình hình về lao động, máy móc
công nghệ của doanh nghiệp trong năm kế hoạch để từ đó đề ra mức sản lượng
cũng như kế hoạch năng suất lao động. Công tác lập kế hoạch năng suất lao động
vì vậy đòi hỏi người cán bộ phải hiểu biết, có kinh nghiệm, có đầu óc tổng hợp,
linh động với những thay đổi của thị trường.
Việc lập kế hoạch NSLĐ sát với thực tế hoạt động của công ty có ý nghĩa rất
lớn để từ đó lập ra kế hoạch sử dụng lao động nhằm đạt được kế hoạch sản lượng
đề ra. Căn cứ vào kế hoạch năng suất lao động mà mỗi đơn vị có thể biết được
nhập.trong điều kiện Êy nhà máy chè xuất khẩu Kim Anh đã tổ chức sắp xếp lại
bộ máy từng bước khắc phục khó khăn và khôi phục sản xuất, sản phẩm của nhà
máy chủ yếu cung cáp cho thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang
một số nước Đông Âu và Liờn Xụ cũ.
Giai đoạn 1986 đến nay:
Đất nước có sự chuyển đổi nhà máy chè xuất khẩu Kim Anh vẫn liờn tục sản
xuất cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa và một số thị trường nước ngoài
truyền thống. Tuy nhiên trong điều kiện phải thích ứng với cơ chế mới xoá bỏ và
khắc phục những tồn tại của cơ chế cũ cho nên cũng chưa phát huy được tối đa
tiềm năng của ngành chè. Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6
với công cuộc đổi mới cơ chế quản lý từ chế độ tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường, cũng như tất cả các ngành kinh tế khác ngành chè bắt đầu giai đoạn
tiến hành cải tiến đổi mới.
Cô thể là áp dụng phương thức trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, thực
hiện tinh giảm biên chế, tự trang trải bồi hoàn với việc tổ chức sản xuất. Nhà
máy chè xuất khẩu Kim Anh là một trong các doanh nghiệp sớm phải áp dụng
phương thức trên vào quản lý sản xuất.
Ngày 18/12/1995 nhà máy chè xuất khẩu Kim Anh được đổi tên thành công
ty chè Kim Anh trực thuộc tổng công ty chè Việt Nam.
Cùng với sự đổi mới và phát triển không ngừng của nền kinh tế công ty chè
Kim Anh đã của tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm.
Nhờ đó sản phẩm của công ty không những đáp ứng được nhu cầu trong nước
mà còn thị trường bên ngoài.
Tuy vậy để phù hợp với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường và thực hiện chủ trương đổi mới của nhà nước là phát triển nền
kinh tế theo định hướng XHCN, thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
17
với chủ trương sắp xếp lại hợp lý khu vực kinh tế nhà nước, chỉ lại một số doanh
nghiệp lớn thuộc các ngành lĩnh vực chủ chốt. Công ty chè Kim Anh là doanh
nghiệp nhà nước đầu tiên thuộc ngành chè được chọn để tiến hành cổ phần hoá.
3. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm gần đây.
Được sự quan tâm của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng sự nổ
lực không ngừng của đội ngò cán bộ công nhân viên trong toàn công ty, công ty
cổ phần chè Kim Anh đã có được những thành công đáng khích lệ. Cụ thể là sau
hơn 3 năm cổ phần hoá, công ty đã đạt được những kết quả đáng kể sau:
Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2000 đến
năm 2002.
STT Chỉ tiêu
báo cáo
ĐVT 2000 2001 2002 So sánh
2001/2000 2002/2001
1 Sản
lượng
sản xuất
Kg 1456877 1774811 2117977 112.8 119.3
- xuất
khẩu
Kg 1141796 1480311 1687232 129.6 114
- nội tiêu Kg 315091 294500 430745 93.46 146.26
2 Sản
lượng
tiêu thụ
Kg 1443257 1739844 2075991 120.5 119.3
19
- xuất
khẩu
Kg 1164732 1427459 1351277 122.5 94.66
- nội tiêu Kg 278525 312385 724714 112.15 231
3 Doanh
thu
74% so với năm 2001. Đời sống của người lao động cũng được đảm bảo hơn thể
hiện qua việc thu nhập của người lao động tăng từ 645 nghỡn đồng năm 2000 lên
725 nghìn đồng năm 2001 và 742 nghìn đồng năm 2002.
20
II. Các đặc điểm của công ty chè Kim Anh ảnh hưởng đến NSLĐ.
1. Đặc điểm bộ máy quản lý.
Theo quy định của luật công ty thì bộ máy quản lý của công ty bao gồm:
- Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý cao nhất có quyền quyết định
mọi vấn đề liên quan đến mục đích phát triển, quyền lợi nhưng phải phù hợp với
quy định của pháp luật Việt Nam.
- Ban kiểm soát (BKS) do đại hội cổ đông bầu ra và bãi miễn . BKS có nhiệm
vụ kiểm soỏt các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giám sát hoạt động
chi tiêu tài chính, trình đại hội cổ đông về nhưng sự kiện tài chính bất thường
xảy ra trong công ty và ưu khuyết điờmt trong công tác quản lý tài chính. BKS
của công ty có 3 người trong đú cú một trưởng ban và 2 kiểm soát viên
- Giám đốc điều hành (GĐĐH) do hội đồng quản trị bầu ra và bãi miễn, có
nhiệm vô điều hành trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của
công ty và là đaị diện hợp pháp của công ty. GĐ ĐH quản lý trực tiếp phòng tài
chính kế toán, phòng tổ chức lao động, phòng kỹ thuật, phòng cơ điện, phân
xưởng chế biến và phân xưởng thành phẩm.
- Phó giám đốc kinh doanh(PGĐKD) phụ trách về tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp
quản lý phòng kinh tế thị trường, thông tin cho giám đốc điều hành toàn bộ tình
hình tiêu thụ sản phẩm.
- Phó giám đốc nguyên liệu (PGĐNL) phụ trách việc thu mua các yếu tố đầu
vào cho sản xuất ở hai xí nghiệp thành viên và phân xưởng Ngọc Thanh đồng
thời kiêm giám đốc nhà máy chè Định Hoá. PGĐNL có trách nhiệm thông tin
cho giám đốc về số lượng và chất lượng của nguyên liệu (chố bỳp tươi) và trực
tiếp quản lý hai xí nghiệp thành viên và phân xưởng Ngọc Thanh.
- Phòng Kinh tế thi trường (KTTT) có chức năng xây dựng các kế hoạch sản
xuất về số lượng, chủng loại, lập định mức kinh tế kỹ thuật tổ chức quản lý vật
(KD)
P.
TC KT
P.
TCLĐ
P.
KTCN
NM
chè
Định
Hoá
X
Ngọc
Thanh
XN
chè
Đại
Từ
P.
cơ điện
PX
thành
phẩm
PX
tinh
chế
Qua sơ đồ cho thấy bộ máy quản lý cấu công ty được xây dựng theo mô hình
trực tuyến- tham mưu. Hai Phó giám đốc và kế toán trưởng sẽ đóng vai trò tham
mưu cho giám đốc trong việc xây dựng kế hoạch, phương hướng sản xuất kinh
bay đi một lượng hơi nước nhất định có trong bỳp chố đồng thời giúp cho cỏnh
chố dẻo, đàn hồi tốt và đi vò được thuận lợi.
+ Vũ chè : Làm cho chè dập ra, cỏnh chố soăn lại.
+ Sàng tơi: Sau khi vũ chố thường vón cục lại do vậy phải sàng tơi để làm tơi
chè.
+ Lên men : Nhằm mục đích trong một thời gian nhất định (3
h
đến 4
h
) làm
biến đổi các hợp chất hóa học có trong nguyên liệu chè dưới tác dụng của Ta-
lanh và ụxi không khí tạo nên chố cú màu đồng đỏ và có hương thơm của mựi
tỏo chớn.
+ Sấy khô: Nhằm diệt men còn lại trong chố( dựng ở nhiệt độ 100
0
C ), thông
thường chè được sấy khô để bảo quản thuận lợi và không bị biến đổi các chất,
tạo hương thơm cho sản phẩm chè.
Quy trình sản xuất chè xanh:
24
Nguyªn
liÖu
HÐo chÌ
NhËp kho
TP
®ãng gãi SÊy kh« Lªn men
Sµng t¬iVß chÌ
Nguyªn
liÖu
NhËp kho