Mục Lục
Lời mở đầu
Phần I : Giới thiệu chung
1. Chính sách tiền tệ
2. Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ
3. Các công cụ chính sách tiền tệ
Phần II : Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và tác động
của nó tới nền kinh tế từ năm 2007 đến nay
1. Năm 2007
2. Năm 2008
3. Năm 2009
4. Năm 2010
Phần III : Những vấn đề đặt ra nhằm hoàn thiện công cụ chính sách tiền
tệ ở Việt Nam
1. Một số kiến nghị về điều hành chính sách tiền tệ cuối năm 2010
2. Một số đề xuất hoàn thiện hóa công cụ chính sách tiền tệ
Kết luận và tài liệu tham khảo
Phụ lục
Lời mở đầu
hính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng
của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến
số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được
các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ
bản, quyết định.
C
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của
nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế.
Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó
ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải
quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách
tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế
• Công cụ trực tiếp: là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong
lưu thông ( hoặc các mức lãi suất thị trường trung và dài hạn) bao gồm
- Hạn mức tín dụng: được sử dụng từ nửa cuối năm 1994 đến 1998 nhằm khống
chế trực tiếp mức tăng trưởng dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM. Mặc dù
hạn mức tín dụng quy định cho từng NHTM không còn áp dụng với tư cách là
CSTT trực tiếp từ năm 1998 nhưng tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân
hàng vẫn là chỉ tiêu bị khống chế hàng năm bởi NHNN và theo yêu cầu của
IMF.
- Ấn định lãi suất: NHNN sử dụng chính sách lãi suất nhằm điều tiết trực tiếp
mặt bằng lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng
- Các chính sách hỗ trợ: NHNN sử dụng một hệ thống các chính sách hỗ trợ mục
tiêu như chính sách tín dụng, chính sách huy động vốn, chính sách quản lý
ngoại hối nhằm hỗ trợ cho công cụ lãi suất và tỷ giá.
• Công cụ gián tiếp: là nhóm công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt
động, thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các
mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi suất, bao gồm:
- Dự trữ bắt buộc: là số tiền mà các TCTD phải duy trì theo quy định của
NHNN. Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền
gửi trong một khoảng thời gian nhất định
- Công cụ tái cấp vốn: là cách để NHNN đưa tiền ra lưu thông, đồng thời khống
chế về số lượng và chất lượng tín dụng của các TCTD
- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) : là nghiệp vụ mua bán các chứng từ ngắn
hạn của NHNN trên thị trường tiền tệ
Ở Việt Nam hiện nay sử dụng : lãi suất, chính sách tái cấp vốn, tỷ giá, dự trữ bắt
buộc, hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ CSTT.
Phần II: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và tác
động của nó tới nền kinh tế từ năm 2007 đến nay
1. Năm 2007
1.1. Diễn biến kinh tế năm 2007:
- Kinh tế thế giới: Thế giới năm 2007 đã ghi dấu ấn những bước thăng trầm của
hấp thụ vốn ngoại của nền kinh tế còn hạn chế, đã gây ra các hiệu ứng cho nền kinh tế
(VND lên giá, bùng nổ tín dụng, lạm phát gia tăng; sức ép đòi hỏi bơm nội tệ để mua
ngoại tệ...); TTCK trong nước ảm đạm... Thiên nhiên dường như cũng tác động mạnh
đến kinh tế Việt Nam bằng một đợt rét đậm kéo dài kỷ lục...
Các diễn biến kinh tế trong và ngoài nước đang đặt ra rất nhiều thách thức cho Chính
phủ trong việc đưa ra các chính sách ứng phó phù hợp.
1.2. Điều hành chính sách tiền tệ năm 2007 của NHNN:
NHNN thực thi CSTT bám sát mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát
lạm phát, đảm bảo sự ổn định tiền tệ, ổn định hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, bền vững
trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế - nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít
thách thức. Trên cơ sở đánh giá và dự báo kịp thời chiều hướng biến động của kinh tế
tiền tệ trong nước và quốc tế, trong năm 2007, NHNN đã thực hiện các giải pháp điều
hành CSTT như sau:
• Lãi suất
Để tránh tác động không thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế, NHNN tiếp tục giữ ổn
định lãi suất mức lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm và lãi
suất chiết khấu là 4,5%/năm(Mức lãi suất được duy trì từ tháng 12/2005 đến nay).
Song, lãi suất một số thị trường do NHNN Việt Nam điều hành thì lại biến động
mạnh. Lãi suất đấu thầu tín phiêu kho bạc nhà nước bình quân ở mức 4,16%/năm, lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở bình quân lên tới 7,5% - 8,0%/năm. Các mức lãi suất đó
có tác động giảm sự gia tăng lãi suất trên thị trường, nhất là lãi suât thị trường liên
ngân hàng. Lý do chủ yếu của việc giữ ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định
hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chế tác động tăng lãi suất cho vay và cộng
hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểm soát lạm phát. Đồng thời, trong
điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện
bỏ qui định về trần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do
hóa lãi suất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
• Dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với cả tiền gửi nội tệ và ngoại tệ được tiếp tục giữ ổn định
NHTMCP và 35 lượt thành viên trúng thâu là chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đây
cũng là diễn biến khác với nhiều năm trước và cho thấy tính tham gia rộng rãi, vai trò
của thị trường mở đối với các NHTM cũng như đối với việc điều hành chính sách tiên
tệ. Thời hạn giấy tờ có giá giao dịch cũng khác nhau, nhưng rất đa dạng, khoảng 10
kỳ hạn, nhưng chủ yếu là 7 ngày, 14 ngày,… lãi suất có xu hướng tăng và ở mức cao
so với các năm gần đây.
Số lượng thành viên và tần suất giao dịch OMO:
Năm
Số lượng
thành viên
2006
30/9
2007
Tổng số 35 35
1.NHNNVN 1 1
2.NHTM nhà nước 5 5
3.NHTM cổ phần 19 19
4.NH nước ngoài 7 7
5.NH liên doanh 1 1
6.TCTD phi NH 1 1
7.Quỹ TDNDTW 1 1
Tần suất giao dịch
1 tuần
4 phiên
1 ngày
2 phiên
• Chính sách tỷ giá
Ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,25% lên
0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%. Đồng thời NHNN đã
thực hiện việc mua ngoại tệ theo nhu cầu bán của các NHTM, Kho bạc Nhà nước và
động và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so với
cuối năm 2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh
tế. Tính đến cuối tháng 9/2007, huy động vốn của các TCTD tăng 31,2%, ước cả năm
tăng 39,6%, cao hơn tốc độ tăng 33,1% của năm 2006; tín dụng đến cuối tháng 9
tháng tăng 30,9%, ước cả năm tăng 37,8%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng 22,8%
của năm 2006).
+ Tỷ giá danh nghĩa giao động nhẹ và có xu hướng giảm (VND lên giá nhẹ), trong
bối cảnh lạm phát gia tăng đã góp phần tích cực trong việc ổn định lãi suất VND và
ổn định thị trường tiền tệ. Mặt khác, tỷ giá thực thấp hơn tỷ giá hối đoái danh nghĩa
trên thị trường, cho nên tác động khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hỗ trợ
ổn định lãi suất VND.
- Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổi theo
chiều hướng tích cực
+ Tỷ lệ tiền mặt trên TPTTT giảm từ mức 19,3% năm 2006 xuống mức 17,8% năm
2007.
+ Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25,9% năm 2007 xuống còn 22,6% năm
2007 - giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế.
- Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế
+ Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các TCTD có những diễn biến tích cực, các
sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn nhiều so với những năm trước đây,
nhiều lĩnh vực cho vay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều
điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công
ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông
nghiệp nông thôn, cho vay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh
vùng khó khăn cũng được mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói
giảm nghèo. Bên cạnh đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp
ứng đầy đủ các nhu cầu của xã hội.
+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ và giảm
dần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thị trường chứng
khoán phát triển ổn định. Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản cũng được theo dõi,
pháp ổn định lãi suất và tỷ giá danh nghĩa hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế và
ổn định thị trường tiền tệ không để xẩy ra sự dịch chuyển dòng vốn, nhưng lại rất khó
khăn để kiểm soát khối lượng tiền trong nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Chính vì vậy, NHNN đã gặp khó khăn trong việc kiểm soát TPTTT, tín dụng, qua
đó đã chưa kiểm soát được lạm phát theo mục tiêu đặt ra: TPTTT của Việt Nam tăng
mạnh trong năm 2007 là khó tránh khỏi khi dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều
như năm nay. Muốn hạn chế gia tăng TPTTT, thì cần phải hạn chế sự gia tăng của
dòng vốn này. Tuy nhiên, hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là vấn
đề không đơn giản khi Việt Nam đã gia nhập WTO, thị trường tài chính từng bước tự
do hóa. Vì vậy, việc hạn chế sự gia tăng nguồn vốn nước ngoài nằm ngoài tầm kiểm
soát của NHNN, mà đòi hỏi phải có chính sách vĩ mô đồng bộ để đảm bảo việc sử
dụng nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả, giám sát chặt chẽ luồng vốn đầu tư gián tiếp,
hạn chế tình trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán,… nhằm hạn chế những tác
động bất lợi của dòng vốn này.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO tạo cơ hội thuận lợi cho hệ thống ngân
hàng Việt Nam phát triển, qui mô các NHTM được mở rộng, các doanh nghiệp cũng
có nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh đã gây sức ép mở rộng
tín dụng tăng quá nhanh của các NHTM, gây tiềm ẩn rủi ro: tốc độ tăng trưởng tín
dụng của các NHTM cao hơn nhiều so với các năm từ năm 2001 - 2006, nhất là tín
dụng ngoại tệ tăng hơn gấp hai lần, bắt đầu vượt ngưỡng an toàn (tỷ trọng giữa dư nợ
cho vay bằng ngoại tệ với tổng tiền gửi bằng ngoại tệ đã vượt 90%); cơ cấu đầu tư tín
dụng đa dạng hơn nhiều so với cơ cấu đầu tư của 5 năm trước đó, ngoài các lĩnh vực
cho vay truyền thống thì lĩnh vực cho vay tiêu dùng đã phát triển nhanh hơn những
năm trước. Dư nợ tín dụng trong lĩnh vực này chiếm đến 20 - 30% tổng dư nợ của
khối NHTMCP. Riêng cho vay nhà đất có NHTM dư nợ chiếm đến 20%; thị trường
chứng khoán phát triển mở ra một lĩnh vực đầu tư mới cho các NHTM, cũng góp
phần làm tăng dư nợ tín dụng nền kinh tế. Sự phát triển nhanh của thị trường tín dụng
cũng đã xuất hiện những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, như cho vay ngoại tệ tăng trưởng
quá mức so với nguồn vốn; việc nới lỏng các điều kiện vay vốn của các NHTMCP;
các lĩnh vực cho vay bất động sản, chứng khoán đã chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng
Nền kinh tế Việt Nam trong năm 208, không những phải đối mặt với những diễn biến
khó lường của kinh tế thế giới, mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại: Lạm
phát tăng mạnh ( giá xăng, giá gạo leo thang cùng với những tin đồn thất thiệt), thâm
hụt cán cân thương mại cũng đạt mức kỷ lục ( hơn 14% GDP), thị trường chứng
khoán liên lục sụt giảm. Trước tình hình đó, để giữ ổn định nền kinh tế vĩ mô, tạo nền
tảng cho tăng trưởng bền vững, Chính phủ đã điều chỉnh từ mục tiêu tăng trưởng cao
mang mục tiêu kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu và tăng trưởng duy trì ở mức
hợp lí. Tuy nhiên, những tháng cuối năm, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính
toàn cầu và áp lực giảm phát, diễn biến nền kinh tế và lạm phát của Việt Nam cũng
nằm trong xu hướng chung của kinh tế thế giới, nên các giải pháp vĩ mô cũng có sự
thay đổi cho phù hợp.
Nhìn chung, thị trường tiền tệ có những biến động chủ yếu sau:
Thứ nhất, lãi suất biến động mạnh và liên lục tăng cao trong những tháng đầu năm và
giảm dần trong những tháng cuối năm
Trong những tháng đầu năm 2008, đặc biệt là trong khoảng thời gian tháng 2/2008
đến tháng 5/2008, lãi suất huy động liên tục tăng cao trong cuộc chạy đua về lãi
suất… Tuy nhiên, những tháng cuối năm, lãi suất thị trường có xu hướng giảm: lãi
suất huy động và cho vay bằng VND giảm 2,5%-3%/năm, lãi suất huy động phổ biến
từ 10%-11%/năm, cho vay bằng VND của các NHTM Nhà nước khoảng 12%-
14%/năm, NHTM cổ phần khoảng 14%-16%/năm, lãi suất cho vay USD khoảng
6,6%-9%/năm. Có thể đánh giá chung về diễn biến tình hình lãi suất trong năm 2008
chủ yếu gắn liền với 3 yếu tố chính sau
Yếu tố thị trường: trong điều kiện lạm phát, việc tăng lãi suất là phù hợp, nhằm đảm
bảo lợi ích các thành viên của thị trường tiền tệ( ngân hàng, người gửi tiền, người vay
tiền)
Tác động của việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt: việc thực thi chính sách thắt
chặt tiền tệ của NHTM thông qua công cụ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt
buộc và công cụ lãi suất đã tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ và hoạt động kinh
doanh của các NHTM, theo hướng làm giảm quy mô nguồn vốn, giảm khả năng cho
vay. Quá trình này tác động làm tăng chi phí kinh doanh, tăng lãi suất cho vay của các
phát sinh. Tuy nhiên trong quá trình này, một số tổ chức tín dụng đã thực hiện việc ký
quỹ đối với khách hàng vay tiền, đã làm phát sinh chi phí, làm tăng chi phí khoản vay
(Hình thức này đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ khách hàng- ngân hàng,gây
khó khăn cho khách hàng vay vốn), và phí ngoại hối ( khoảng thời gian 6/2008, tỷ giá,
cung cầu ngoại tệ diễn biến rất nhanh: thừa ngoại tệ nhiều sau đó lại có biểu hiện khan
hiếm ngoại tệ, việc mua bán ngoại tệ theo giá niêm yết thường không có lợi. Điều này
đã làm phát sinh việc thu phí trong hoạt động này, trong một số trường hợp, các tổ
chức tín dụng “ lách” biên độ bằng việc giao dịch qua đồng tiền thứ 3… Quá trình này
đã tác động rất lớn đến thị trường ngoại hối, gây ra những biến động về tâm lý cho
người dân và làm lợi cho giới đầu cơ, ảnh hưởng rất nhiều đến các doanh nhiệp
Thứ tư, thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các NHTM cổ phần nhỏ gặp
khó khăn
Trong những tháng đầu năm 2008, thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là
NHTM cổ phần nhỏ gặp nhiều khó khăn trong đó diễn biến của tình hình lãi suất trên
thị trường, đặc biệt là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng liên tục và tăng cao
là thực tế minh chứng rõ nhất về tình hình này trong những tháng đầu năm. Cụ thể:
+ Nhu cầu vốn trong thanh toán của một số NHTM cổ phần nhỏ rất cao. Để đáp ứng
nhu cầu vốn cho thanh toán các NHTM nói chung và NHTM cổ phần nói riêng trên
địa bàn đã sử dụng biện pháp lãi suất để thu hút nhanh nguồn vốn tiền gửi từ dân cư.
Theo đó lãi suất huy động liên tục tăng trong thời gian này
+ Vốn khả dụng thấp: Về mặt nguyên tắc tất cả các TCTD phải đảm bảo duy trì dự trữ
bắt buộc bình quân. Tuy nhiên, trong đó một số thời điểm tại một số NHTM cổ phần,
mức này không được duy trì và phải bù đắp vào những ngày cuối tháng- diễn biến này
càng làm tăng thêm nhu cầu vốn trên thị trường liên ngân hàng.
+ Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng liên tục tăng nhanh và tăng cao. Có thời
điểm lãi suất loại kỳ hạn cho vay qua đêm lên tới 21%/năm, trong khi đó, mức lãi suất
này khi thị trường ổn định ở mức khoảng 10%-11%/năm
2.2. Điều hành chính sách tiền tệ 2008 của NHNN
Theo nhận định của nhiều chuyên gia tài chính trong và ngoài nước, việc điều hành
chính sách tiền tệ trong những năm 2008 đã thực sự thành công, NHNN đã có những
7.5 13 14 13 11 10 8.5
Lãi suất tái
chiết khấu
6 11 13 12 10 9 7.5
• Dự trữ bắt buộc
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008, NHNN điều chỉnh tăng 1%
tỷ lệ DTBB đối với tất cả các loại kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền gửi VND và ngoại tệ
đối với hầu hết các TCTD( trừ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và 1
số TCTD hợp tác và NHTM cổ phần nông thôn). Đồng thời mở rộng diện phải DTBB
đối với tiền gửi có kì hạn từ 24 tháng trở lên ( trước đây chỉ bao gồm tiền gửi có kỳ
hạn và không kỳ hạn dưới 12 tháng) nhằm nâng cao khả năng điều tiết công cụ DTBB
Những tháng cuối năm 2008, để hỗ trợ các TCTD tăng cung ứng vốn cho nền kinh tế,
ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã thực hiện 5 lần điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB
đối với tiền gửi VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 11%-10%-8%-6%-
3%, kỳ hạn 12 tháng trở lên điều chỉnh giảm từ 2% xuống 1%; 2 lần điều chỉnh giảm
tỷ lệ DTBB đối với ngoại tệ từ 11%-9%-7%
Cùng với việc điều chỉnh tỷ lệ DTBB, NHNN còn linh hoạt điều chỉnh lãi suất tiền
gửi DTBB bằng VND của các TCTD tại NHNN, điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi
DTBB từ 1,2%/năm lên 3,6%-5%-10%/năm sau đó điều chỉnh giảm từ 10%/năm
xuống 8,5%-3,5%/năm. Việc điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi DTBB tạo điều kiện cho
TCTD hạ lãi suất huy động và cho vay
Diễn biến Dự trữ bắt buộc năm 2007-2008
Đơn vị %
2007 2008( 5 lần thay đổi)
Tỷ lệ DTBB( % tổng số dư
tiền gửi phải DTBB)
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5
- Không kỳ hạn và dưới 12
tháng
+ VND 10 11 10 8 6 5
trường tiền tệ năm 2008 và khó khăn về thanh khoản của các TCTD. Kết quả giao
dịch cụ thể từng quý thể hiện như sau:
Giao dịch Quý I Quý II Quý III Quý IV
LS(%) KL(tỷ) LS(%) KL( tỷ) LS(%) KL(tỷ) LS(%) KL(tỷ)
Mua kỳ
hạn
12,18 190.214 11,88 445.00
0
15 283.10
0
13,6 28.891
Bán hẳn 8,5 1.867 1.578 1.578 4,5 74.986
Bán kỳ
hạn
14,91 12.022
Trong quý I, trên thị trường mở diễn ra cả 2 loại giao dịch mua và bán nhưng kết quả
mua là chủ yếu( khoảng 93%) và áp dụng cả hai phương pháp đấu thầu là đấu thầu lãi
suất và đấu thầu khối lượng, thời hạn giao dịch phổ biến là 07 và 14 ngày trong
nghiệp vụ Mua kỳ hạn trên thị trường mở. Từ tháng 2/2008, do tình hình lãi suất đặt
thầu và thắng thầu cao, NHTM chỉ sử dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, mức
lãi suất thống nhất được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo định hướng cho
thị trường, trong các tuần tiếp theo lãi suất được điều chỉnh giảm xuống
14%,13%;10% và 9% chp phù hợp với lãi suất cơ bản do NHNN công bố.
Sang quý II, để đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, NHNN một mặt
áp dụng chính sách thặt chặt tiền tệ nhưng mặt khác vẫn hỗ trợ thanh khoản cho các
TCTD qua kênh OMO. Lượng vốn bơm ra thị trường trong thời kỳ này đạt kỷ lục là
445.000 tỷ đồng, chiếm 99,65% tổng khối lượng giao dịch OMO trong quý II. NHNN
tiếp tục áp dụng hình thức đấu thầu khối lượng với mức lãi suất thống nhất được điều
chỉnh tăng dần từ 9% lên 12%/năm
Quý III, tình hình vốn trên thị trường đã bớt căng thẳng. NHNN tiếp tục tổ chức Mua
bán trái phiếu Chính phủ ròng chuyển ngoại tệ về nước do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế, tỷ giá có xu hướng tăng. Ngày 1/4/2008 tủ giá bình quân liên ngân
hàng là 15960 VND/USD liên tục tăng nhẹ lên mức 16139 VND/USD ngày
10/06/2008 sau đó đột biến tăng mạnh vào ngày 11/6/2008 với mức 16461
VND/USD. Ngày 30/06/2008 từ 16514 VND/USD. NHNN đã quyết định nới biên độ
dao động từ ± 1% lên ± 2% ( từ ngày 26/06/2008) đồng thời triển khai hàng loạt các
biện pháp khác: kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông,
công bố dự trữ ngoại hối của Việt Nam ( điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam),…Nhờ
đó,tỷ giá đã dần dịu lại và duy trì ở mức ~ 16.500 cho đến hết quý 3/08
Thế nhưng, từ tháng 9, tỷ giá USD/VND biến động thất thường, đầu tiên giảm từ mức
16515 ngày 1/10/08 xuống 16494 ngày 24/12 rồi tăng mạnh lên mức 16.989
VND/USD. CÒn trên thị trường tự do, tỷ giá đã thiết lập trên mốc 17000 VND/1
USD từ khá lâu. Từ ngày 7/11/2008, biên độ tỉ giá giao dịch USD/VND được mở
rộng từ mức 2% lên 3% so với tỉ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố
( Quyết định số 2635/QĐ-NHNN ngày 6/11/2008). Biên độ tỷ giá tiếp tục tăng từ ±
2% lên ± 3% vào ngày 7/11/2008
Từ cuối năm 2008, suy thoái kinh tế đã tác động mạnh đến nguồn cung ngoại tệ của
Việt Nam.Theo nghiên cứu, chỉ trong tháng 9 và 11/2008, khối đầu tư nước ngoài đã
bán ròng 0,7 tỷ USD trái phiếu chính phủ và 100 triệu USD cổ phiếu các loại..Bên
cạnh đó, nhu cầu USD của các ngân hàng nước ngoài vẫn cao, ước khoảng 40 triệu
USD/ngày. Thêm vào đó, thâm hụt thương mại có dấu hiệu tăng trở lại. Chỉ trong 2
tháng 10 và 11/2008, thâm hụt thương mại lên tới 1,17 tỉ USD. Ngoài ra, một áp lực
nữa làm cho cầu USD tăng là do Nhà nước không cho phép nhập khẩu vàng, làm tăng
cầu USD tăng để nhập khẩu lậu vàng.Cộng thêm tâm lý găm giữ ngoại tệ của dân cư
đã dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ, làm cho tỷ giá ngoại tệ luôn nóng, phổ biến
ở mức ~1800. NHNN đã thêm lần nữa điều chỉnh biên độ giao động tỷ giá (± 3% từ
mức 06/11/2008) và triển khai một số công cụ can thiệp khác. Vì vậy, tỷ giá ngoại tệ
dần ổn định, nhu cầu ngoại tệ trong thanh toán những mặt hàng thiết yếu được đáp
ứng cơ bản đầy đủ.
Nhận định
Đơn vị:%