- 1 -
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
trang 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
trang 3
1.1 Khái niệm tỷ giá trang 3
1.2 Các loại tỷ giá trang 4
1.2.1 Phân loại theo đối tượng trang 4
1.2.2 Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghóa trang 5
1.2.3 Tỷ giá kinh doanh ngoại tệ trang 6
1.3 Các cơ chế điều hành tỷ giá trang 7
1.3.1 Hệ thống tỷ giá cố đònh trang 7
1.3.2 Hệ thống tỷ giá thả nổi trang 7
1.3.3 Hệ thống tỷ giá hỗn hợp giữa cố đònh và thả nổi trang 8
1.3.4 Các chế độ tỷ giá hiện hành trang 9
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá trang 13
1.4.1 Quan hệ cung cầu trang 13
1.4.2 Mức độ lạm phát trang 14
1.4.3 Lãi suất ngân hàng trang 15
1.4.4 Thu nhập tương đối trang 16
1.4.5 Kiểm soát của Chính phủ trang 16
1.4.6 Kỳ vọng trang 17
1.4.7 Những nhân tố khác trang 17
1.5 Ảnh hưởng của tỷ giá đến nền kinh tế trang 18
1.5.1 Tỷ giá hối đoái và ngoại thương trang 18
1.5.2 Tỷ giá hối đoái và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát trang 19
1.6 Kinh nghiệm điều hành của các quốc gia trang 20
1.6.1 Kinh nghiệm điều hành tỷ giá ở Trung Quốc trang 20
1.6.2 Kinh nghiệm điều hành tỷ giá ở Thái Lan trang 21
- 3 -
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong một nền kinh tế thò trường mở, thương mại quốc tế trở thành phổ biến,
việc thanh toán giữa các quốc gia với nhau phải sử dụng tiền tệ của nước này hay
nước khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ như vậy, các quốc gia phải dựa
vào tỷ giá hối đoái.
Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vó mô chủ yếu
để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu đã đònh trước của một quốc
gia. Việc thay đổi tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến các lónh vực, các doanh nghiệp có thu
chi ngoại tệ từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế... Tỷ giá hối đoái không chỉ
có tác động đến giá cả hàng hóa trong nước, mà còn tác động rất lớn xuất nhập
khẩu hàng hóa, cũng như đến xuất nhập khẩu tư bản (vốn). Vì vậy, nó tác động
đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Với những tác động lớn như vậy của tỷ giá đến nền kinh tế làm cho các nhà
quản lý nhà nước ở mọi quốc gia đều muốn quản lý, điều tiết tỷ giá, sử dụng tỷ
giá như một công cụ điều tiết nền kinh tế theo những mục tiêu kinh tế-xã hội đã
vạch ra.
Đối với nước ta, một nước đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển,
tiến tới hội nhập càng đòi hỏi phải xác đònh một chính sách tỷ giá hối đoái thích
hợp để có thể khuyến khích, tận dụng nguồn lực sản xuất trong và ngoài nước,
thúc đẩy các hoạt động thương mại, du lòch, kiều hối... góp phần tích cực cho phát
triển kinh tế, cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
- 5 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1 KHÁI NIỆM TỶ GIÁ
Đã từ lâu việc trao đổi mua bán không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước
mà có sự tham gia của nhiều quốc gia khác nhau. Khi đó, các quan hệ thanh toán,
tín dụng trong giao dòch ngoại thương giữa các bên đòi hỏi phải sử dụng đơn vò
tiền tệ của một trong hai nước nhưng cũng có thể là đồng tiền của nước thứ ba. Vì
vậy, vấn đề chuyển đổi đồng tiền nước này sang tiền nước khác để xác đònh giá
trò giao dòch, thanh toán có ý nghóa rất quan trọng. Muốn thực hiện việc chuyển
đổi đó phải dựa vào một mức qui đổi xác đònh, hay nói cách khác là phải dựa vào
tỷ giá hối đoái.
Tùy theo từng thời kỳ và phương pháp tiếp cận người ta đưa ra nhiều khái
niệm khác nhau về tỷ giá.
Theo quan điểm cổ điển thì tỷ giá hối đoái là tỷ lệ so sánh ngang giá (ngang
giá vàng) giữa đồng tiền của hai nước. Còn theo quan điểm kinh tế hiện đại, tỷ giá
hối đoái là giá mà người ta phải trả khi mua hoặc bán một ngoại tệ.
Và trên thò trường ngoại hối, tỷ giá là giá cả của tiền tệ nước này được tính
bằng đơn vò tiền tệ nước khác.
Như vậy, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trò giữa hai đồng
tiền với nhau; hay đó là giá chuyển đổi của một đồng tiền nước này trong quan hệ
so sánh với các đồng tiền khác.
Còn ở Việt Nam, theo mục 8/ điều 4, nghò đònh số 63/1998 của Chính phủ:
“Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vò tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vò tiền tệ
của Việt Nam”.
Chúng ta đònh nghóa tỷ giá theo quan điểm hiện đại, tỷ giá là giá cả, là số
y
Tỷ giá mở cửa: tỷ giá được công bố vào lúc thò trường giao dòch ngoại hối
mở cửa hoạt động. - 7 -
y
Tỷ giá đóng cửa: tỷ giá hình thành vào thời điểm cuối cùng của phiên giao
dòch ngoại tệ, đây là tỷ giá phản ánh quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thò trường
ngoại hối.
1.2.2 Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghóa
- Tỷ giá hối đoái danh nghóa là khái niệm đo lường giá cả tương quan của hai
đồng tiền. Tỷ giá danh nghóa chính là giá của một đồng tiền được biểu thò thông
qua đồng tiền khác mà không đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dòch
vụ giữa chúng. Tỷ giá hối đoái danh nghóa gồm tỷ giá hối đoái niêm yết trên các
thò trường hối đoái thế giới, tỷ giá chính thức công bố tại các Ngân hàng, tỷ giá thò
trường tự do không nằm trong kiểm soát của Nhà nước (tỷ giá không chính thức).
- Tỷ giá hối đoái thực được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và
giá cả ngoài nước. Khi tỷ giá danh nghiã tăng hay giảm không có nghóa là gia
tăng hay sụt giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế. Nhưng tỷ giá hối đoái thực
đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia.
Tỷ giá hối đoái thực là tương quan giữa giá cả của hàng mậu dòch và giá cả
của hàng phi mậu dòch.
Tùy theo phương pháp yết giá tiền tệ của từng quốc gia, tỷ giá hối đoái thực
được tính như sau:
y
Yết giá gián tiếp: Nội tệ là đồng yết giá, ngoại tệ là đồng đònh giá. Phương
hóa trong nước lớn hơn mức giá hàng hóa nước ngoài thì tỷ giá thực sẽ nhỏ hơn tỷ
giá giao ngay trên thò trường và ngược lại.
1.2.3 Tỷ giá kinh doanh ngoại tệ
Đó là tỷ giá do các ngân hàng, các tổ chức được phép kinh doanh ngoại tệ
công bố gồm: tỷ giá mua và tỷ giá bán, trong các loại đó có phân biệt tỷ giá tiền
mặt, tỷ giá chuyển khoản.
Ngoài ra, còn tồn tại nhiều loại tỷ giá trong giao dòch kinh doanh ngoại tệ
như:
- Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó ngân hàng chuyển
tiền bằng điện. Tỷ giá này nhanh chóng và chính xác, là cơ sở để xác đònh các
loại tỷ giá khác.
- Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán trong đó ngân hàng chuyển tiền bằng thư,
tỷ giá thư hối thường thấp hơn tỷ giá điện hối.
- Tỷ giá giao ngay (Spot): tỷ giá áp dụng cho ngày hôm nay nhưng giao dòch
ngoại tệ trong vòng 2 ngày sau đó. - 9 -
- Tỷ giá kỳ hạn (Forward): tỷ giá áp dụng cho ngày giao dòch ngoại tệ trong
tương lai sau ngày thỏa thuận giao dòch từ 1-12 tháng.
- Tỷ giá chéo: là tỷ giá giữa hai đồng tiền được xác đònh thông qua một đồng
tiền khác làm trung gian.
Công thức tính: A/B = A/C * C/B
Ví dụ: 1USD = 15.750 VND và 1AUD = 12.000 VND, thì
USD/AUD = USD/VND * VND/AUD = USD/VND * 1/ AUD/ VND
= 15.750/ 12000= 1,3125
1.3 CÁC CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ
Không phải ngay từ đầu các cơ chế điều hành tỷ giá được xác đònh và hình
thành (Phụ lục1) mà chúng đã trãi qua nhiều biến cố cũng như nhiều thay đổi, và
được phân chia như sau.
Hơn nữa, các chính phủ có thể thực thi những chính sách mà không cần bận
tâm là các chính sách đó có duy trì được tỷ giá trong biên độ quy đònh hay không.
Nếu tỷ giá không được phép thả nổi, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn của mình
vào bất cứ nước nào có lãi suất cao nhất. Điều này có thể sẽ làm cho chính phủ
của các nước có lãi suất thấp hạn chế vốn của các nhà đầu tư đem ra khỏi nước
mình. Như vậy, sẽ có nhiều hạn chế dòng vốn và hiệu quả của thò trường tài chính
bò giảm sút.
1.3.3 Hệ thống tỷ giá hỗn hợp giữa cố đònh và thả nổi
Là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can thiệp của Chính phủ để tác động đến tỷ giá
hối đoái phục vụ chiến lược chung của nước mình.
Trong chế độ tỷ giá thả nổi tự do, Chính phủ giữ thái độ thụ động, để cho thò
trường quyết đònh giá trò đồng tiền nước mình. Trên thực tế ít có nước nào thả nổi
tự do mà trái lại họ can thiệp bằng những công cụ tài chính, dự trữ ngoại tệ, chính
sách kinh tế, kể cả giải pháp hành chính.... - 11 -
Loại hình tyœ giá này hiện đang được áp dụng ơœ hầu hết các nước, tuy nhiên
mức độ điều tiết cuœa mỗi nước mỗi khác với những đặc trưng đa dạng phù hợp với
đặc điểm của từng quốc gia. Đến nay nó tồn tại dước các hình thức sau.
1.3.4 Các chế độ tỷ giá hiện hành
c Thả nổi hoàn toàn (Free Float, Independently Float)
Nhà nước không can thiệp vào thò trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái do cung
cầu thò trường quyết đònh. Khi xảy ra biến động, tỷ giá sẽ tự điều chỉnh thông qua
cung cầu thò trường. Trên thực tế không có quốc gia nào trên thế giới có chế độ tỷ
giá thả nổi hoàn toàn.
d Thả nổi có quản lý không xác đònh đường đi tỷ giá (Managed float without
pre-announced path)
Trong chế độ tỷ giá này, Ngân hàng Trung ương thỉnh thoảng can thiệp vào
thò trường ngoại hối. Nếu can thiệp trực tiếp, sẽ làm thay đổi cơ cấu của dự trữ
lý, tạo ra tình thế không chắc chắn chính sách tùy ý mà Ngân hàng Trung ương
phải đi theo.
g Biên độ dòch chuyển dần (Crawling Band)
Trong chế độ tỷ giá hối đoái theo biên độ dòch chuyển, Ngân hàng Trung
ương xác đònh một biên độ luôn dòch chuyển theo 2 cách:
- Xác đònh biên độ dòch chuyển “nhìn về phía sau” tức là biên độ được xác
nhận dựa trên sự chênh lệch lạm phát trong quá khứ.
- Xác đònh biên độ dòch chuyển “nhìn về phía trước” tức là dựa trên tỷ lệ lạm
phát kỳ vọng trong tương lai, hoặc biên độ được sử dụng theo một mức nào đó mà
Ngân hàng Trung ương nhắm đến.
Ngân hàng Trung ương xác đònh biên độ mà không cần phải nhiều lần điều
chỉnh để đạt đến vò trí cân bằng trung tâm. Tuy nhiên, biên độ nhìn về phía sau có
thể dẫn đến lạm phát cao hơn, còn biên độ nhìn về phía trước có thể làm cho tỷ
giá hối đoái được đònh quá cao do đồng tiền được đònh vượt giá trò thực của nó.
- 13 -
h Chế độ tỷ giá cố đònh có dòch chuyển dần theo biên độ (Crawling Peg)
Đây là chính sách tỷ giá hối đoái được xem là giải pháp để phá giá từng
bước đồng tiền của một quốc gia. Ngân hàng Trung ương ấn đònh một mức tỷ giá
cố đònh đồng thời cho phép thò trường giao dòch với một biên độ cộng trừ, dao
động từ hẹp đến rộng tùy theo mức độ phá giá đồng tiền.
Trong chế độ tỷ giá hối đoái này, ngân hàng Trung ương có thể sử dụng
nhiều chỉ tiêu kinh tế để ấn đònh tỷ giá danh nghóa. Thông thường, chế độ tỷ giá
cố đònh theo biên độ dòch chuyển dùng để giảm lạm phát như trong trường hợp
biên độ “nhìn về phía sau”. Ngoài ra, tỷ giá danh nghóa luôn được điều chỉnh theo
kiểu “nhích dần” từng bước và tổng mức điều chỉnh sau khi được xác đònh sẽ được
chia ra nhiều tỷ lệ khác nhau và được điều chỉnh dần xuyên suốt trong một thời
kỳ. Chẳng hạn, nếu Ngân hàng Trung ương có kế hoạch phá giá VND 6% trong
cạnh đó, Nhà nước còn đảm bảo khả năng chuyển đổi đồng tiền nước mình để lấy
“nogại tệ neo” theo tỷ giá cố đònh vào bất cứ lúc nào. Để làm được điều này, Nhà
nước phải có lượng ngoại tệ đủ mạnh, tối thiểu phải tương với tổng tiền mặt đang
lưu thông trong nước.
Cơ chế này là giải pháp tốt nhất để kiềm chế lạm phát đối với quốc gia có tỷ
lệ lạm phát phi mã. Nền kinh tế theo cơ chế này sẽ có lãi suất thấp, đây là yếu tố
quan trọng kích thích đầu tư phát triển kinh tế.
Vì mục tiêu của chế độ này là cố đònh tỷ giá nên các quốc gia sẽ phải trả giá
đối với các mục tiêu kinh tế khác. Hội đồng tiền tệ lập ra để thay thế Ngân hàng
Trung ương nên một số chức năng quan trọng của Ngân hàng Trung ương không
còn nữa, chẳng hạn như chức năng “người cho vay cuối cùng” đối với ngân hàng
thương mại.
k Chế độ tỷ giá đô-la hóa toàn diện (Full Dollarization)
Trường hợp cực độ của hội đồng tiền tệ là đô-la hóa toàn diện. Nhà nước từ
bỏ nội tệ và thay thế bằng một ngoại tệ mạnh, thường là đô-la Mỹ nên gọi là đô-
la hóa và cam kết đi theo chế độ tỷ giá đô-la hóa trong dài hạn. Như vậy, nhà - 15 -
nước không còn quyền tự chủ trong chính sách tiền tệ và càng không thể can thiệp
vào chính sách tiền tệ của Mỹ.
Mức độ linh hoạt điều chỉnh tỷ giá hối đoái cũng có thể được sắp xếp theo
thứ tự từ (1) đến (9) như trên, và tỷ giá càng cố đònh thì việc điều hành tỷ giá càng
trở nên khó khăn và ngược lại.
Theo báo cáo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thì xu hướng tỷ giá hối đoái hiện
nay là “đi về hai cực” và nhóm theo chế độ tỷ giá trung dung có xu hướng ngày
càng giảm đi và tiến về hai cực, tức là hoặc đi về cố đònh tỷ giá hoặc thả nổi tỷ
giá. Xu hướng này không chỉ xảy ra đối với các nền kinh tế hội nhập cao mà xảy
ra đối với hầu hết các quốc gia.
P
Q
D’
S
D
S’
1.50
1.60
1.55
Bên cạnh hoạt động xuất nhập khẩu còn có những chính sách thuế, chính
sách bảo hộ. Do đó, chỉ cần một trong những chính sách này có sự thay đổi cũng
dẫn đến sự thay đổi trong cung cầu ngoại tệ, từ đó dẫn đến sự thay đổi trong tỷ
giá. Chẳng hạn, khi Chính phủ gia tăng thuế đối với hàng nhập khẩu sẽ làm cho
giá hàng nhập khẩu gia tăng, trong điều kiện mặt hàng này co giản theo giá sẽ
dẫn đến nhu cầu đối với hàng hóa này giảm. Việc giảm nhu cầu hàng nhập khẩu
có nghóa là giảm nhu cầu về ngoại tệ, cho nên giá của đồng ngoại tệ sẽ giảm đi
hay nói khác hơn là đồng nội tệ tăng giá.
Ngoài ra, khi Chính phủ có nhu cầu gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia sẽ làm
cho nhu cầu ngoại tệ tăng, từ đó tỷ giá sẽ tăng và ngược lại.
1.4.2 Mức độ lạm phát
Dùng lý thuyết ngang giá sức mua, ta có thể đánh giá tác động có thể có của
lạm phát với tỷ giá hối đoái. Lý thuyết ngang giá sức mua (Phụ lục 3) cho rằng tỷ
giá hối đoái cân bằng sẽ điều chỉnh cùng một mức độ chênh lệch trong tỷ lệ lạm
phát của hai nước. - 17 -
*
Lãi suất thực: Nếu lãi suất cao có thể thu hút dòng vốn nước ngoài đầu tư
vào các chứng khoán có lãi suất cao thì lãi suất cao này có thể phản ánh dự kiến
lạm phát cao. Vì lạm phát cao có thể đặt áp lực giảm giá lên đồng tiền của nước
đó nên không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đầu tư vào các
chứng khoán đònh danh bằng đồng tiền này. Vì vậy cần phải xem xét đến lãi suất
thực, đó là lãi suất danh nghóa đã điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát. - 18 -
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghóa - Tỷ lệ lạm phát
Chúng ta thường so sánh lãi suất thực giữa các quốc gia để đánh giá những
biến động của tỷ giá hối đoái vì nó kết hợp giữa lãi suất danh nghóa và tỷ lệ lạm
phát mà cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng đến tỷ giá. Khi các nhân tố khác
không đổi, sẽ có một tương quan cao giữa chênh lệch lãi suất thực của hai quốc
gia với tỷ giá của hai đồng tiền của hai nước đó.
1.4.4 Thu nhập tương đối
Nhân tố thứ tư tác động đến tỷ giá hối đoái là mức thu nhập tương đối. Giả
đònh rằng thu nhập của Mỹ tăng đáng kể trong khi thu nhập của Anh vẫn không
thay đổi. Điều này sẽ tác động lên đường cầu bảng Anh, đường cung bảng Anh và
tỷ giá cân bằng. Đường cầu bảng Anh sẽ dòch chuyển ra phía ngoài phản ánh một
sự gia tăng trong thu nhập của Mỹ và vì thế làm tăng nhu cầu về hàng hóa Anh
của người Mỹ, trong khi đó đường cung bảng Anh không thay đổi. Vì vậy tỷ giá
cân bằng của đồng bảng Anh sẽ tăng lên.
Hình 3: Ảnh hưởng của Thu nhập tương đối đến sự hình thành tỷ giá
cho rằng đô-la sẽ giảm giá trong tương lai. Điều này sẽ gây áp lực làm giảm giá
đồng đô-la ngay lập tức. Trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nhiều
ngân hàng thương mại trên thế giới đã bán tháo các đồng tiền các nước châu Á để
mua những đồng tiền khác vì họ đánh giá rằng đồng tiền các nước châu Á được
đánh giá cao hơn giá trò thật của chúng. Hành vi này đã gây sức ép giảm giá đồng
tiền của các nước châu Á và các ngân hàng thương mại đã bò một số người chỉ
trích là đã hành động làm tăng thêm sự yếu kém của các đồng tiền này.
1.4.7 Những nhân tố khác
Khi tỷ giá được thả nổi thì nó rất nhạy cảm với những sự kiện kinh tế, chính
trò, xã hội, chiến tranh, kể cả yếu tố tâm lý, cụ thể như các nhân tố: chỉ số thất
nghiệp, chỉ số bán lẽ, kết quả của hội nghò G7, EU, ASEAN, sản lượng công
nghiệp, GDP, GNP, phát hành trái phiếu của Chính phủ....
Chẳng hạn, nguyên nhân làm cho tỷ giá giữa VND và USD gia tăng vào cuối
năm 2004 là do USD có dấu hiệu mạnh trở lại so với các đồng tiền chủ đạo khác
trên thò trường ngoại hối quốc tế, với sự kỳ vọng vào một số chỉ tiêu kinh tế Mỹ:
tăng trưởng, thất nghiệp, thâm hụt ngân sách, sức mua của người tiêu dùng... có
dấu hiệu hồi phục theo chiều hướng tích cực. Bên cạnh đó, lãi suất chủ đạo của
Cục dự trữ liên bang Mỹ – FED đối với USD hai lần được điều chỉnh tăng trong - 20 -
tháng 7 và tháng 8/2004, từ mức 1,0%/ năm lên 1,25% và 1,50%/năm, làm cho
giới đầu tư tin tưởng vào sự tiếp tục tăng giá của đồng USD. Nguyên nhân thứ 2 là
do tâm lý người dân lo ngại lạm phát gia tăng khi chỉ số tăng giá tiêu dùng hết
tháng 8/2004 được công bố là 8,3%, mức tăng cao nhất trong 10 năm gần đây.
Ngoài ra là tâm lý về việc đồng tiền có mệnh giá 100.000 đồng bằng chất liệu
polymer được đưa ra lưu thông từ đầu tháng 9/2004; giá vàng cũng có hướng tăng
nhẹ nên người dân có xu hướng lựa chọn USD cho các nhu cầu cất giữ, gửi tiết
kiệm...
1.5 ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ
giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hóa.
Khi tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản từ quốc
gia này sang quốc gia khác. Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích là
tìm kiếm lợi nhuận và tránh rủi ro. Do vậy, nếu tỷ giá giảm, trong trường hợp
người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ gia tăng
và tư bản xuất khẩu sẽ giảm. Nếu tỷ giá tăng, trong điều kiện dự đoán nó không
tiếp tục tăng nữa thì tư bản xuất khẩu sẽ tăng và tư bản nhập khẩu sẽ giảm.
1.5.2 Tỷ giá hối đoái và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát
Với mức tỷ giá 1USD =14.000VND của năm 2000 thấp hơn mức 1USD =
15.000VND của năm 2002, tức tiền Việt Nam mất giá và nếu giả đònh mặt bằng
thế giới là không đổi, thì không chỉ có xe máy nhập khẩu tính bằng tiền Việt Nam
tăng giá mà tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự, trong
đó có cả nguyên vật liệu, máy móc cho sản xuất. Nếu tất cả các yếu tố khác trong
nền kinh tế là không đổi, thì điều này tất yếu sẽ làm cho mặt bằng giá cả trong
nước tăng lên. Nếu tỷ giá tiếp tục gia tăng qua các năm có nghóa là lạm phát đã
tăng. Nhưng bên cạnh đó, đối với các lónh vực sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn
lực trong nước, thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh
tranh cho các lónh vực này, giúp phát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công
ăn việc làm, giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên. Và ngược lại
nếu đồng Việt Nam tăng giá khi các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm,
khả năng cạnh tranh của các lónh vực sản xuất trong nước cũng có xu hướng giảm,
sản lượng quốc gia có thể giảm, thất nghiệp có thể tăng lên...(Phụ lục 4)
- 22 -
1.6 KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ CỦA CÁC QUỐC GIA
1.6.1 Kinh nghiệm điều hành tỷ giá ở Trung Quốc: Chính sách tỷ giá ở nền
kinh tế chuyển đổi.
trừơng.
1.6.2 Kinh nghiệm điều hành tỷ giá ở Thái Lan
Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu Á năm 1997 mà Thái
Lan là nơi đầu tiên giảm giá đồng tiền của mình.
Nhằm kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, Thái Lan đã dùng chính
sách phá giá nhẹ đồng THB vào tháng 05 năm 1981 và tháng 11 năm 1984.
Nhưng cũng từ đó đến khi cuộc khủng hoảng xảy ra thì tỷ giá của THB so với
USD gần như cố đònh, chỉ dao động quanh 25THB/USD. Tuy nhiên, xuất khẩu của
Thái Lan chiếm hơn 70% GDP hàng năm, lại tập trung vào một số mặt hàng chủ
lực, cán cân thương mại thâm hụt từ 10% năm 1990 lên 60-70% so với xuất khẩu
năm 1997. Nền kinh tế Thái Lan bắt đầu sa sút từ cuối năm 1995, tốc độ tăng
trưởng giảm, thâm hụt tài khoản vãng lai cao, nợ nước ngoài tăng. Thò trường
chứng khoán suy sụp từ cuối năm 1996, các nhà đầu cơ quốc tế lại tấn công vào
đồng THB làm cho giá trò đồng THB giảm mạnh. Đến ngày 02/07/1997 chính phủ
Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng THB. Đến cuối năm 1997, nợ nước ngoài của
Thái Lan lên đến 88 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ tụt xuống còn 28 tỷ USD.
Đây là bài học trong việc đưa ra một chính sách tỷ giá thích hợp, hạn chế tối
đa những tác hại đến nền kinh tế bởi vì chính sách tỷ giá ảnh hưởng đến xuất
nhập khẩu, tổng sản phẩm quốc dân cũng như tốc độ phát triển kinh tế của một
quốc gia.
1.6.3 Kinh nghiệm điều hành tỷ giá ở Chi Lê
Nếu so sánh giữa hai lựa chọn chế độ tỷ giá neo cứng và thả nổi, chế độ tỷ
giá hối đoái neo cứng có thể làm tăng đáng kể ngoại thương, khuyến khích xuất
khẩu, tạo ra một mức neo danh nghóa và tránh hiện tượng đầu cơ. Trong khi đó,
chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tạo ra mức độ độc lập tiền tệ cao hơn, tạo ra cơ chế
điều chỉnh tự động đối với các cú sốc thương mại từ bên ngoài và tránh được
những sự tấn công mang tính chất đầu cơ. - 24 -
- 25 -
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ
ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM Từ nhiều năm qua, song song với tiến trình đổi mới của đất nước nói chung
và cơ chế quản lý kinh tế nói riêng, cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
cũng đã có những thay đổi quan trọng để phù hợp với hiện trạng của nền kinh tế.
Có thể nghiên cứu cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam theo những giai đoạn
sau:
2.1 GIAI ĐOẠN TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1989
Trước năm 1989, nước ta thực hiện chính sách tỷ giá cố đònh, giá cả ngoại tệ
do Ngân hàng Nhà nước quyết đònh và hầu như cố đònh theo thời gian. Trong thời
gian đó, ở nước ta tỷ giá hối đoái cố đònh được ấn đònh rất cao, vừa không phản
ánh đúng quan hệ cung cầu trên thò trường ngoại hối, vừa không phản ánh đúng
giá trò của đồng tiền nội tệ. Có thể nói tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam lúc
bấy giờ chỉ là hệ số quy đổi để các công ty thương mại quốc doanh lập kế hoạch
và tính toán nội bộ. Vì vậy mới xuất hiện hiện tượng có nhiều tỷ giá khác nhau: tỷ
giá mậu dòch, tỷ giá phi mậu dòch, tỷ giá kết toán nội bộ, và các tỷ giá trên thò
trường tự do theo quan hệ cung cầu.
- Tỷ giá mậu dòch (tỷ giá chính thức):
Tỷ giá này lần đầu tiên được xác đònh giữa đồng Việt Nam và Nhân dân tệ
(CNY) của Trung Quốc vào ngày 25/11/1955 là 1CNY=1470 VND. Đó là tỷ giá
được xác đònh trên cơ sở giá bán lẽ của 34 mặt hàng ở Hà Nội và Bắc Kinh cùng
một số tỉnh biên giới hai nước Việt Nam, Trung Quốc, với mục đích giải quyết nhu
cầu thanh toán giữa hai nước trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
Đến ngày 31/05/1956 Việt Nam và Liên Xô ký kết hiệp đònh về tỷ giá chính
thức giữa đồng Việt Nam và đồng SUR dựa trên cơ sở tính chéo tỷ giá VND/CNY
và tỷ giá CNY/SUR. Vào thời điểm này 1CNY= 2SUR, do đó 1SUR=735 VND.