Thời gian trong Âm thanh và cuồng nộ và
Absalom, Absalom! của William Faulkner
Trần Thị Anh Phương Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS Chuyên ngành: Văn học Bắc Mỹ; Mã số 62 22 30 20
Người hướng dẫn: GS.TS. Lê Huy Bắc
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Văn học Mỹ; Tiểu thuyết.
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
William Faulkner (1897–1962) là tiểu thuyết gia lỗi lạc của nền văn học Mỹ (Hoa Kỳ)
hiện đại. Tên tuổi ông luôn được đứng bên cạnh những nhà văn lớn của thế kỉ XX: F. Kafka,
J. Joyce, M. Proust Ông thuộc thế hệ mới, thế hệ trưởng thành sau chiến tranh thế giới thứ
nhất. Thế hệ này xuất hiện những tên tuổi lừng danh bậc nhất Hoa Kỳ, những người đã “đổi
mới phương pháp và nguồn cảm hứng”, khai sáng ra kỷ nguyên mà người ta mệnh danh là
“kỷ nguyên của tiểu thuyết Mỹ”. Faulkner là tác giả của 126 truyện vừa và truyện ngắn (đáng
chú ý là Con gấu, Mặt trời chiều hôm ấy, ), 19 tiểu thuyết (nổi tiếng nhất là Âm thanh và
cuồng nộ, Absalom, Absalom!, Nắng tháng tám, ). Tác phẩm của Faulkner phản ánh những
giây phút khủng hoảng của tâm hồn nhân vật mà trong đó thời gian hiện tại không còn nhiều
giá trị. Những trang viết của Faulkner vừa thật vừa ảo, biến hoá linh hoạt, vừa đậm chất lịch
sử vừa bàng bạc vẻ huyền thoại. Bằng lối viết độc đáo đó, Faulkner đã thành công trong việc
xác lập cho mình một phong cách riêng của văn chương miền Nam Hoa Kỳ. Phong cách đó
được ông thể hiện qua cách xử lý thời gian, không gian, lối kết cấu vẫy gọi độc giả tham gia
rất sâu rộng đến nền tiểu thuyết cùng thời và các thế hệ nhà văn.
Đặc biệt, hai cuốn tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ; Absalom, Absalom! có sự liên kết
với nhau về mặt thời gian. Tính liên văn bản (intertexuality) của hai tác phẩm thể hiện qua
việc tiếp nối của các nhân vật: Tướng Compson, ông Compson, Quentin, Shreve xuất hiện
trong Âm thanh và cuồng nộ lại được tái xuất với tư cách người kể chuyện (NKC) trong tác
phẩm Absalom, Absalom! càng nhấn mạnh thêm bức thông điệp mới về số phận con người
mang tinh thần và hơi thở của thời đại. Ngay từ tiêu đề của hai tác phẩm đã mang tính ẩn dụ
sâu sắc, nó đề cập đến vấn đề bi kịch trong kinh Thánh và bi kịch của Sharkespear được cách
tân, trong tiểu thuyết hiện đại của Faulkner. Hai tác phẩm này cùng đề cập những nỗi ám ảnh
về người da đen, nạn phân biệt chủng tộc dai dẳng và nặng nề ở các bang miền Nam nước
Mỹ. Thêm nữa, sự cách tân về kỹ thuật viết tiểu thuyết cả hai tác phẩm đều sử dụng kiểu thời
gian phi tuyến tính, thời gian đồng hiện để làm thay đổi kết cấu thời gian truyện kể, thể hiện
được thời gian mà nhân vật nếm trải nhằm miêu tả con người trong toàn bộ chiều sâu bản ngã
vốn có của nó. Chọn hướng nghiên cứu về thời gian, chúng tôi sẽ khám phá những thể nghiệm
đặc sắc, qua đó bộc lộ rõ tài năng, phong cách của Faulkner trong thể loại tiểu thuyết.
Chọn đề tài Thời gian trong Âm thanh và cuồng nộ và Absalom, Absalom! của
William Faulkner, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu những cách tân của ông về kỹ thuật viết,
cụ thể là vấn đề thời gian. Bước đầu luận án mong sẽ giới thiệu thi pháp thời gian của
Faulkner với bạn đọc Việt Nam. Đồng thời luận án cũng giúp cho việc giảng dạy, nghiên cứu
văn học Mỹ nói chung và Faulkner nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu quá trình nghiên cứu về Faulkner chúng tôi tập hợp được một số ý kiến bao
gồm cả phần tiếng Anh và phần tiếng Việt như sau:
2.1. Nguồn tài liệu tiếng Việt
2.1.1. Tài liệu nghiên cứu
Ở Việt Nam các bài viết, công trình giới thiệu về Faulkner và sáng tác của ông chỉ chiếm
số lượng khiêm tốn. Đối với sự kiện William Faulkner ra đi ngày 6.7.1962, các tạp chí ở miền
Nam và miền Bắc đều có bài viết tưởng nhớ về ông. Các nhà nghiên cứu đưa ra những đánh giá
nhất định về cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Từ những năm đầu của thập niên 1960, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã bắt đầu chú ý
đến Faulkner hãy đem tâm hồn Về cuốn Âm thanh và cuồng nộ, ông cho rằng: The Sound
and the Fury là tác phẩm mãnh liệt huyền bí nhất của Faulkner. Bên cạnh đó, ông phản bác tư
tưởng “Siêu hình học về thời gian của Faulkner” của Jean-Paul Sartre. Tác giả phân biệt thời
gian thực sự và thời gian giả tạo trong Âm thanh và cuồng nộ. Đồng thời ông cho rằng con
người bị thời gian ám ảnh chỉ là một trong những đề tài quan trọng của tác phẩm còn thân
phận con người mới là chủ đề thực sự mà Faulkner muốn nói.
Năm 1969, Nguyễn Đức Đàn trong cuốn Hành trình văn học Mỹ. Đây là cuốn sách dạng
từ điển tra cứu. Tác giả có bài riêng giới thiệu về Faulkner, nhưng ý kiến sơ lược, không đi
sâu vào hai tác phẩm luận án khảo sát. Dẫu sao thì Nguyễn Đức Đàn cũng đánh giá sơ lược về
những thành tựu của William Faulkner ở tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ trên phương diện
đổi mới nghệ thuật. Trong phần, Con người và năm tháng trong tiểu thuyết hiện đại, tác giả
đưa ra nhận định sau: “… nhiều nhà văn và nhà phê bình thường nhắc đến Đôx Paxôx,
Fôôcne, đến Jêm Joix, Kafka. Đối với họ những nhà văn ấy là những nhà cách tân bậc thầy về
kỹ thuật” [20,114]. Tác giả nhận định về nhân vật trong tiểu thuyết của Faulkner suốt đời khổ
sở vì mang nặng thời gian trong mình. Faulkner khai thác tâm trạng hoài nghi, cô đơn, thất
vọng của con người sau Đại chiến thế giới lần hai. Đặc biệt ở trang 169, tác giả đưa ra nhận
định về vấn đề thời gian trong văn học hiện đại “Thời gian! Ngày nay người ta cũng đang có
đủ thứ ý kiến về thời gian, thời khắc của đồng hồ, thời gian vũ trụ thời gian vật lý, thời gian
sinh lý, thời gian tâm lý… Trong tiểu thuyết hiện đại nhiều nhà văn đã tìm cách “phanh chia”
thời gian, lật ngược thời gian và níu chặt nó lại…” [20,116]
Năm 1969, tác giả Hoàng Trinh đã xuất bản cuốn Phương Tây văn học và con người (3
tập). Trong đó, tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ xuất hiện ở hai chương với tiêu đề: Bàn về
văn học viết về con người; Tiểu thuyết và thời gian. Ông khẳng định giá trị hiện thực lịch sử
toát ra từ sáng tác của Faulkner: Tình yêu của nhà văn với những người lớp dưới, cái nhìn tiến
bộ về quan hệ cần thiết giữa người da trắng và người da đen. Ông cũng nhấn mạnh việc đóng
góp của Faulkner về kỹ thuật thời gian đồng hiện. Đây là yếu tố đặc trưng của bút pháp
Faulkner có tác dụng đắc lực khi gợi ra toàn bộ thế giới mà ở đó là tập hợp của “những bản
giao hưởng quái dị”. Tác giả đã đánh giá cao nhà văn Faulkner về phương diện thời gian như
sau: “Một số nhà văn Mỹ như William Faulkner và Dos Passos đã chịu ảnh hưởng của James
Joyce về mặt sử dụng thời gian đồng hiện. Đến lượt Faulkner và Dos Passos lại phát huy ảnh
Trong chuyên luận Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương Tây hiện đại xuất bản vào
năm 1991, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào chỉ ra vai trò của Faulkner trong sự cách tân của
tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX trên nhiều khía cạnh: cách kể chuyện, thời gian đồng hiện.
Tác giả cho rằng: “Hiện tại hoá câu chuyện, làm cho ngay cả quá khứ cũng hiện lên qua cảm
giác của hiện tại, thậm chí một số nhà văn đã bất chấp quy ước kể chuyện, sử dụng thì hiện tại
trong khi kể lại quá khứ bằng dòng tâm tư (như Faulkner chẳng hạn). Điều này sẽ kéo theo kết
quả là thời gian đồng hiện” [21,85].
Tác giả Lê Huy Bắc đã công bố các bài nghiên cứu về Faulkner rải rác từ những năm
1996, 1997, 1998 như: Đồng hiện trong văn xuôi đăng trên Tạp chí Văn học, số 6/1996;
Faulkner, Hemingway và ngôn từ dòng ý thức, Báo Văn nghệ trẻ, số 31/1997; Giọng và giọng
điệu trong văn học hiện đại; Tạp chí Văn học, số 9/1998. Nhìn chung, tác giả đã phân biệt rõ
ràng dòng ý thức và độc thoại nội tâm từ vấn đề nghiên cứu và qua đó phân tích những ví dụ
từ tác phẩm của Faulkner. Với các bài viết của mình, tác giả mở ra góc nhìn để tiếp cận tác
phẩm Faulkner cũng như các nhà văn hiện đại sâu sắc hơn.
Trong tập Hồ sơ văn hóa Mỹ do nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2000, Hữu Ngọc đã
nêu nhận xét rằng: Faulkner là một bậc thầy của tiểu thuyết hiện đại phương Tây, ông so sánh
nghệ thuật tiểu thuyết của Faulkner với Proust, James Joyce và Kafka. Ông cho rằng Proust
tái tạo thời gian đã mất và khơi dậy tiềm thức; những nhân vật của Kafka bị tha hóa trong một
thế giới vô lý và trung tính đến cực điểm; James Joyce thì đi sâu vào tiềm thức, siêu thực và
tổng hợp văn hóa phương Tây. Proust, Kafka và Joyce đại diện cho nền văn hóa cổ kính của
châu Âu; ảnh hưởng của họ đến các nước châu Âu, đến tinh thần các dân tộc châu Âu hoang
mang sau chiến tranh có thể hiểu được vì nó mang tính phổ biến. Nhưng tác phẩm của
Faulkner với những nhân vật có đặc trưng rất Mỹ; đó là những đại tá, các bang miền Nam,
những người da đen an phận, những tên phe phẩy cỡ bự… những nhân vật này không có ảnh
hưởng đến văn học châu Âu. Faulkner ảnh hưởng đến châu Âu với hai sắc thái: về mặt triết lý
siêu hình và kỹ thuật viết. Triết lý siêu hình của Faulkner xuất phát từ khái niệm tội lỗi và ơn
trên, rất hợp với mặc cảm tội lỗi của nền văn hóa Do Thái Thiên chúa giáo tại Cựu thế giới
sau một cuộc chiến tranh tàn phá kéo dài năm năm. Tấn bi kịch của nhân loại trở lại dã man
trong chiến tranh đã gây ra mối đồng cảm của một cộng đồng “những kẻ có tội tìm phương
cứu vớt, mỗi cá nhân sám hối theo cách của mình, cái tôi chung đó, đôi khi mình chẳng tham
hướng tiên phong chủ nghĩa, các trào lưu Tiểu thuyết Mới rồi lại Mới mới. Những Đa đa đến
Phê bình mới rồi Cấu trúc, Hiện sinh đều xuất hiện rầm rộ ở Mỹ. Dù nhiều lí luận gia xuất hiện
trong văn học Pháp nhưng thực tiễn sáng tác lại ở văn học Mỹ. Những Edza Pound,
W.Faulkner, E.Hemingway đến E.S.Eliot, đều là văn học Mỹ sản sinh ra” [15,56]. Riêng nhà
văn W. Faulkner được đánh giá là người có nhiều tác phẩm lừng danh và ma quái với đỉnh cao
là giải Nobel văn học năm 1948.
Năm 2003, tác giả Huy Liên đã xuất bản cuốn Văn học Mỹ: nhà văn, tác phẩm, thi pháp
và kỹ thuật. Tác giả đề cập đến kỹ thuật thời gian của Faulkner và một số nhà văn trên thế giới
và ghi nhận bản thân thời gian có sức mạnh tàn phá đối với con người. Tác giả đã dẫn lời của
nhà văn triết học Pháp Jean-Paul Sartre, cho rằng: cùng với Marcel Proust, James Joyce, John
Dos Passos, André Gide và Virginia Woolf đều có ý đồ bóp méo thời gian trong tác phẩm của
họ. Các nhà văn muốn tước bỏ đi quá khứ và tương lai, cô đúc thời gian thành “trực giác
thuần tuý trong khoảnh khắc”. John Dos Passos biến thời gian thành ký ức chết cứng và khép
kín. Còn Faulkner thì cắt bỏ luôn cả thời gian. Một số nhà văn Mỹ cũng nói tới đặc điểm phi
thời gian trong sáng tác của Faulkner.
Năm 2003, Lê Huy Bắc cho in cuốn giáo trình Văn học Mỹ. Tuy không viết kỹ về
Faulkner, nhưng cuốn sách cũng có giới thiệu qua về ông như một tác gia tiêu biểu của nền
văn học Hoa Kỳ hiện đại.
Năm 2004, tác giả lại tiếp tục xuất bản cuốn Tác gia văn học Mỹ (thế kỷ XVIII - XX).
Trong cuốn này, tác giả đi sâu nghiên cứu 31 tác gia của nền văn học Mỹ từ đầu thế kỷ XVII
cho tới thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Mặc dù tác giả không đề cập tới W. Faulkner, nhưng với số
lượng đông đảo các tác giả được khảo cứu đã giúp cho người đọc có một cái nhìn tổng quan về
quá trình phát triển của văn học Mỹ. Từ đó giúp ta đánh giá được vị trí Faulkner trong nền văn
học Mỹ.
Năm 2007, tác giả Lê Đình Cúc lại cho ra đời tác phẩm Lịch sử văn học Mỹ. Ngay ở lời
nói đầu, ông viết: “Trong số các nhà văn Mỹ được biên soạn, phần lớn lần đầu tiên được giới
thiệu ở Việt Nam nhưng cũng lại có hiện tượng một vài nhà văn Mỹ khá nổi tiếng ở Việt Nam
như: Henry David Thoreau, William Faulkner lại không có mặt. Đó là điều đáng tiếc” [17,6].
Trang 285, tác giả viết: “người ta tìm thấy trong các nhân vật chính diện của ông một chút
ngưỡng mộ về thế giới mà đã mất hết ý nghĩa và nó là sự mở đầu cho trào lưu văn học của
Nguyễn Liên đưa ra năm phương diện trong nghệ thuật viết văn của Faulkner: Vai trò của thủ
pháp đồng hiện trong cấu trúc tiểu thuyết; kỹ xảo xáo trộn thời gian trong tiểu thuyết hiện đại
chủ nghĩa; sự cách tân cấu trúc thể loại; vai trò của gam màu thể loại trong việc khắc họa những
tính cách tương phản; tính tượng trưng, trữ tình và châm biếm trong ngôn từ tiểu thuyết. Tác giả
khẳng định, Faulkner là một nhà cách tân táo bạo tiểu thuyết của thế kỷ XX, mà đóng góp xuất
sắc của ông đó là sự sáng tạo thủ pháp đồng hiện thời gian trong tiểu thuyết.
Năm 2010, Lê Huy Bắc hoàn thành chuyên luận Lịch sử văn học Hoa Kỳ. cuốn sách dày
gần 1000 trang này đã dành cho Faulkner một vị trí xứng đáng. Nhà nghiên cứu ghi nhận
những nỗ lực cách tân tiểu thuyết của Faulkner ở các phương diện cốt truyện, nhân vật, thời
gian. Ông đánh giá Faulkner cùng với Hemingway là hai trụ cốt của văn học Mỹ thế kỉ XX.
Ông khẳng định Faulkner đã nâng kĩ thuật dòng ý thức lên đến đỉnh cao mà sau đó chẳng ai
có thể theo kịp.
Năm 2011, Faulkner chính thức được đưa vào chương trình đại học trong giáo trình Văn
học Âu–Mỹ thế kỉ XX do Lê Huy Bắc chủ biên. Trong sách này, Âm thanh và cuồng nộ và Con
gấu được chú trọng phân tích ở các cấp độ: thể loại gotich, dòng ý thức, đa điểm nhìn Đây
là công trình có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu và giảng dạy Faulkner ở Việt Nam. Các ý
kiến về Âm thanh và cuồng nộ như “sự bất toàn, ám ảnh và những nỗi đau”, “lối văn trinh
thám”, là những vấn đề luận án sẽ tiếp thu và đối thoại trong các chương sau.
Như thế, dù nổi tiếng hơn Hemingway tại Mỹ, nhưng ở Việt Nam văn chương của
Faulkner chưa được phổ biến rộng rãi. Vậy nên, tình hình nghiên cứu về ông dường như cũng
chỉ đang ở giai đoạn đầu, chưa có công trình chuyên biệt hay luận án tiến sĩ nào về Faulkner ở
Việt Nam. Vấn đề luận án quan tâm nhận được rất ít sự hỗ trợ từ phía các nhà nghiên cứu Việt
Nam.
2.1.2. Tài liệu dịch
Về tình hình dịch thuật tác phẩm của William Faulkner ở Việt Nam hầu như vẫn còn rất
khiêm tốn. Trước đây, các dịch giả chỉ dịch một vài bài nghiên cứu về Faulkner, một số
truyện ngắn và độc nhất một cuốn tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ. Đặc biệt trong năm
2012, một số tiểu thuyết của Faulkner đã được các dịch giả xuất bản tạo nên một hiện tượng
trong văn học Việt Nam.
Năm 1963, ở miền Nam dịch giả Bửu Ý đã xuất bản cuốn Văn học thế giới hiện đại.
nổi bật, trong đó có kĩ thuật thời gian. Tuy nhiên do chưa phải là chuyên luận, nên dù có
những định hướng nhất định đối với đề tài, nhưng những sách trên vẫn chưa có điều kiện đi
sâu khảo sát. Vậy nên, khoảng trống trong nghiên cứu vẫn còn để chúng tôi thực hiện đề tài.
2.2. Tư liệu tiếng Anh
2.2.1. Về vấn đề thời gian trong tiểu thuyết của Faulkner
Từ năm 1952, nhà nghiên cứu Irving Howe đã xuất bản cuốn A Crirtical Study, Ivan R
Dee (Nghiên cứu phê bình, Ivan R Dee). Trong cuốn sách này, tác giả xoay quanh nhân vật bí
ẩn Thomas Sutpen và các điểm nhìn khác nhau của những NKC. Tác giả cho rằng vấn đề thời
gian quá khứ trong Absalom, Absalom! nhìn thấy như một kiểu “thời gian chết”, những đoạn
văn trong tác phẩm như những cơn ác mộng, nhưng nó lại được trình bày trong một thời gian
được dát phẳng ma quái. Thông qua sự tương tác tinh tế của thời gian, cuốn tiểu thuyết tạo ra
một ảo ảnh của không thời gian được cảm nhận mạnh mẽ trong hiện tại. Thời gian dừng lại,
quá khứ không chiếm lại trong dòng chảy vì vậy hình ảnh trong quá khứ đã tạo ra hàng loạt
ảnh tĩnh.
Trong cuốn The Dictionary of World literature (Từ điển văn học thế giới) in năm 1956
do Lillian Hellman chủ biên, đã đề cập đến cách xây dựng kết cấu và thời gian trong tiểu
thuyết của Faulkner. Tác giả cũng đã nhận xét về thủ pháp hồi cố được sử dụng trong kết cấu
và trong thời gian tác phẩm của Faulkner. Phương pháp viết của Faulkner thường bắt đầu từ
phần cuối hơn là phần đầu. Thường thì ông mở đầu câu chuyện bằng đoạn cuối rồi đi ngược
lại dòng thời gian, nghĩa là đi từ hiện tại trở lại quá khứ. Luận án tiếp thu ý kiến này.
Nhà nghiên cứu John Edward Hardy, trong Man in the Modern Novel,1964 (Con người
trong tiểu thuyết hiện đại) đã nhận định về nhân vật của Faulkner bằng bài viết có nhan đề
Huyền thoại đằng sau huyền thoại. Đặt cạnh Hemingway và các nhà văn Mỹ cùng thời,
Faulkner được xem là người có thể nghiệm mới nhất trong phong cách. Những điểm nổi bật
mà John Edward Hardy nêu ra có liên quan đến nhiều vấn đề: 1. Độc giả luôn phải đối diện
với những tình huống mà ở đó chìa khoá có thể từ quá khứ đến hiện tại; 2. Tính chất anh hùng
ở nhân vật của Faulkner không giống Hemingway; 3. sự tái hiện của Quentin Compson trong
các tác phẩm khác; 4. Tác phẩm Faulkner có tính truyền thống theo kiểu dễ nhận biết; 5. Việc
Quentin cháu bỏ trốn vào ngày lễ phục sinh là một sự tái sinh; 6. Sự tương phản giữa hai hình
ảnh Benjy và Jason là sự tương phản giữa hai hình ảnh Chúa và con người xấu xí; 7. Ý nghĩa
giác – thời gian trong Nắng tháng Tám, Âm thanh và cuồng nộ và Khi tôi hấp hối) tại Đại học
British Columbia. Tác giả nhận định rằng, trong ba cuốn tiểu thuyết lớn này, Faulkner rất
quan tâm đến vấn đề thời gian, mối quan hệ giữa nhận thức của từng cá nhân về thời gian.
Trong Nắng tháng tám, tầm quan trong của thời gian thể hiện trong tần suất lặp đi lặp lại tạo
nên biểu tượng bánh xe và vòng tròn. Với Âm thanh và cuồng nộ, biểu tượng thời gian là cái
bóng. Còn trong Khi tôi hấp hối thì biểu tượng thời gian là chiếc quan tài – cái chết và biểu
tượng dòng sông – thời gian đang diễn ra. Thời gian đã tạo nên phong cách riêng của
Faulkner. Đặc biệt, cả ba cuốn tiểu thuyết đều đề cập đến mối quan hệ giữa cái vô hạn của
thời gian và mối quan hệ của nhận thức cá nhân, điều đó đã tạo nên thời gian đa chiều trong
tác phẩm.
Nhà nghiên cứu Jean-Paul Sartre, trong cuốn On The Sound and the Fury: Time in the
Work of Faulkner (Về Âm thanh và cuồng nộ: Thời gian trong tác phẩm của Faulkner).
Trong cuốn sách này, Sartre đồng nhất và khai thác sâu hơn yếu tố thời gian so với Claude-
Edmonde Magny. Ông cho rằng bản chất thời gian trong tác phẩm của Faulkner là hiện tại “sa
lầy” hiện tại không có khả năng mang tính tương lai. Với Âm thanh và cuồng nộ, Faulkner thể
hiện phong cách độc đáo hơn. Ông có xu hướng che dấu hiện tại, trật tự của quá khứ thuộc
vào cảm xúc. Nhân vật của Faulkner do vậy không bao giờ hướng về phía trước, họ hướng về
quá khứ. Sartre lý giải sự lựa chọn vô lý về thời gian của Faulkner xuất phát về sự cảm nhận
về sự ngột ngạt của thời đại, của thế giới đang chết vì tuổi già.
2.2.2. Về vấn đề thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Faulkner
Năm 1929, Evelyn Scott khi giới thiệu Âm thanh và cuồng nộ, có nhắc đến nội dung cơ
bản của các chương sách với vai trò kể chuyện của Benjy, Quentin, Jason. Trong đó Quentin
được coi là hình ảnh tượng trưng của Chúa. Trong On William Faulkner’s “The sound and
the Fury” (Về “Âm thanh và cuồng nộ” của William Faulkner), Scott nhận định: “Người ta
dường như rất hay yêu cầu “tính đạo đức” trong một cuốn sách. Chẳng có một tuyên bố đạo
đức nào trong Âm thanh và cuồng nộ, nhưng những kết luận đạo đức thì có thể được rút ra từ
nó chắc chắn như từ “cuộc sống”, bởi lẽ với tư cách là một nghệ thuật, cuộc sống được tổ
chức theo cách để được khám phá đầy đủ hơn”.
Năm 1942, Maxwell Geismar khi giới thiệu cuốn Writers in Crisis: The American
novel between two wars (Nhà văn trong khủng hoảng: Tiểu thuyết Mỹ giữa hai cuộc chiến) đã
Lối kể chuyện trong tác phẩm của Faulkner rất khác thường, nó phù hợp với xu hướng suy đồi
trên cấp độ con người hiện đại nói chung và gia đình Compson nói riêng.
Năm 1964, Nhà nghiên cứu Horace Judson ra mắt bạn đọc bài nghiên cứu Books:The
Curse & The Hope (Sách: Sự nguyền rủa và hi vọng ). Tác giả đã bàn về tác phẩm Absalom,
Absalom! như cuốn tiểu thuyết thần thoại lãng mạn của miền Nam, cho ta thấy sự đàn áp tàn
bạo của chế độ nô lệ, sự kiêu ngạo của những chủ đồn điền khi xem những cô gái da đen như
những món hàng. Ông đánh giá tác phẩm Absalom, Absalom! Là một trong những tác phẩm văn
xuôi với lối kể chuyện khó hiểu. Nhân vật chính Sutpen là nhân vật gần với một anh hùng bi
kịch Hy Lạp cổ.
Với Âm thanh và cuồng nộ, Horace Judson đề cập đến hình tượng Dilsey, cô trở thành
chuẩn mực đạo đức của cuốn sách. Bên cạnh gia đình Compson là những kẻ say rượu, bệnh
thần kinh, ngu xuẩn, phóng đãng và tự tử. Tác giả đã khẳng định tầm vóc nhà văn Faulkner
thuộc hàng tiểu thuyết gia như Marcel Proust hay Dostoievsky
Năm 1966, Michael Millgate xuất bản cuốn The Achievement of William Faulkner
(Thành tựu của William Faulkner). Trong Âm thanh và cuồng nộ, tác giả đã truy tìm ý nghĩa
cái tên của tác phẩm từ cái tựa đề đầu tiên chưa kịp xoá bỏ trong bản thảo của Faulkner:
Twilight – Tranh tối tranh sáng – một cái tên thích hợp khi gợi ra sự suy tàn của gia đình
Compson tại thời điểm mà sự huy hoàng đã mờ nhạt trước sự huỷ diệt đang tới gần. Ông cũng
ghi lại những lý do đầy đủ nhất mà Faulkner đưa ra tại hội thảo Nagano năm 1955 khi viết Âm
thanh và cuồng nộ. So sánh bản viết tay và bản đánh máy, Millgate nhận thấy cách đặt chữ in
nghiêng của Faulkner vừa gây sự chú ý cho người đọc vừa đạt được những tiến bộ nhất định
khi diễn đạt về sự bất biến của thời gian quá khứ.
Năm 1968, trong Seven Modern American Novelists: An Introduction, (Nhập môn bảy
tiểu thuyết gia hiện đại Hoa Kỳ ),William Van O‟Connor giới thiệu ngắn gọn về gia thế, quá
trình sáng tác của Faulkner. Âm thanh và cuồng nộ được xem là một tiểu thuyết mới với kỹ
thuật độc thoại nội tâm – dòng ý thức ảnh hưởng từ James Joyce – tiểu thuyết ấn tượng với chủ
trương, “Đời sống không kể chuyện cho ta nghe nhưng gây nên ấn tượng trong óc ta. Có hai
thông điệp được tác giả đề cập đến từ nội dung của tác phẩm: Nếu coi tác phẩm cốt yếu là
chuyện Quentin thì đó là câu chuyện của một nhà thẩm mỹ đi tìm ý nghĩa cơ bản cho cuộc sống.
Ta cũng có thể coi chuyện diễn tả sự lỏng lẻo của mối quan hệ gia đình: Sự thiếu tình thương và
Gary Storhoff trong Faulkner’s Familly Crucible: Quentin’s Dilemma (Sự thử thách
gia đình của Faulkner: tình thế lưỡng nan của Quentin) đã nhận diện vấn đề văn học gia đình
đã trở thành trung tâm trong tác phẩm của Faulkner; Faulkner luôn tôn vinh, hoài cổ về sự ấm
áp của gia đình; tiểu thuyết của ông cho thấy gia đình là nơi che giấu sự đau đớn của những
con người dễ bị tổn thương nhất là phụ nữ và người cao tuổi… Đặc biệt, khi phân tích Âm
thanh và cuồng nộ, Storhoff lý giải chiếc đồng hồ là biểu tượng chức năng của gia đình, di sản
quý giá của dòng họ Compson. Bên cạnh đó, Storhoff cũng nhận định rằng trong xu hướng
văn học chú trọng đến gia đình của Faulkner, “chúng ta nhận ra sự tàn phá của rượu và những
ảnh hưởng của nó đến gia đình, những đám cưới bất hạnh dẫn đến lạm dụng hôn nhân, nguy
cơ về loạn luân và bạo lực gia đình, bạo lực giữa trẻ sơ sinh và trẻ lớn hơn, và bạo lực giữa
những đứa trẻ trưởng thành với bố mẹ chúng. Tóm lại, gia đình của Faulkner (dùng một thuật
ngữ phổ biến) là một sự rối loạn tột độ” [123,465].
Năm 1999, trong công trình nghiên cứu Faulkner and Postmodernism: Faulkner and
Yornapatawpha (Faulkner và chủ nghĩa hậu hiện đại: Faulkner và Yornapatawpha), John N.
Duvall và Ann J. Abadie trong lời giới thiệu, đề cập đến hội nghị về Faulkner và chủ nghĩa
hậu hiện đại. Ở đó, Brian McHale xem Absalom, Absalom! như là một văn bản ngưỡng, đứng
ở biên giới giữa chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại. Theo McHale, khoảnh khắc đặc biệt trong
chương tám của Absalom gợi ý rằng „thi pháp hiện đại bị đe dọa phá sản, hoặc thậm chí là
hơn cả mức đe dọa, mà đã thực sự phá sản‟”. Đặc biệt, trong bài viết Sửa đổi Âm thanh và
cuồng nộ: Absalom, Absalom! và ngả rẽ hậu hiện đại của Faulkner (Revising The Sound and
the Fury: Absalom, Absalom! and Faulkner's Postmodern turn ), Doreen Fowler cho rằng, tác
phẩm Absalom, Absalom! là cuộc điều tra siêu hình học về chế độ gia trưởng miền Nam theo
cách mà ở Âm thanh và cuồng nộ không có” [117,13]. Nhà nghiên cứu nhấn mạnh vị trí
Faulkner trong sự liên tục biến động giữa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Đồng quan điển
đó, bắt đầu từ rất nhiều các biểu hiện trong tiểu thuyết của Faulkner như chi tiết về tên và
ngày tháng từ văn bản, Kreiswirth cho rằng “văn bản của Faulkner gần đúng quy ước của việc
chép sử hậu hiện đại” [117,13].Vấn đề hậu hiện đại được John N. Duvall phản ánh trong sự
liên quan của hai tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ và Absalom, Absalom! qua sự phát triển
đáng chú ý về kỹ thuật hậu hiện đại như “tính liên văn bản, chứng hoang tưởng, bệnh thần
kinh phân liệt, sự đứt gãy kết cấu và ngôn ngữ…” [117,13].
Peter Stoicheff trong Faulkner’s Foreign Levy: Macbeth, The Sound and the Fury,
and Writerhood (Levy ngoại quốc của Faulkner: Macbeth, Âm thanh và cuồng nộ và dấu hiệu
nhà văn) đề cập đến việc Faulkner sử dụng Kinh Thánh, và các bi kịch của Shakespeare vào
tác phẩm của mình mà cụ thể như tiêu đề của Âm thanh và cuồng nộ được xuất phát từ câu nói
cuối cùng của Macbeth. Peter Stoicheff lý giải việc Faulkner vận dụng câu chuyện của
Macbeth đã tạo nên tính liên văn bản, tạo nên cái nhìn tham chiếu suốt tiến trình của tác
phẩm. Trong đó âm thanh chủ yếu là từ nhân vật Benjy còn cuồng nộ là do các nhân vật khác
tạo nên. Riêng ở chương 2 của tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ, Stoicheff nhận thấy sự tự lừa
dối mình của Quentin về vấn đề loạn luân với Caddy giống với việc Macbeth cũng tự lừa dối
mình, tự nghe tiếng nói của chính mình trong việc giết Duncan, rồi tiếng chuông trong đêm
Macbeth giết Duncan cũng như tiếng chuông trong thành phố Massachusetts vang lên trong
những giờ khắc Quentin chuẩn bị tự tử… Sau đó, ông đi đến kết luận: “Việc Faulkner đọc
Macbeth rất có thể là một hành động chính yếu trong quá trình tự sáng tạo, thể hiện qua việc
nó hỗ trợ tất cả các cái mở đầu của ông. Mối liên quan giữa hành động đọc và viết, lý do trong
đó khoảnh khắc liên văn bản mà cuốn tiểu thuyết tiếp tục diễn tả một cách hiệu quả nhất, là
trung tâm đối với sự sáng tác Âm thanh và cuồng nộ và đối với tất cả những tiểu thuyết sau
này” [163,4].
Năm 1962, Peter Swiggart xuất bản cuốn The Art of Faulkner Novels (Nghệ thuật tiểu
thuyết Faulkner). Trong công trình này, tác giả nghiên cứu về kỹ thuật tường thuật của
Faulkner trong bốn tiểu thuyết lớn, Âm thanh và cuồng nộ, Khi tôi hấp hối, Nắng tháng Tám,
và Absalom, Absalom! Được kết cấu qua 9 chương. Trong hai chương đầu tiên của phần I,
Peter Swiggart đề cập đến các chủ đề đạo đức và xã hội. Hai chương tiếp theo, ông nói đến
việc nhà văn sử dụng huyền thoại vào trong tác phẩm, vấn đề Thanh giáo. Trong chương cuối
cùng, tác giả thảo luận đến vấn đề độc thoại nội tâm, vấn đề điểm nhìn trong tiểu thuyết của
Faulkner. Phần thứ hai bao gồm các phân tích chi tiết trong bốn tiểu thuyết, trọng tâm đi vào
các yếu tố của ngôn ngữ và cấu trúc chủ đề cũng như các đặc tính khác của tác phẩm. Phần
thứ ba được dành cho các ấn phẩm tiếp theo Hamlet (Xóm nhỏ, 1940), và so sánh những tác
phẩm sau đó để khẳng định thêm sự thành công của Faulkner [164,165].
Số lượng công trình nghiên cứu về Faulkner trên thế giới hiện nay khó có thể thống kê
hết, trong phạm vi tài liệu thu thập được của chúng tôi, thì con số này là vô cùng khiêm tốn.
thuật, tác giả đã lý giải vấn đề đó qua dẫn dụ sau: G. Genette – người hệ thống hóa các hình tượng
thời gian tự sự, xem thời gian là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong Cấu trúc truyện. Đó là sự sắp
xếp các sự kiện trong hiện thực quy chiếu (cái được kể) và sự tham gia hành vi kể – thời gian kể
để cải biến thành trật tự sự kiện trong văn bản truyện, tổ chức các sự kiện thành truyện. Ông cho
rằng “Do một sự mất cân xứng mà ta chưa thể cắt nghĩa được, song nó đã được in dấu vào cơ cấu
của tiếng nói, (hoặc ít nhất những “ngôn ngữ của các nền văn minh” lớn nhất thuộc văn hóa
phương Tây), tôi có thể kể một câu chuyện mà không cần nói chính xác địa điểm nó xảy ra, hoặc
nó xa cách bao lăm so với địa điểm phát ngôn của tôi, nhưng dường như tôi không thể nào loại bỏ
việc xác định thời gian trong tương quan với hành động kể chuyện của mình” [21,85]. Nhà nghiên
cứu Đặng Anh Đào chỉ ra rằng: “Thời gian thật sự có tính nghệ thuật, đó là thời gian của hành
động kể chuyện và thời gian văn bản” [21,88]. Ngay từ khi tiểu thuyết xuất hiện nó đã có những
đặc trưng khác biệt với các hình thức tự sự khác: “Chính là cấu trúc của nó cho phép nhấn mạnh
tính chất quá trình, tính chất dòng chảy của thời gian” và “khả năng hiện đại hóa những sự kiện,
và nhất là sự cảm nhận các hiện tượng như trong hiện tại”. Sự đổi mới của tiểu thuyết hiện đại chủ
yếu tiếp tục tăng cường thêm những đặc điểm ấy: “với thế kỷ này xuất hiện thêm những hình thức
và phương tiện kỹ thuật nhằm hai hướng: xoáy vào dòng chảy của thời gian và tăng thêm cảm
giác về thời gian hiện tại” [21,92].
Năm 1993, trong cuốn Đổi mới phê bình văn học, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã sử dụng thi
pháp hiện đại vào nghiên cứu văn chương trong và ngoài nước, trong đó có đề cập đến vấn đề
về thời gian.
Trong bài viết Những yếu tố thời gian qua Rousseau – Flaubert – Proust của Đào Duy
Hiệp xuất bản năm 1998, tác giả đã phân tích thời gian trong tác phẩm văn chương của ba nhà
văn trên nhiều cấp độ. Đặc biệt trong đó vấn đề thời gian của Proust có nhiều cách tân độc
đáo bởi ông được mệnh danh là người mở đường cho thời gian dòng ý thức.
Năm 1998, Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử xuất bản cuốn Về thi pháp thơ Đường.
Hai tác giả đề cập đến không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Đường bên cạnh các bài
viết các tác giả nước ngoài.
Trong cuốn giáo trình Dẫn luận thi pháp học (1998), tác giả Trần Đình Sử đã đề cập đến
thời gian nhân vật được hiểu như là bao gồm thời gian tiểu sử và thời gian “Được nếm trải qua
tâm hồn của nhân vật”. Hoạt động tâm lý, ký ức dòng ý thức tạo thành thời gian nhân vật. Nếu
trong cuốn Đi tìm thời gian đã mất của M. Proust. Đặc biệt, tác giả đã soi chiếu tác phẩm dưới
nhiều cấp độ thời gian, lần tìm nghệ thuật thời gian mà Proust ngầm ẩn giấu dưới bề mặt ngôn
từ. Công trình nghiên cứu của tác giả Đào Duy Hiệp là tư liệu có giá trị cho những người tiếp
tục nghiên cứu về thời gian trong các tác phẩm sau này.
Trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 7 – 2005, tác giả Đào Duy Hiệp tiếp tục nghiên cứu
Các cấp độ thời gian trong truyện ngắn Chí Phèo. Trong bài viết này, tác giả đi sâu nghiên
cứu các cấp độ thời gian thông qua việc khảo sát thống kê để lý giải cụ thể nghệ thuật sử dụng
thời gian trong truyện ngắn của Nam Cao. Vấn đề đó rất thú vị và mang lại gợi ý thiết thực
cho chúng tôi.
Đến năm 2008, cuốn Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại của tác giả Đào Duy Hiệp
tiếp tục ra mắt bạn đọc. Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi tiếp xúc với nhiều bài viết
theo hướng tiếp cận sáng tác văn học từ các cấp độ thời gian; bên cạnh những hướng tiếp cận
khác từ lý thuyết phê bình hiện đại đối với văn bản nghệ thuật. Trong chuyên mục Thời gian
và tiểu thuyết, tác giả đã nhìn nhận về việc xử lý thời gian của nhà văn cũng như cái trật tự và
nhịp điệu mà nó đem lại cho độc giả trong quá trình đọc đã khiến cho tiểu thuyết mang một
đặc trưng cơ bản của thể loại Tác giả đã nêu ra đội ngũ những nhà nghiên cứu nổi tiếng về
thời gian trong văn học trên thế giới như Emil Shtaiger, G.Miller, M.Bakhtin, Iu.Lotman,
J.Y.Tadié, Genette, P.L.Rey Điều đó cho thấy, vấn đề thời gian vô cùng quan trọng đối với
tác phẩm văn học và thời gian đã góp phần tạo nên bước đột phá về mặt thi pháp trong văn
học của thế kỷ XX.
Qua những điều góp nhặt được từ các bài viết, chúng tôi thấy rằng các nhà phê bình đã
soi chiếu tác phẩm của Faulkner dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Thực tế ở Việt Nam chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu khảo sát nghệ thuật thời gian
trong tác phẩm của William Faulkner. Thêm nữa, cuốn tiểu thuyết Absalom, Absalom! cho
đến nay chưa được dịch sang tiếng Việt. Chúng tôi cho rằng, đây sẽ là phần đóng góp của
luận án.
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi có sử dụng một số luận điểm, khái niệm công cụ từ
luận án “Thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust” của nhà nghiên cứu Đào
Duy Hiệp.
3. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận án
Faulkner cũng như giữa các nhà văn hiện đại của thế giới.
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp tiếp cận thi pháp học được vận dụng nhằm làm nổi bật những đặc trưng
về thủ pháp nghệ thuật thời gian mà nhà văn đã vận dụng thông qua tác phẩm để tạo nên
phong cách riêng độc đáo. Đồng thời việc vận dụng phương pháp tiếp cận thi pháp để có thể
khảo cứu, hệ thống hóa các yếu tố nghệ thuật trong toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm
được khảo sát.
– Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học, triết học, lịch sử, ngôn ngữ học) được
vận dụng xuất phát từ đặc trưng thể loại tiểu thuyết là một thể loại dung hợp, thâu tóm nhiều
đề tài, thể loại. Bên cạnh đó, một tác phẩm tiểu thuyết được đánh giá cao, bao giờ cũng song
hành với việc sử dụng ngôn ngữ phải tinh xảo, tài tình và điêu luyện.
Những thao tác nghiên cứu chính mà luận án sử dụng là:
– Khảo sát văn bản, thống kê, hệ thống các chi tiết nghệ thuật để tìm hiểu các cấp độ
thời gian dựa vào cứ liệu cụ thể.
– So sánh tổng hợp được vận dụng để đối chiếu tìm ra những đặc điểm chung và riêng
của đối tượng nghiên cứu.
– Mô tả, phân tích, tổng hợp được vận dụng để tái hiện, cắt nghĩa và đánh giá đối tượng.
7. Bố cục luận án
Luận án gồm phần Mở đầu, nội dung ba chương, kết luận, tài liệu tham khảo. Nội dung
cụ thể của các chương như sau:
CHƯƠNG 1. THỜI GIAN BIÊN NIÊN
CHƯƠNG 2. THỜI GIAN PHI TUYẾN TÍNH
CHƯƠNG 3. THỜI GIAN ĐỒNG HIỆN
Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Albérès R. M (2002), Cuộc phiêu lưu vào tư tưởng văn học phương Tây hiện đại, Nxb Lao
động.
23. Nguyễn Trung Đức (1995), “Hiệu quả nghệ thuật không–thời gian trong tiểu thuyết “Trăm
năm cô đơn” của G. G. Mackét”, Tạp chí văn học ( 1), tr. 28-31.
24. Nguyễn Trung Đức (1997), Những nguyên lý về lý luận văn học, Nxb Văn học.
25. Eliade Mircea (2005), “Cái thiêng và cái phàm”, Tạp chí văn học ( 2), tr 43-47, Huyền
Giang dịch.
26. Faulkner William (1993), Âm thanh và cuồng nộ, Nxb Hội nhà văn, Phan Đan - Phan Linh
Lan dịch.
27. Gennadi Nikolaevich Pospelov (chủ biên) (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo
dục,Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch.
28. Gorki M. (1970), Bàn về văn học, (2 tập), Nxb Văn học.
29. Trần Phong Giao (1965), “Đọc văn Faulkner”, Tạp chí Văn ( 41), tr. 33-37.
30. Hamburger Kate (2004), Logic về các thể loại văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
31. Đặng Thị Hạnh (1987), Tiểu thuyết Huygô, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
32. Đặng Thị Hạnh (chủ biên) (1994), Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX, Nxb Thế giới.
33. Đặng Thị Hạnh (2000), Một vài gương mặt văn xuôi Pháp thế kỷ XX, Nxb Đà Nẵng.
34. Hawking S. (1995), Lược sử thời gian, Nxb Khoa học kỹ thuật, Cao Chi và Phạm Xuân
Thiều dịch.
35. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn, Nxb Văn học.
36. Đào Duy Hiệp (1998), “Những yếu tố thời gian qua Rosseau – Flaubert – Proust”, Tạp chí
Văn học (10), tr. 73-80.
37. Đào Duy Hiệp (2003), Thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, Luận
án tiến sĩ Văn học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
38. Đào Duy Hiệp (2005), “Các cấp độ thời gian trong truyện ngắn Chí Phèo”, Tạp chí Văn
học (7), tr. 34-38.