giải pháp phát triển làng nghề thêu trên địa bàn xã hưng đạo, huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
======***======

PHẠM XUÂN TUẤN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÊU TRÊN ðỊA
BÀN XÃ HƯNG ðẠO, HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ MINH NGUYỆT HÀ NỘI, NĂM 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
i

LỜI CAM ðOAN


hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị
kinh doanh, Khoa Sau ñại học Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã trực tiếp
giảng dạy và giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Công Thương huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương,
UBND xã Hưng ðạo huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và các hộ thêu trong xã ñã cung
cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết ñể tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn ñồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia
ñình, người thân ñã ñộng viên tôi trong thời gian nghiên cứu ñề tài.
Hải Dương, ngày tháng năm 2013
Tác giả Phạm Xuân Tuấn

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v



2.2. Cơ sở thực tiễn 28

2.2.1. Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số nước trên thế giới 28

2.2.2. Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số ñịa phương 31

2.2.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam và Tỉnh Hải Dương 35

2.2.4. Các nghiên cứu trước có liên quan ñến ñề tài 38

3. ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

3.1. ðặc ñiểm ñịa bàn nghiên cứu 41

3.1.1. Vị trí ñịa lý 41

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
iv

3.1.2. Tình hình phân bố và sử dụng ñất ñai của xã 41

3.1.3. Khí hậu, Thủy văn 43

3.1.4. Tình hình dân số và lao ñộng 44

3.1.5. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật 46

3.1.6. Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2010-2012) 47


4.3.1. Cơ sở khoa học ñề xuất giải pháp 75

4.3.2. Một số giải pháp phát triên làng nghề thêu ren Hưng ðạo 79

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

5.1. Kết luận 94

5.2. Kiến nghị ñối với các cơ quan trong tỉnh 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Tình hình phân bổ và sử dụng ñất của xã qua 3 năm 2010-2012 42

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao ñộng của xã qua 3 năm 2010-2012 45

Bảng 3.3. Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Hưng ðạo qua 3 năm
(2010-2012) 48

Bảng 3.4. Số lượng mẫu ñiều tra năm 2012 49

Bảng 4.1. Các loại hình tổ chức ở làng nghề thêu ren Hưng ðạo 52

Bảng 4.2: Lao ñộng ở các làng nghề thêu ren xã Hưng ðạo qua 3 năm

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CNH-HðH Công nghiệp hóa – hiện ñại hóa
HTX Hợp tác xã
UBND Ủy ban Nhân dân
USD ðô la
Nð-CP Nghị ñịnh – Chính phủ
LNTT Làng nghề truyền thống
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TT-BNN Thông tư – Bộ Nông nghiệp
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TCMN Thủ công miền núi
SXKD Sản xuất kinh doanh
XK Xuất khẩu
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
1

1. MỞ ðẦU

1.1. Tính cấp thiết của ñề tài
Từ xa xưa, hệ thống các làng nghề tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm vị trí quan
trọng trong ñời sống kinh tế - xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng quê Việt Nam. Trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát
triển làng nghề là một phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn,
gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương hỗ trợ phát triển nông nghiệp,
nông thôn của ðảng và Nhà nước, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp ñã tạo ra việc
làm thường xuyên cho trên 50% lao ñộng và sử dụng ñược phần lớn lao ñộng nông

nghề thêu bền vững, lâu dài, góp phần thúc ñẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng CNH-HðH.
Từ những vấn ñề nêu trên, tác giả chọn ñề tài: “Giải pháp phát triển làng
nghề thêu trên ñịa bàn xã Hưng ðạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
ðánh giá thực trạng phát triển làng nghề thêu trên ñịa bàn xã Hưng ðạo, huyện
Tứ Kỳ, những nhân tố ảnh hưởng ñến sự phát triển của nó. Từ ñó, ñưa ra giải pháp
nhằm phát triển các làng nghề thêu trên ñịa bàn trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển các làng nghề
tiểu thủ công nghiệp trong ñó có các làng nghề thêu.
- ðánh giá thực trạng phát triển các làng nghề thêu trên ñịa bàn xã Hưng
ðạo, huyện Tứ Kỳ trong những năm qua và những nhân tố ảnh hưởng ñến sự phát
triển của làng nghề thêu.
- ðề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các làng nghề thêu trên ñịa bàn
xã Hưng ðạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.
1.3. ðối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. ðối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển hoạt ñộng sản xuất của làng nghề
thêu truyền thống và các nhân tố tác ñộng ñến hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của
nghề thêu trên ñịa bàn xã Hưng ðạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
3

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dụng:
+ Các vấn ñề lý luận về làng nghề, làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề.
+ Thực trạng phát triển làng nghề trên ñịa bàn nghiên cứu
+ Các giải pháp nhằm phát triển các làng nghề thêu trên ñịa bàn nghiên cứu

“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu ñược bằng nghề ñó và sản xuất ra
các mặt hàng thủ công”. [26]
Một số nhà nghiên cứu khác lại ñưa ra quan niệm làng nghề gắn với tiêu chí cụ
thể về lao ñộng, thu nhập. Tác giả Nguyễn Văn ðại, Trần Văn Luận cho rằng “Làng
nghề là những làng ñã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao ñộng của ñịa
phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong
năm”.[19]Còn theo TS. Dương Bá Phượng quan niệm “Làng nghề là làng ở nông
thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
5

ñộc lập”.[22] Quan niệm này nêu hai yếu tố cơ bản cấu thành làng nghề, ñó là làng
và nghề.
Tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn thực hiện
một số nội dung Nghị ñịnh số 66/2006/Nð-CP của Chính phủ về phát triển ngành
nghề nông thôn quy ñịnh“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp,
bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các ñiểm dân cư tương tự trên ñịa bàn một xã, thị
trấn, có các hoạt ñộng ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản
phẩm khác nhau”.[1]
Từ một số quan niệm trên có thể thấy rằng thuật ngữ làng nghề gồm hai yếu tố
cấu thành là Làng và Nghề.
 Làng là một tổ chức ở nông thôn nước ta, là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ
quátrình ñịnh cư và cộng cư của con người, ở ñó họ sống, làm việc, quan hệ, vui
chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ. Về cơ
bản, cơ cấu làng ñược biểu hiện dưới những hình thức:
- Tổ chức theo khu ñất cư trú. Theo hình thức này, làng ñược chia thành nhiều
xóm. Các xóm thường cách nhau, mỗi xóm sinh hoạt riêng. Xóm phân thành nhiều
ngõ, ngõ có một hay nhiều nhà…
- Tổ chức theo huyết thống, dòng họ. Dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng
trong làng. Có làng có nhiều dòng họ, có làng chỉ một dòng họ.

ngành nghề nông thôn gồm:
- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản.
- Sản xuất vật liệu xây dựng, ñồ gỗ, mây tre ñan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may,
cơ khí nhỏ
- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn.
- Sản xuất hàng TCMN.
- Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh.
- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản
xuất, ñời sống dân cư nông thôn.
- Tổ chức ñào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh
vực ngành nghề nông thôn.
Như vậy, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề cũng như những
quy ñịnh khác nhau về tiêu chuẩn ñể công nhận làng nghề giữa các ñịa phương
trong cả nước. Nhưng có thể khái quát chung lại thì làng nghề ñược hiểu là một
cụm dân cư như làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc, (gọi chung là làng) có sản
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
7

xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn mà số hộ làm nghề và thu nhập từ các nghề
ñó chiếm tỷ trọng cao.
Trên cơ sở căn cứ ñể xác ñịnh làng nghề chúng tôi cho rằng làng nghề là những
nơi có những hoạt ñộng sản xuất kinh doanh các ngành phi nông nghiệp của các cá
nhân hay hộ gia ñình trong các phường, thôn, xóm, bản Nơi ñó có số hộ làm nghề
và thu nhập chính từ nghề ñó chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập của hộ gia ñình.
ðặc ñiểm này khiến cho làng nghề tồn tại ngay cả khi nền kinh tế chuyển sang thời
kỳ CNH-HðH, máy móc chỉ có thể thay thế một phần nào ñó trong sản xuất, nhưng
khi ñó làng nghề vẫn tồn tại.
Vậy theo chúng tôi: “Làng nghề là những nơi như phường, thôn, xóm, bản
có một hay một số nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao ñộng và tỷ
trọng thu nhập so với tổng thu nhập của hộ gia ñình.”

vẫn ñược coi là làng nghề truyền thống.
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện
một số nội dung của Nghị ñịnh số 66/2006/Nð-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ
về phát triển ngành nghề nông thôn giải thích từ ngữ thì:
Nghề truyền thống là nghề ñã ñược hình thành từ lâu ñời, tạo ra những sản
phẩm ñộc ñáo, có tính riêng biệt, ñược lưu truyền và phát triển ñến ngày nay hoặc
có nguy cơ bị mai một, thất truyền.
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum,
sóc hoặc các ñiểm dân cư tương tự trên ñịa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt ñộng
ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể ñịnh nghĩa: Làng nghề truyền thống
là những thôn, làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống ñược tách ra khỏi
nông nghiệp ñể sản xuất kinh doanh và ñem lại nguồn thu chiếm phần chủ yếu trong
năm. Cùng với thời gian, các làng nghề thủ công này ñã trở thành nghề nổi trội, một
nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán
chuyên nghiệp ñã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất ñịnh và sống
chủ yếu bằng nghề ñó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và ñã trở thành hàng hóa
trên thị trường.
2.1.1.3. Phát triển làng nghề
Hiện nay, do sự phát triển của nền kinh tế và những nhu cầu của thị trường về
các sản sẩm thủ công truyền thống. Các làng nghề thủ công ñã dần dần tách ra khỏi
ngành nông nghiệp và quay lại phục vụ cho nông nghiệp. Chính lúc này, một số thợ
thủ công vẫn còn lao ñộng sinh sống trên làng quê của họ quay trở lại phát triển
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
9

nghề thủ công mang tính ñặc trưng của ñịa phương mình. Theo ñó, các làng có số
người làm nghề tăng lên và trở thành làng nghề. Làng nghề là một thực thể vật chất
và tinh thần, tồn tại cố ñịnh của một hay nhiều nghề thủ công truyền thống. Mỗi
nghề thủ công truyền thống ñược bảo tồn, hoạt ñộng và phát triển ở một làng nghề,

10

nghiệp, nguồn nguyên liệu phục vụ cho các nghề thủ công lại tương ñối dồi
dào,…Tất cả những ñiều ñó ñã thúc ñẩy các hoạt ñộng tiểu thủ công nghiệp, ban
ñầu phục vụ nhu cầu của gia ñình mang tính tự sản tự tiêu, sau ñó phát triển thành
hoạt ñộng có quy mô nhiều gia ñình cùng tham gia và như vậy làng nghề truyền
thống hình thành và phát triển.
Sau một thời gian, các ngành nghề thủ công nghiệp ñược tách dần nhưng
không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công
nghiệp trong các làng nghề ñan xen lẫn nhau. Người thợ thủ công trước hết và ñồng
thời là người nông dân.
- Có truyền thống lâu ñời:
ðặc trưng của làng nghề truyền thống Việt Nam là có truyền thống lâu ñời.
Theo các tư liệu lịch sử, thời Phùng Nguyên khoảng 3000 năm trước công nguyên,
người Việt cổ ñã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác một số công
cụ như ñồ ñá, ñồ gốm,… Thời ðông Sơn từ năm 3000 ñến năm 258 trước công
nguyên, người Việt ñã phát minh ra công thức luyện ñồng thau, ñồng thanh và ñúc
ñược Trống ðồng ðông Sơn, sản phẩm chứng minh cho nghề truyền thống thời bấy
giờ. Sau ñó ñến thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ Pháp thuộc, các làng nghề truyền thống
dần dần ñịnh hình và có nhiều biến ñộng. Sau ngày hòa bình lập lại ở Miền Bắc
(1954), giải phóng Miền Nam thống nhất ñất nước (1975) tới nay, làng nghề truyền
thống nước ta chịu nhiều biến ñộng về công nghệ, thị trường, chiến tranh, cơ chế
chính sách và có nhiều bước thăng trầm nhất ñịnh, có lúc phát triển mạnh mẽ về sản
lượng, quy mô, ña dạng hóa các ngành nghề, nhưng có thời kỳ bị tác ñộng mạnh mẽ
bởi các yếu tố và bị mai một. Song vào thập niên 80, ñầu thập niên 90, do nhiều
nguyên nhân khác nhau sản xuất tiểu thủ công nghiệp nói chung, sản xuất ở các
làng nghề truyền thống nói riêng giảm sút nghiêm trọng, thậm chí một số làng nghề
truyền thống bị tan rã. Tới những năm gần ñây, làng nghề truyền thống cả nước
ñang ñược từng bước phát triển. Như vậy, hầu hết các làng nghề, làng nghề truyền
thống và các làng nghề mới hoặc các làng nghề mới ñược phục hồi, tính truyền

Ngày nay, cùng sự phát triển của khoa học – công nghệ, việc ứng dụng khoa
học công nghệ mới vào nhiều công ñoạn trong sản xuất ñã giảm bớt ñược lực lượng
lao ñộng thủ công, giản ñơn. Nhiều làng nghề truyền thống ñã biết sử dụng máy
móc cơ khí và ñộng lực trong sản xuất. Tuy nhiên, còn có một số loại sản phẩm còn
có một số công ñoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao ñộng thủ
công tinh xảo. Chính vì vậy, dấu ấn lao ñộng thủ công vẫn ñược giữ gìn và chính
tính chất thủ công mang lại ñặc thù cho các sản phẩm của làng nghề truyền thống.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
12

- Sản phẩm làng nghề có tính mỹ thuật cao, mang ñậm văn hoá bản sắc dân tộc:
Một ñặc trưng hết sức quan trọng của làng nghề truyền thống là hàng hóa của
làng, ñặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ mang bản sắc truyền thống, có tính khác biệt,
tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét ñặc trưng của ñịa phương, tồn
tại trong sự giao lưu với cộng ñồng. Hàng trạm trổ trên từng chất liệu khác nhau (gỗ,
ñá, sừng, xương,…), hàng sơn (sơn thiếp vàng bạc, sơn mài,…), hàng thêu, dệt (tơ, lụa,
chiếu, thảm,…), hàng mây tre ñan,…
Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị
thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật
trang trí trong nhà, ñền chùa, công sở nhà nước. Các sản phẩm ñều là sự kết giao
giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Từ những con rồng
chạm trổ ở ñình chùa, hoa văn trên các trống ñồng và các hoạ tiết trên ñồ gốm sứ
ñến các nét chấm phá trên các bức thêu,…tất cả ñều mang vóc dáng dân tộc, quê
hương, chứa ñựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín
ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
Ở mỗi làng nghề truyền thống ñều có bản sắc riêng, từng nghệ nhân cũng có
những nét riêng. Những nét riêng ñó ñược thử thách qua thời gian, qua giao lưu trao
ñổi ñược chọn lọc, ñược thừa nhận ñể tồn tại và phát triển, cùng với sự bổ sung lẫn
nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện, ñặc sắc cho những sản phẩm cùng loại

Bên cạnh những ñiểm mạnh, nghề thêu ở ñang ñứng trước thách thức của cạnh
tranh khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chẳng
hạn sản phẩm ít tính sáng tạo, chủ yếu làm theo mẫu có sẵn, ñơn ñặt hàng hoặc
“nhái lại” mẫu mã của nước ngoài. Một số ñông doanh nghiệp tại các làng nghề của
huyện Tứ Kỳ vẫn phải xuất khẩu sản phẩm qua trung gian, chưa thâm nhập ñược
kênh phân phối hàng nhập khẩu của nước ngoài. Khâu xúc tiến thương mại còn
nhiều hạn chế, kể cả hoạt ñộng hỗ trợ xúc tiến thương mại nhà nước và thực hiện
xúc tiến thương mại của doanh nghiệp. Các cơ sở sản xuất chưa thực sự coi trọng
giá trị của thương hiệu. ðiểm yếu nữa là trong cạnh tranh xuất khẩu, sản phẩm làng
nghề Tứ Kỳ thếu nguồn nguyên liệu ñược cung cấp ổn ñịnh, vững chắc.
Như vậy, qua ñặc trưng trên ta thấy, ở làng nghề ngoài yếu tố sản xuất còn
mang rất ñậm yếu tố văn hoá và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp.
Bởi làng nghề, ngoài phạm vi ñơn vị sản xuất và khái niệm ñơn vị hành chính còn
có ñặc trưng riêng biệt là tính cộng ñồng cư trú, cộng ñồng lợi ích rất cao.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
14

 ðặc ñiểm của làng nghề thêu
Thêu là một nghề thủ công truyền thống mang tính chất nghệ thuật trang trí tạo
hình của nước ta, xuất hiện từ thời vua Hùng dựng nước. Nghề thêu ren phát triển
thành làng nghề vào cuối thế kỷ 17 kế thừa những kinh nghiệm quý báu của cha
ông ñể lại. Người thợ thêu ñã vận dụng kỹ thuật thêu một cách hiệu quả vào việc
tạo nên những mẫu thêu ñạt trình ñộ ngệ thuật cao, cung ứng cho nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu.
Ngề thêu ren không quá phức tạp, ñòi hỏi lớn nhất với những người làm nghề
là sự kiên trì cẩn thận và ý thức làm việc tập thể. Công cụ dùng trong nghề thêu ren
khá ñơn giản, các thợ thêu chỉ sử dụng một số thứ vật liệu ở mức tối thiểu như
khung thêu, kim thêu các cỡ (kiểu tròn và kiểu chữ nhật), kéo, thước, bút lông, phấn
mỡ, vải thêu( vải trắng sa tanh, lụa), chỉ thêu các màu. Các công ñoạn của nghề thêu

50%; tỉnh Nam ðịnh quy ñịnh phải từ 40%; TS. Dương Bá Phượng ñưa ra tỷ lệ
35-40%. [22] Thông tư số 116/2006/TT-BNN quy ñịnh làng nghề có "tối thiểu
30% tổng số hộ trên ñịa bàn tham gia các hoạt ñộng ngành nghề nông thôn"
Về thu nhập, người ta dùng tỷ lệ thu nhập do nghề ñưa lại so với thu nhập
chung của làng. Tỷ lệ này ñược các tài liệu ñưa ra tương ñối thống nhất: Viện Khoa
học Công nghệ và Môi trường (ðại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ NN&PTNT, tỉnh
Hà Tây , tỉnh Nam ðịnh và TS. Dương Bá Phượng ñều ñưa ra tỷ lệ là trên 50%.
Các tiêu chí trên phải ổn ñịnh trong một thời gian nhất ñịnh. Bởi vì thực tế hiện nay
có những làng nghề chỉ tồn tại ñược một thời gian ngắn. Thông tư số 116/2006/TT-
BNN của Bộ NN&PTNT quy ñịnh thời gian mà làng có ñủ các tiêu chí về tỷ lệ
lao ñộng, thu nhập phải ổn ñịnh tối thiểu 2 năm tính ñến thời ñiểm ñề nghị mới
ñược công nhận. ðối với các làng nghề ñã ñược công nhận, nếu sau 5 năm không
còn ñạt các tiêu chí quy ñịnh trên sẽ bị thu hồi giấy công nhận.
Trong ñiều kiện hiện nay, việc xác ñịnh làng nghề có thể căn cứ vào 3 tiêu
chí cơ bản sau ñây:
- Tỷ lệ số hộ (hay lao ñộng) làm nghề trong tổng số hộ (hay lao ñộng) của làng
phải ñạt từ 30% trở lên.
- Tỷ lệ thu nhập từ nghề trong tổng thu nhập của làng phải ñạt từ 50% trở lên.
- Hoạt ñộng sản xuất của làng ñạt các tiêu chí trên phải ổn ñịnh trong một thời
gian liên tục nhất ñịnh, ít nhất là 5 năm.
Ngoài ra tuỳ theo nghề cụ thể có thể xem xét thêm một số tiêu chí khác cho phù
hợp. ðặc biệt là ñối với các nghề mà pháp luật không khuyến khích, các nghề phải ñảm
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế
16

bảo môi trường theo quy ñịnh của Luật Bảo vệ môi trường .[23]
Trước ñây, do chưa thống nhất về tiêu chí làng nghề nên có nhiều số liệu rất
khác nhau về làng nghề cả nước. Theo JICA và Bộ NN&PTNT, năm 2002 cả
nước có 2.017 làng nghề; theo tác giả Tăng Thế Cường, Viện Chiến lược và
Chính sách Bộ Khoa học và Công nghệ thì có 1.450 làng nghề; theo Bộ Công

Làng nghề mới, từ trong thời kỳ ñổi mới ñặc biệt là hình thành, làng nghề
mới là những năm 1986 ñến nay.
- Theo số lượng nghề của làng người ta chia làng nghề thành làng một nghề và
làng nhiều nghề. Làng một nghề là làng mà ngoài nghề nông có thêm một nghề thủ
công chiếm ưu thế tuyệt ñối. Làng nhiều nghề là làng mà ngoài nghề nông có từ hai
nghề thủ công trở lên, hay vừa có thêm nghề thủ công vừa có nghề dịch vụ khác.
Trước ñây ở nước ta xuất hiện làng một nghề là chủ yếu. Trong những năm gần ñây
làng nhiều nghề có xu hướng xuất hiện nhiều hơn.
- Theo ngành nghề người ta chia làng nghề thành làng nghề chế biến lương
thực, làng nghề gốm sứ, làng nghề rèn, làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng,
làng nghề dệt, làng nghề ươm tơ,
Như vậy, trong nghiên cứu này ñối tượng làng nghề nghiên cứu là làng nghề
truyền thống theo cách phân loại 1.
2.1.3. Vai trò và sự cần thiết phát triển làng nghề
Một là, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu ñời, ñộc ñáo của từng ñịa
phương.
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống luôn gắn liền với lịch sử
phát triển văn hoá của dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hoá ấy ñồng thời là sự
biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là sự kết
tinh của lao ñộng vật chất và lao ñộng tinh thần, nó ñược tạo nên bởi bàn tay tài hoa
và trí óc sáng tạo của người thợ thủ công. Vì vậy, mỗi sản phẩm là một tác phẩm
nghệ thuật chứa ñựng nét ñặc sắc của dân tộc, ñồng thời thể hiện những sắc thái
riêng, ñặc tính riêng của mỗi làng nghề và mang dấu ấn của mỗi thời kỳ. Tìm hiểu
lịch sử của các làng nghề ta thấy kỹ thuật chế tác ra các sản phẩm có từ rất xa xưa
và ñược bảo tồn ñến ngày nay. Kỹ thuật ñúc ñồng và hợp kim ñồng thau ñã có từ
thời văn hoá ðông Sơn - một nền văn hoá với những thành tựu rực rỡ, ñặc biệt là
trống ñồng Ngọc Lũ gắn liền với lịch sử thời Hùng Vương dựng nước. Cho ñến sau
này, nghề ñúc ñồng vẫn ñể lại những dấu ấn lịch sử. Mới ñây nhất ta thấy có tượng
phật mới ñúc ñược ñặt ở chùa Non nước cao và nặng nhất ðông Nam Á.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế

Hai là, Phát triển làng nghề là một trong những giải pháp ñóng vai trò quan
trọng trong việc xây dựng và phát triển nông thôn hiện nay.

Trích đoạn Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số ựịa phương Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam và Tỉnh Hải Dương Các nghiên cứu trước có liên quan ựến ựề tài Tình hình dân số và lao ựộng Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status