BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG CHĂM SÓC
NGƯỜI BỆNH HÔN MÊ ĂN BẰNG ỐNG THÔNG
DẠ DÀY
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Bình
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Lệ Hằng
Mã sinh viên: B00016
Chuyên ngành: Điều dưỡng hệ Đa khoa
Hà Nội, 2010
LỜI CẢM ƠN Để thực hiện đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thị Bình người thầy đã
trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm nghiên cứu để hoàn thành khoá
luận này. Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS. Phạm Minh Đức - Trưởng khoa Điều
dưỡng Trường Đại học Thăng Long, cùng các thầy cô giáo trong khoa. Các bác sỹ, điều
dưỡng và toàn thể cán bộ nhân viên công tác ở khoa Cấp cứu A9 nơi tôi làm việc và một
số Khoa trong bệnh viện Bạch Mai đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
làm nghiên cứu.
lưu ống thông và các theo dõi chăm sóc khác cho người bệnh nặng là trách nhiệm và
công việc hàng ngày của người điều dưỡng. Tại khoa Thần kinh, khoa cấp cứu và trung
tâm chống độc, hàng ngày có nhiều bệnh nhân nặng, hôn mê hoặc người bệnh có rối loạn
nuốt không tự ăn được đường miệng, cần phải ăn bằng ống thông. Việc đánh giá tổng
kết kinh nghiệm để tìm ra biện pháp có hiệu quả tối ưu cho bệnh nhân nuôi dưỡng bằng
ống thông là quan trọng và cần thiết, chính vì những lý do trên đề tài “Đánh giá kết quả
nuôi dưỡng chăm sóc người bệnh hôn mê ăn bằng ống thông dạ dày” nhằm mục tiêu
sau:
Đánh giá hiệu quả nuôi dưỡng chăm sóc người bệnh hôn mê ăn bằng ống thông dạ
dày bằng thức ăn tự nấu và chế biến sẵn.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược giải phẫu bộ máy tiêu hóa: Hệ tiêu hóa bao gồm miệng, hầu, thực quản, dạ
dày, ruột non, ruột già và các tuyến phụ thuộc (các tuyến nước bọt, gan và tụy)
1.1.1. Miệng: Ổ miệng là phần đầu của hệ tiêu hóa, chứa đựng nhiều cơ quan có chức
năng quan trọng về tiêu hóa và tiếp nhận dịch tiết của các tuyến nước bọt lớn và nhỏ đổ
vào ổ miệng. Ba đôi tuyến lớn là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi.
Tuyến mang tai là tuyến nước bọt lớn nhất, nặng khoảng 26g, nằm dưới ống tai ngoài,
giữa ngành xương hàm dưới và cơ ức - đòn - chũm. Tuyến dưới hàm nằm trong hố dưới
hàm ở mặt trong xương hàm dưới. Tuyến dưới lưỡi là tuyến nhỏ nhất trong ba đôi tuyến,
nằm ngay dưới niêm mạc ở hai bên nền miệng, sát mặt trong xương hàm dưới [9, tr.201]
1.1.2. Thực quản: Thực quản là một ống cơ dài khoảng 25cm, đi từ chỗ tiếp nối với hầu
tới chỗ tiếp nối với dạ dày. Từ cổ, thực quản đi xuống qua ngực và lỗ thực quản cơ
hoành vào bụng. [9, tr.207]
1.1.3. Dạ dày: Dạ dày là phần phình to nhất của ống tiêu hóa, nằm ở vùng thượng vị và
hạ sườn trái, ngay dưới hoành trái. Hình thể của dạ dày thường thay đổi. Dung tích dạ
dày khoảng 1000 ml. Dạ dày rỗng có hình chữ J với hai thành trước và sau hai bờ cong
bé và lớn và hai đầu là tâm vị ở trên và môn vị ở dưới. Các phần của dạ dày kể từ trên
xuống dưới là phần tâm vị, đáy vị, thân vị, phần môn vị và môn vị. Phần tâm vị là vùng
dạ dày vây quanh lỗ tâm vị. Đáy vị làm phần phình to hình chỏm cầu ở bên trái lỗ tâm vị
sản phẩm đơn giản hấp thu được. Hoạt động hấp thu: là hoạt động đưa thức ăn đã được
tiêu hóa vào hệ thống tiêu hóa. [8, tr.159]
1.2.1. Hoạt động cơ học ở dạ dày:
Dạ dày có chức năng chứa đựng thức ăn. Hoạt động cơ học của dạ dày được điều
hoà bằng đường thần kinh và thể dịch. Hoạt động bài tiết dịch vị: gồm có ba loại tuyến:
tuyến nằm ở vùng thân và đáy dạ dày, tuyến môn vị. Điều hòa bài tiết dịch vị qua đường
thần kinh, đường thể dịch. Kết quả tiêu hóa ở dạ dày: tiêu hóa lipid, protein,
carbohydrate. [8, tr.160].
1.2.2. Hoạt động cơ học ở ruột non:
Ruột non là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa, dài khoảng 300 - 600cm. Ruột non
gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ruột non có nhiều dịch tiêu hóa như dịch mật,
dịch tụy, dịch ruột. Hoạt động cơ học của ruột non được thực hiện nhờ các kích thích gây
co bóp: co bóp phân đoạn, co bóp nhu động và phức hợp vận động di chuyển để kéo đi
những mẫu thức ăn thừa, chất nhầy, dịch tiêu hóa, vi khuẩn, tế bào ruột bong ra, do vậy
làm cho dạ dày và ruột non được giữ sạch. Kết quả tiêu hóa ở ruột non: tại ruột non các
chất dinh dưỡng đã được phân giải đến mức có thể hấp thu được như: Acid amin, đường
đơn (glucose, fructose, galactose), aicd béo, monoglycerid và glycerol. [8, tr.166]
1.2.3. Hoạt động cơ học ở ruột già:
Hoạt động cơ học của ruột già gồm các hoạt động đóng mở van hồi manh - tràng,
nhu động và phản nhu động. Hoạt động đóng mở van hồi - manh tràng có tác dụng ngăn
cản sự trào ngược các chất từ manh tràng trở lại hồi tràng. Kết quả tiêu hóa ở ruột già:
khi thức ăn xuống ruột già, phần lớn các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa, hoàn tất quá
trình tạo phân và đào thải phân ra ngoài [8, tr.171]
1.2.4. Hấp thu trong ống tiêu hóa:
Ống tiêu hóa hấp thu một ngày khoảng 9 lít dịch (1,5 lít dịch từ thức ăn, 7 lít là dịch
tiêu hóa) [8, tr.173]
1.2.5. Hấp thu các chất ở ruột non:
Hiện tượng hấp thu xảy ra chủ yếu tại ruột non. Thức ăn đến ruột non phần lớn đã
được tiêu hóa thành các chất đơn giản, dễ hấp thu [8, tr.173]
1.2.6. Hấp thu nước:
được hấp thu theo cơ chế
tích cực nhưng các ion hóa trị 1 thường được hấp thu dễ dàng với số lượng lớn, còn các
ion hóa trị 2 thường được hấp thu ít và khó khăn hơn. [8, tr.174]
1.2.8. Hấp thu các chất dinh dưỡng:
- Protein được hấp thu dưới dạng acid amin, dopeptid, tripeptid. Hình thức hấp thu
chủ yếu là vận chuyển tích cực thứ phát. Một số protein được hấp thu theo cơ chế ẩm
bào, đặc biệt ở trẻ sơ sinh do vậy có thể gây ra các biểu hiện dị ứng. Hấp thu
carbohydrate chủ yếu dưới dạng monosaccarid như glucose, galactose, fructose. Glucose
và galactose được hấp thu theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát phía diềm bàn chải
và cơ chế khuếch tán thuận hóa ở bờ bên của tế bào biểu mô ruột. Fructose từ lòng ruột
được vận chuyển vào tế bào biểu mô theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. Ở trong tế bào,
fructose được chuyển thành glucose. Lipid được hấp thu dưới dạng glycerol,
monoglyccerid và acid béo. Glycerol được hấp thu theo cơ chế khuếch tán như fructose.
Monoglycerid và acid béo mạch dài (>10C) được hòa tan trong phần lipid trung tâm của
các hạt mixen muối mật.Trong tế bào biểu mô, acid béo và monoglycerid vào mạng nội
bộ bào tương trơn, được tái tổng hợp thành triglyceride. Triglyceride cùng
phospholipids và cholesterol được bọc trong một màng lipoprotein để trở thành những
hạt cầu mỡ, qua màng tế bào vào hệ bạch huyết. Các acid béo mạch ngắn (<10 C) được
hấp thu trực tiếp vào máu, qua tĩnh mạch cửa về gan. Hấp thu vitamin: đa số các vitamin
tan trong lipid (A, D, E, K) được hấp thu theo cơ chế giống lipis. Các vitamin tan trong
nước như vitamin nhóm B, C được hấp thu theo cơ chế khuếch tán và vận chuyển tích
cực.[8, tr.174]
1.3. Sinh lý bệnh hệ tiêu hóa.
1.3.1. Rối loạn tiêu hóa tại dạ dày Cơ chế chung, đa số loét tá tràng đều có tăng tiết acid
phối hợp với tăng tiết pepsin và acidclohydric. Yếu tố nội tiết. Yếu tố thần kinh.
Thuốc lá, rượu, stress. Yếu tố vi khuẩn. Rối loạn tại ruột. [7, tr.202]:
1.3.2. Rối loạn tại ruột:
Rối loạn dịch mật. Rối loạn tiết dịch ruột. Rối loạn co bóp tại ruột. [7, tr.205]
1.3.3. Hội chứng tiêu chảy:
Tiêu chảy là tình trạng phân chứa nhiều nước, phân nhão hoặc lỏng tùy thuộc vào
nước chín (20ml). Nhiệt kế đo nhiệt độ thức ăn., ống thông Levin (hoặc silicon). Bơm
tiêm 50 nắp vừa khít với đuôi ống thông Levin hoặc chai, túi, bình đựng thức ăn có gắn
liền với hệ thống dây dẫn nối với đuôi ống thông Levin. [12, tr.351]:
Hình 1: Cho bệnh nhân ăn qua ống thông dạ dày
1.4.2. Chuẩn bị thức ăn:
- Cách pha sữa: 1 bữa gồm 6 thìa sữa gạt + 210ml + 20ml nước uống, hoặc 250ml Súp
- Thông thường bệnh nhân ăn qua ống thông mỗi ngày ăn 6 bữa, mỗi bữa cách nhau 3
giờ (6 giờ, 9 giờ, 12 giờ, 15 giờ, 18 giờ, 21 giờ). [12, tr.352].
1.4.3. Cách đặt và cho ăn.
Có thể đưa ống thông vào dạ dày bằng đường mũi hoặc đường miệng.
Để người bệnh tư thế thích hợp,. Đưa đầu ống thông nhẹ nhàng qua mũi (miệng) vào dạ
dày. Hút thức ăn vào bơm 50ml, đuổi hết khí, sau đó nắp vào đuôi ống thông bơm từ từ,
lặp lại động tác bơm thức ăn qua ống thông cho đến khi hết thức ăn, bơm nước chín 30
ml để tráng ống, nút kín đầu ống thông nếu lưu giữ ống lại (khi thực hiện phương pháp
cho chảy nhỏ giọt thức ăn, điều dưỡng cần chú ý cho chảy tốc độ vừa phải).
Khi thay ống thông khác phải rút ống thông ra từ từ đến khi còn khoảng 20cm
dùng kìm kose kẹp chặt rồi rút hết. Tốc độ ăn hay thời gian cho ăn mỗi bữa tùy thuộc
vào từng bệnh nhân, trung bình khoảng 10 - 15 phút.
1.4.4. Thời gian lưu ống thông: Ống thông bằng nhựa từ 1 đến 2 tuần. Ống thông bằng
silicon từ 4 đến 8 tuần. Mở thông dạ dày lưu được hàng năm.
1.4.5. Chăm sóc ống thông dạ dày hàng ngày
- Đối với ống thông đặt đường mũi, miệng.
+ Thay băng dính khi cần thiết hoặc ít nhất 2 lần 1 ngày. [13, tr.193].
+ Chăm sóc mũi miệng cho bệnh nhân bằng nước muối sinh lý ít nhất 2 lần 1 ngày.
- Đối với mở thông dạ dày:Thay băng hàng ngày. Sau khi bỏ băng cẩn thẩn kéo miếng
hãm ở ngoài khỏi mặt da (khoảng 1cm). Kiểm tra da quanh ống xem có đỏ, dấu hiệu gì
khác của nhiễm trùng và loét không [16, pg.27]
Hình 2: Chăm sóc chân mở ống thông qua da
+ Nước: Nước là môi trường cơ bản diễn ra các phản ứng phức tạp trong cơ thể con
người. Nước hoạt động như một dung môi ḥoà tan các chất vô cơ và hữu cơ, giúp quá
tŕnh tiêu hóa, tuần hoàn, bài tiết, vận chuyển các chất dinh dưỡng và đào thải cặn bã.
Nước chiếm 65 – 70% trọng lượng cơ thể.
- Các chất khoáng:
+ Natri: Là ion chính của dịch ngoại bào, có vai trong trong việc phân bố dịch ngoại bào
và dịch nội bào. Nếu thừa Natri sẽ gây phù, cao huyết áp, bệnh tim mạch
+ Sắt: Quan trọng nhất là phản ứng oxy hoá khử các hệ thống enzyme phụ thuộc sắt
tham gia vận chuyển điện tử, chuyên chở oxy, vận chuyển sắt qua màng tế bào.
+ Calci: Cần cho hoạt động của thần kinh cơ, hoạt động của tim, chuyển hoá của tế bào
và quá trình đông máu. Nhu cầu calci 500 mg/ngày [22, pg.270]
+ Kali: Đóng vai tṛò quan trọng trong hoạt động của tế bào, đặc biệt là tế bào cơ tim.
- Vitamin:
Nhóm vitamin tan trong dầu: Các vitamin tan trong dầu A, D, E, K, chất béo cần cho
quá trình tiêu hóa và hấp thu các vitamin này.
Nhóm vitamin tan trong nước: Các vitamin tan trong nước bao gồm vitamin C, B
1
, B
2
,
PP, B
6
. B
12
, Acid folic [19, pg.348]
1.6. Dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng cho người bệnh
Là cơ cấu bữa ăn hợp lý, đủ năng lượng, tỷ lệ các thành phần dinh dưỡng cân đối
theo đúng nhu cầu, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) [1, tr.295]
1.6.1. Dinh dưỡng cho người bệnh:
- Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong điều trị: Ăn uống rất quan trọng đối với
cầu về năng lượng ở người bệnh nhiễm khuẩn cần 50calo/kg. Bệnh nhân bỏng cần
70calo/kg [17, tr.216]
Như chúng ta đó biết, ăn uống có vai trò quan trọng trong quá trình điều trị.
Thức ăn cần phải được coi như là thuốc, ngoài việc xác định thành phần dinh dưỡng cho
bữa ăn, cần phải biết đến số lượng mỗi bữa ăn, số lần ăn và giờ giấc của người bệnh,
đảm bảo ăn phải được thực hiện nghiêm túc như một mệnh lệnh điều trị.
[4, tr.31]
1.6.4. Nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh
- Bệnh nhân nặng: Khi bị bệnh nặng dị hoá tăng do bệnh lý nên mất nhiều calo, do vậy
dinh dưỡng cũng tăng nhiều do tăng chuyển hoá trong khi đó bệnh nhân do bệnh lý
không ăn được, do vậy việc nuôi dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào người điều dưỡng viên
có cung cấp đủ hay không [24, tr.23]
+ Đáp ứng với các tổn thương ( tăng nhịp tim, thở nhanh tiêu thụ oxy tăng, sốt cao ) và
các biện pháp điều trị (thở máy ) Đặc biệt ở các bệnh nhân nặng như nhiễm khuẩn, sốc,
chấn thương nhu cầu năng lượng tăng rất cao do rất nhiều yếu tố kết hợp lại.
+ Bệnh nhân nặng, tuỳ từng loại bệnh, tuỳ triệu chứng cụ thể mà có mức tiêu hao năng
lượng khác nhau. Với người bệnh có bệnh lý phối hợp nhiều triệu chứng, cần đánh giá
từng triệu chứng cụ thể để tính ra tổng số calo nhu cầu cần, ví dụ sốt cao, co giật, loét
mục, giãy giụa kêu la nhiều kèm phải thở máy (chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân thở
máy rất cao). Cứ sốt tăng 1
0
C làm CHCS tăng 10 - 15 %, nhiễm khuẩn cũng tăng 15%
CHCS. Nhu cầu về Protein càng quan trong hơn nữa như bỏng nặng, loét sâu, có nhiều loại
ống dẫn lưu , ví dụ: BN ăn chế độ hậu phẫu năng lượng: 25 - 50 Kcal/kg/ ngày. Trong
đó Protít:15 - 20% tổng số năng lượng, lipit 10 - 20% tổng số năng lượng, gluxit 65 -
75% tổng năng lượng. Vitamin và muối khoáng cân đối, đầy đủ theo bệnh lý. Chất xơ
vừa phải không sử dụng những thức ăn gây đầy bụng, chướng hơi, thức ăn có nguy cơ
nhiễm khuẩn Bệnh nhân bị bệnh thận cần giảm muối [21, tr.152]
1.7. Chế độ ăn trong một số bệnh
1.7.1. Chế độ ăn tăng đạm: Thường người bệnh ăn tăng đạm trong giai đoạn hồi phục để
thêm các loại vitamin nhóm A, B, C, nếu có điều kiện nên dùng cho bệnh nhân các loại
bột chế biến sẵn để dưỡng nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày đóng hộp sẵn (Ensua ).
Đảm bảo đủ nước, lượng nước cần đưa vào cho người bệnh qua đường uống, dịch truyền
được ước tính bằng dựa vào số lượng nước tiểu 24 giờ rồi cộng với 300 - 500ml (mất qua
thở và mồ hôi). Nếu bệnh nhân có sốt, nhiều mồ hôi cần cho thêm 500ml/24 giờ [20,
pg.200]
1.7.6. Chế độ ăn của người bệnh thở máy
+ Cho bệnh nhân ăn qua sonde dạ dày, mỗi lần bơm không quá 300 ml cách nhau 3giờ.
Cho thêm các loại thức ăn có vitamin A, B, C. [2, tr.100]
+ Chú trọng Protit bảo đảm cho cơ thể tiếp nhận 1 - 1,5 g/kg.
+ Lượng Calo 30 - 50 Kcalo/kg thể trọng.
+ Chế biến thức ăn bảo đảm vệ sinh và cân đối theo khẩu phần:
Theo tỷ lệ P : L : G = 1 : 1 : 4.
+ Nước uống : Vnu = Vnt + ( 300 hoặc 500 ) ml - Vdt.
+ Trong đó Vnu = số ml nước uống trong ngày.
Vnt = thể tích nước tiểu /24 giờ tính bằng ml.
Vdt = thể tích dịch truyền tính bằng ml.
(500 ml áp dụng khi có sốt, vã mồ hôi hoặc có hỗ trợ hô hấ
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 .1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Tất cả 48 bệnh nhân được chỉ định nuôi dưỡng bằng ống thông dạ dày ở khoa cấp cứu,
Thần kinh và Chống độc
- Thời gian dinh dưỡng bằng ống thông ít nhất là 1 tuần.
2.1 2.Tiêu chuẩn loại bệnh nhân.
- Bệnh nhân có kèm suy thận, đái tháo đường, suy tim, suy gan.
- Bệnh nhân tử vong trong quá trình nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang.
Các chế phẩm dùng kèm trong quá trình nuôi dưỡng: Glucose 10%, 20%, aminoplasmal -
hepa 10%, albumim human, Alvesin,lipofundin 10%
2.4.5 Thực hiện, theo dõi kết quả xét nghiệm máu
- Protein máu toàn phần
- Abumin máu
2.4.6 Theo dõi phù do thiếu dinh dưỡng
2.4.7 Theo dõi cân nặng: Theo dõi cân nặng của bệnh nhân lúc vào và hàng ngày, lúc ra
bằng cân điện tử tại giường
- Giữ cân
- Tăng cân do phù
- Giảm cân
2.4.8 Theo dõi, chăm sóc các biến chứng chứng nuôi dưỡng bằng ống thông.
Các biến chứng và khả năng dung nạp.
- Chướng bụng
- Ỉa chảy
- Viêm trợt, tấy đỏ, loét ( loét tỳ đè)
- Loét mũi, miệng loét do chân ống thông
- Loét chân mở thông ra da (vùng thượng vị)
- Phù do thiếu dinh dưỡng
- Các biến chứng (sặc vào phổi, tuột ống, nôn, chảy máu do kỹ thuật đặt ống thô bạo )
2.5. Công cụ nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu về định lượng dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn, bao gồm
các phần sau:
- Phiếu điều tra về bệnh nhân
- Phiếu điều tra công tác ghi chép của điều dưỡng viên như , phù, sốt, tiêu chảy, chướng
bụng, loét …
2.5.2 Protocol thực hành chăm sóc nuôi dưỡng bệnh nhân ăn bằng ống thông:
- Đặc tính của bệnh nhân
- Thời gian nằm viện
- Kỹ thuật đặt và bơm thức ăn
2.8. Phân tích số liệu
Các thông tin sau khi thu thập về cần được làm sạch, mã hoá, sau đó dùng phần
mềm thống kê SPSS để xử lý các số liệu thu được dựa vào mục tiêu của đề tài.
KHUNG LOGIC BIẾN ĐỘC LẬP BIẾN PHỤ THUỘC
Đặc điểm của bệnh nhân
- Tuổi
- giới
- Nghề nghiệp
- Chẩn đoán bệnh
Tình trạng bệnh lý (LS)
- Bệnh lý nền
- Bệnh lý mãn tính
kèm theo
- Bệnh mắc phải khi
nằm bệnh viện Thời gian nằm viện
Dinh dưỡng
+ Đường tiêu hoá
+ Đường tĩnh mạch
Protein và abumin máu
Bảng 2: Tỷ lệ nhóm bệnh trong các bệnh nhân được đặt ống thông dạ dày cho ăn
Tên bệnh Bệnh nhân đặt ống thông dạ dày cho ăn
N = 48 Tỷ lệ %
Ngộ độc thuốc 5 10,4
COPD và bệnh phổi 14 29,2
Xuất huyết não 10 20,8
Nhồi máu não 7 14,6
Viêm não 3 6,3
Rắn cắn 6 12,5
Các bệnh khác 3 6,3
Nhận xét: Bảng 5 cho thấy, chiếm tỷ lệ cao nhất là COPD và bệnh phổi (29,2%), tỷ
lệ thấp nhất là viêm não và các nhóm bệnh khác (6,3%).
3.1.3. Số ngày nằm viện.
Bảng 3: Thời gian nằm viện của bệnh nhân nghiên cứu
Thời gian nằm viện
(ngày)
Bệnh nhân đặt ống thông dạ dày cho ăn
N Tỷ lệ %
8 – 14 15 31,2
15 – 21 14 29,2
> 21 19 39,6
Tổng 48 100,0
31.2
29.2
39.6
8 – 14
15 – 21
> 21
N = 48 %
Vào có phù 2 4,1
Vào viện sau 3 ngày xuất hiện phù 4 8,3
Khi ra viện có phù 0 0,0
4.1
8.3
0
100
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Vào có phù Vào viện sau 3
ngày xuất hiện
phù
Khi ra viện có
phù
Khi ra viện không
phù
Nhận xét: Khi vào viện xuất hiện phù chiếm tỷ lệ 8,3%. Không có bệnh nhân nào
khi ra viện bị phù (0,0%)
Bảng 6: Tình trạng phù của người bệnh ở các khoa điều trị
¼ 25,0%
3/4 75%
P <0,05 <0,05 <0,05
Nhận xét: Bảng 7 chỉ rõ bệnh nhân phù do thiếu dinh dưỡng có tỷ lệ Protid và
albumin giảm chiếm tỷ lệ cao khi ăn thức ăn tự nấu (75%)
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng khi nuôi dưỡng bằng ống thông dạ dày
3.3.1.Các loại thức ăn khi nuôi dưỡng
Bảng 8: Loại thức ăn dinh dưỡng
Thức ăn Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Thức ăn chế biến sẵn (6 bữa = 1900Kcalo) 44/48 91,7
Thức ăn tự nấu (6 bữa = 1900Kcalo) 4/48 8,3
91.7
8.3
TA chế biến sẵn (6 bữa = 1900Kcalo) TA tự nấu (6 bữa = 1900Kcalo)Nhận xét: phần lớn bệnh nhân nghiên cứu ăn thức ăn chế biến sẵn (91,7%)
3.3.2. Các loại dinh dưỡng dùng kèm
Biểu đồ 3: Loại thức ăn dinh dưỡng
Thang Long University Library
Bảng 9 : Các loại dinh dưỡng dùng kèm
Các loại dinh dưỡng tĩnh mạch dùng kèm
Năng lượng
dùng kèm
Albumin
human
50ml
¼ 25,0%
Nhận xét: Bảng 9 cho thấy, tỉ lệ bệnh nhân dùng thức ăn tự nấu phải sử dụng dinh dưỡng
tĩnh mạch dùng kèm cao hơn so với bệnh nhân dùng thức ăn chế biến sẵn
3.3.3. Ảnh hưởng c ủa chế độ ăn tới nồng độ protid và albumin máu.
Bảng 10: Tỷ lệ bệnh nhân có P và Al giảm liên quan đến chế độ dinh dưỡng
khi nằm điều trị tại bệnh viện
Dinh dưỡng
tĩnh mạch dùng
kèm
TA chế biến
sẵn
TA tự nấu
Phù
Tỷ lệ
%
Nhóm có
Protein giảm
< 65g/l
13/14 92,9% 14/44
31,8% 3/4 75% 6/14 12,6
Protein bình
thường
≥ 65g/l
6/34 17,6% 30/44