thực trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở tái chế chì và sức khoẻ học sinh xã chỉ đạo - văn lâm - hưng yên năm 2008 - Pdf 24


Bộ giáo dục v đo tạo Bộ Y tế

Trờng đại học y H Nội

Lỗ văn Tùng

Thực trạng ô nhiễm môi trờng của
các cơ sở tái chế chì v sức khoẻ học sinh
xã chỉ đạo - văn lâm - hng yên năm 2008
luận văn thạc sĩ y học
Chuyên ngành : Y học dự phòng
Mã số : 60.72.73
Ngời hớng dẫn khoa học
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Liên

H Nội - 2009 Lêi c¶m ¬n

Tôi xin bày tỏ lời cám ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, khoa Y tế Công cộng,
các bộ môn liên quan, Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Y Hà Nội đã
luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn
thành Luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, đặc
biệt là các thầy cô giáo khoa Y tế Công cộng - Trường Đại học Y Hà nội đã hết lòng
dạy bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Nguyễn Thị
Bích Liên, với tư cách là người hướng dẫn khoa học và tấm lòng nhân ái, tận tuỵ
của một nhà giáo, cô đã truyền đạt kiến thức, cho tôi những lời khuyên, chỉ dẫn hết
sức quan trọng trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các đồng nghiệp Viện Y học Lao
động và Vệ sinh Môi trường, đặc biệt là ThS. Đặng Anh Ngọc cùng các đồng
nghiệp của khoa Vệ sinh và Sức khoẻ trường học đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi

3.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường 28
3.2. Thực trạng sức khoẻ học sinh 34
Chương 4: BÀN LUẬN 50
4.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường 50
4.2. Thực trạng sức khoẻ học sinh 55
KẾT LUẬN 65
KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Ch÷ viÕt t¾t ATSDR Agency for Toxic Substances and Disease
Registry
(Cơ quan đăng kí độc chất và bệnh tật)
CVCS Cong vẹo cột sống
EPA Environmental Protection Agency
(Cơ quan bảo vệ môi trường)
MT Môi trường
PbB Chì trong máu
PTTL Phát triển thể lực
RHM Răng - Hàm - Mặt
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TH Tiểu học
THCS Trung học cơ sở
TMH Tai - Mũi - Họng
VSMT Vệ sinh môi trường
YHLĐ Y học lao động

Bảng 3.16. Tỷ lệ học sinh có cả mức δ-ALA niệu >10mg/l và chì niệu >80μg/l 39
Bảng 3.17. Chiều cao trung bình của học sinh theo tuổi và giới 39
Bảng 3.18. Cân nặng trung bình của học sinh theo tuổi và giới 40
Bảng 3.19. Phân loại phát triển thể lực học sinh 41
Bảng 3.20. Phân loại phát triển thể lực học sinh theo làng 42
Bảng 3.21 Tình hình bệnh tật ở học sinh 44
Bảng 3.22. Tình hình bệnh tật học sinh theo làng 45
Bảng 3.23. Phân loại sức khoẻ học sinh theo giới 47
Bảng 3.24. Phân loại sức khoẻ học sinh theo làng 47
Bảng 3.25. Phân loại PTTL theo mức δ-ALA niệu và Chì niệu 48
Bảng 3.26. Phân loại sức khoẻ theo mức δ-ALA niệu và chì niệu 48 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ học sinh theo các nhóm δ-ALA niệu 35
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ học sinh theo các nhóm chì niệu 37
Biểu đồ 3.3. Tình hình bệnh tật chung ở học sinh 43
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ học sinh theo phân loại sức khoẻ 46
Biểu đồ 3.5. So sánh chiều cao của nam với các nghiên cứu trước đây 59
Biểu đồ 3.6. So sánh chiều cao của nữ với các nghiên cứu trước đây 59
Biểu đồ 3.7. So sánh cân nặng của nam với các nghiên cứu trước đây 59
Biểu đồ 3.8. So sánh cân nặng của nữ với các nghiên cứu trước đây 59
1
ĐẶT VẤN ĐỀ


tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở
tái chế chì và sức khỏe học sinh xã Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên năm
2008” nhằm 2 mục tiêu sau:
1. Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trong làng tái chế chì và
môi trường trường học của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
xã Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên năm 2008.
2. Khảo sát ảnh hưởng của ô nhiễm chì đến sức khỏe học sinh
thông qua chỉ số chì niệu và δ-ALA niệu.

3
Chương 1
TỔNG QUAN 1.1. Giới thiệu chung về chì vô cơ.
Chì (Pb) là một kim loại nặng có màu xám, dẻo và đàn hồi. Nhiệt độ nóng
chảy 327
o
C, nhiệt độ sôi 1740
o
C. Bắt đầu bay hơi ở nhiệt độ 400-500
o
C.
Chì được sử dụng để chế tạo các thiết bị hoá học, ắc quy, màu, tetraetyl,
để bọc cáp điện, chế tạo đồng thau, màn chống tia gamma Trong điều kiện
sản xuất, không chỉ chì nguyên chất mà cả các hợp chất của nó như PbO, Pb
2
O,
Pb
3

chì trong huyết thanh, lượng chì này cân bằng với lượng chì trong mô mềm.
Lượng chì chứa trong thận tăng lên cùng với tuổi. Một số lượng lớn chì được
giữ lại trong xương, chiếm khoảng 95% tổng lượng chì trong cơ thể người lớn,
73% tổng lượng chì trong cơ thể trẻ em [30].
Chì xuất hiện trong xương sẽ chiếm chỗ của canxi. Nó được tích luỹ ở
đây một cách tạm thời, bộ xương như là “con thuyền” bảo vệ các cơ quan
khác khi sự tích luỹ chì mãn tính diễn ra. Đồng thời nó là nguồn tái phục hồi
và tiếp tục gây nhiễm độc sau khi kết thúc phơi nhiễm với chì [29].
1.1.3. Đào thải chì
Mặc dù chì được đào thải ra ngoài bằng một số đường (bao gồm cả mồ
hôi và móng, tóc), nhưng chỉ có đường tiết niệu và tiêu hoá là có tầm quan
trọng thực sự. Khoảng 75% chì hấp thụ vào cơ thể được đào thải ra ngoài qua
nước tiểu, 25% đào thải qua phân. Nhìn chung chì được đào thải ra ngoài cơ
thể một cách chậm chạp, nên tích luỹ chì trong cơ thể con người diễn ra một
cách dễ dàng [30], [39].
1.1.4. Ảnh hưởng của chì đến sức khoẻ
Trong các chất ô nhiễm môi trường thì chì là một trong những kim loại
nặng, có độc tính cao và rất nguy hiểm đối với cơ thể con người. Chì và các
hợp chất của nó là loại độc chất đa tác dụng, tác động lên toàn bộ các cơ quan

5
và hệ cơ quan, những tổn thương đặc biệt nặng xuất hiện trong hệ thống tạo
máu, hệ tim mạch và thần kinh và hệ tiêu hoá [50]. Bộ Y tế Nga đã xếp chì
cùng với asen, thuỷ ngân, cadimi, kẽm, flo vào nhóm độc chất gây ô nhiễm
môi trường nguy hiểm loại 1[55].
Những dấu hiệu và triệu chứng không đặc trưng trong nhiễm độc chì bao
gồm ăn không ngon, có vị kim loại trong miệng, táo bón, da xanh tái, phiền
muộn, thể trạng yếu ớt, thiếu ngủ, nhức đầu, dễ bị kích thích, đau cơ và khớp,
đau bụng, đường viền Burton. Những tác động đặc trưng xuất hiện ở các cơ
quan và hệ cơ quan đích như hệ thần kinh (trung ương và ngoại biên), hệ

Tuy vậy, hàm lượng chì trong đất bề mặt thay đổi phụ thuộc vào nơi có nguồn
chì và khói phương tiện giao thông.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2005), tại châu Âu hàm lượng chì trong không
khí ở ngoại ô thành phố thường không vượt quá 0,15 μg/m
3
, còn ở phần lớn nội
thành, hàm lượng chì dao động trong khoảng 0,15 - 0,5 μg/m
3
[51].
Theo nghiên cứu của tác giả Henry A Foner (1992), hàm lượng chì trong
đất ở một số thành phố của Israel khá cao như: trung tâm thành phố Jerusalem
là 1.075μg/g, trung tâm thành phố Tel Aviv: 1.394μg/g, Haifa 1581μg/g, trung
tâm thành phố Be’ersheva: 530μg/g, trung tâm thành phố Akko: 620μg/g,
Petah Tiqwa: 839μg/g, đối diện nhà máy thuỷ tinh ở thành phố Hebron:
150μg/g [27].
1.2.2. Ảnh hưởng của chì đến sức khoẻ trẻ em
Các tổn thương do tác động của chì lên trẻ em thường xuất hiện khi mức
chì máu thấp hơn so với người lớn do trẻ em nhạy cảm với độc tính của chì
hơn [45]. Ngay cả hàm lượng chì có trong môi trường tự nhiên, chì vô cơ đã
ảnh hưởng đến sức khoẻ trẻ em. Tác động của chì có thể dẫn đến những rối
loạn về phát triển trí tuệ và thể lực, các rối loạn về thần kinh tâm lý, giảm tổng
hợp hem và thiếu máu, tăng ngưỡng tiếp nhận âm thanh và giảm mức vitamin
D trong máu. Các tác động thần kinh của chì lên cơ thể trẻ em được đặc biệt
chú ý vì rối loạn về trí tuệ ở trẻ vẫn tiếp tục diễn ra sau khi mức chì trong máu
đã giảm [56].

7

Hình 1.1. Ảnh hưởng của chì vô cơ đến sức khoẻ [45]
1.2.2.1. Ảnh hưởng đến hệ thần kinh và phát triển trí tuệ

tuổi thì chỉ số này giảm 4,4 - 5,3 điểm với mức tăng chì máu tương tự [30].
Sử dụng một bộ thử nghiệm để xác định chỉ số IQ và kết quả học tập của
trẻ em thành phố Boston, Bellinger và cs (1992) đã nhận thấy rằng nếu hàm
lượng chì trong máu lên tăng10 μg/dl (từ 1 – 25 μg/dl) thì chỉ số IQ của trẻ 24

9
tháng tuổi giảm 5,8 điểm, thành tích học tập của trẻ em 10 tuổi giảm 8,9 điểm.
Stiles và Bellinger (1993) nhận thấy thiếu hụt điểm số IQ có thể liên quan đến
một vài chỉ số hoạt động thần kinh tâm lý [21].
Lanphear B.P. và cộng sự (2005) khi tổng hợp số liệu từ 1.333 trẻ em từ
khi sinh đến 5 và 10 tuổi trong 7 nghiên cứu cộng đồng nhận thấy chỉ số IQ
giảm 6,9 điểm khi mức chì máu tăng từ 2,4 đến 30 μg/dl. Khi mức chì máu
tăng từ 2,4 -10 μg/dl, 10-20 μg/dl, 20-30 μg/dl thì chỉ số IQ giảm tương
đương là 3,9 điểm, 1,9 điểm và 1,1 điểm. Họ đã kết luận rằng phơi nhiễm chì
trong môi trường có liên quan với thiếu hụt trí tuệ [31].
Cùng với giảm chỉ số IQ, người ta nhận thấy trẻ em bị nhiễm độc chì
giảm khả năng chú ý, rối loạn chức năng ngôn ngữ, rối loạn khả năng tiếp
nhận các chương trình giáo dục và khả năng thích nghi với môi trường nhà
trường [33].
Vấn đề thấm nhiễm chì nhiều khi nằm ngoài sự chú ý của các bác sĩ. Chỉ
khi phát hiện trẻ học tập kém, có các vấn đề về khả năng chú ý và cử động sự
chính xác (đặc trưng cho tác động lên thần kinh của chì với hàm lượng thấp)
thì cha mẹ học sinh mới đưa trẻ đến bác sĩ khám bệnh [56].
1.2.2.2. Ảnh hưởng đến phát triển thể lực ở trẻ em
Tác động bất lợi nhất của chì đối với tăng trưởng xuất hiện ở những trẻ
em có mức chì máu tăng cao ở cả giai đoạn bào thai và sau khi sinh. Chiều
cao trung bình khi sinh của những trẻ em có mức chì máu tăng cao thấp hơn 2
cm so với chiều cao dự báo trước. Ở 15 tháng tuổi, chiều cao trung bình của
trẻ có hàm lượng chì máu tăng cao thấp hơn 2 cm so với những trẻ có mức chì
máu bình thường [42].

11

Hình 1.2. Ảnh hưởng của chì đến sinh tổng hợp HEM [14]
1.2.2.4. Ảnh hưởng lên hệ thống tiêu hoá
Ở trẻ em, rối loạn hệ thống tiêu hoá xuất hiện ở mức chì lớn hơn hoặc
bằng 60 μg/dl. Các triệu chứng rối loạn tiêu hoá bao gồm đau bụng, táo bón, co
thắt, buồn nôn, nôn, chán ăn và giảm cân [30]. Các triệu chứng cũng có khả
năng xuất hiện ở 50% trẻ em có mức chì máu 20-45 μg/dl [32].
Mối liên quan thuận giữa mức chì máu và tỷ lệ sâu răng đã được báo cáo
ở một số nghiên cứu dịch tễ học [23]. Nghiên cứu ở 251 trẻ em từ 9-12 tuổi
nhận thấy rằng những trẻ em có hàm lượng chì trong lớp men răng cao thì có

12
tỷ lệ sâu răng cao hơn những trẻ em có hàm lượng chì trong men răng thấp.
Đối với trẻ em từ 5 -17 tuổi, nếu mức chì máu tăng lên 5μg /dl thì nguy cơ
sâu răng cao gấp gần 2 lần [24].
1.2.3. Tình hình nhiễm độc chì ở trẻ em
Trẻ em là đối tượng có nguy cơ cao nhất đối với nhiễm độc chì do đặc
điểm sinh lý học và hành vi của trẻ khác với người lớn: hệ thống thần kinh
của trẻ em rất nhạy cảm đối với tác động của chì, đường tiêu hoá cũng như cơ
chế bảo vệ chưa hoàn thiện làm cho chì dễ dàng hấp thu vào máu, trẻ hay có
thói quen cho tay hoặc các đồ dùng vào miệng, trẻ em hay bị rối loạn tiêu hoá
và rối loạn hàm lượng canxi và sắt trong cơ thể [20], [47], [48]. Ngoài ra trẻ
em còn hít thở ở tầng không khí sát mặt đất nên có nhiều bụi và ôxít chì hơn
so với tầng trên [56].
Nguồn gốc chì thâm nhập vào cơ thể trẻ em là : 1- chì chứa trong bụi qua
tay và các vật nhiễm bẩn ; 2- chì từ không khí ; 3- chì trong nước ăn uống ; 4-
chì trong thức ăn, đặc biệt là đồ hộp và hoa quả. Về mặt sinh thái, sự nhiễm
bẩn các phương tiện và sản phẩm trên là do thay đổi thành phần vật chất bên
ngoài môi trường do hoạt động của các xí nghiệp công nghiệp khai khoáng,

Cần phải điều chỉnh khẩu phần ăn và kiểm soát
hành vi của trẻ, tiến hành các chương trình giáo
dục phòng chống tích luỹ chì trong cơ thể đối với
trẻ em. Nếu hàm lượng chì máu không giảm thì
phải tìm hiểu nguồn gốc và hạn chế chì thâm
nhập vào cơ thể.

III

20-44
Cần phải kiểm tra sức khoẻ và có thể chỉ định
điều trị cho trẻ em nhóm này. Cần phát hiện
nguồn chì gây ô nhiễm môi trường.

IV

45-69
Cần phải kiểm tra sức khoẻ và điều trị cho trẻ em
nhóm này bằng bằng thuốc thải chì (chelation
therapy)
V
≥70
Tình trạng y tế khẩn cấp. Cần khẩn trương tiến
hành điều trị cho trẻ em và điều chỉnh môi
trường.

14
Theo Báo cáo của Cơ quan đăng ký độc chất và bệnh tật (ATSDR-1988)
về sự phổ biến của nhiễm độc chì, ở nước Mĩ tích luỹ chì trong máu có thể lên
tới 5,9 - 11,7 triệu trẻ em [20].

Mạch, Hy lạp, Hung - ga - ry, Italia, Rumani, Đức, Nam Tư), phần lớn trẻ em
lứa tuổi tới trường có mức PbB dao động trong khoảng 5 - 60 µg/dl [49].
Theo kết quả khám 199 trẻ em từ 3 - 6 tuổi ở Wolcele (1988) (quận
Birmingham – Anh), hàm lượng chì máu dao động trong khoảng 4,1 - 33,5
µg/dl, trung bình là 9,74 µg/dl [43].
Các nghiên cứu được tiến hành ở Nam Phi cho thấy một bức tranh khá
không thuận lợi: hơn 90% trẻ em có mức PbB > 10 µg/dl [52].
Các số liệu trên là bằng chứng về một bức tranh nguy hiểm của thực tế
và cường độ nhiễm độc chì ở trẻ em trên thế giới. Việc kiểm soát hàm lượng
chì máu ở trẻ em tại các quốc gia đã trở thành vấn đề cấp thiết [58]. Nhiều
nước trên thế giới như Mỹ, Đức, Đan mạch, Áo, Mexico, Thái Lan đã triển
khai các chương trình quốc gia nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chì
và hạn chế những tác động bất lợi của chì đến sức khoẻ trẻ em [57]
1.3. Tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề và ảnh hưởng của nó
tới sức khoẻ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề nhiễm độc chì đã được quan tâm từ lâu. Tuy nhiên
qua tham khảo tài liệu, chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập đến ảnh
hưởng của ô nhiễm môi trường do chì đến sức khoẻ trẻ em. Chúng tôi xin nêu
ra một số dữ liệu trong các báo cáo và đề tài khoa học được tiến hành nghiên
cứu ở một số làng nghề có khả năng gây ô nhiễm chì cho môi trường (như
làng nghề tái chế kim loại, làng nghề cơ khí, làng nghề đúc kim loại…).

16
1.3.1. Tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
Qua nghiên cứu của Đặng Kim Chi (2005), phần lớn các làng nghề hình
thành và phát triển tự phát, thiết bị đơn giản thủ công, công nghệ lạc hậu, hiệu
quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư
cho xây dựng các hệ thống xử lý nước, khí thải hầu như không được quan
tâm. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường các làng nghề là vấn đề đang được
quan tâm và cần thiết phải có những nghiên cứu điều tra cụ thể. Ô nhiễm môi

2
O
3
. MnO…là
những tác nhân chính ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, đặc biệt là đối
với trẻ em. Nước bề mặt và đất tại các làng nghề này cũng bị ô nhiễm nặng,
hàm lượng kim loại nặng (ví dụ như chì) vượt TCCP nhiều lần, thậm chí còn
xuất hiện hàm lượng xianua đáng kể trong nước ao,hồ tại làng Đông Mai
(Hưng Yên) và Vân Môn (Bắc Ninh) [5].

17
Ở làng nghề đúc nhôm, kẽm, chì ở xã Vân Môn (Bắc Ninh) (2003), một
lượng lớn bụi có chứa kim loại nặng phát tán vào không khí. Một số lượng
lớn mẫu không khí trong làng có hàm lượng chì vượt TCCP, mẫu cao nhất
vượt TCCP 87,2 lần [36].
Theo Nguyễn Quỳnh Hoa, Nông Thanh Sơn (2004) nghiên cứu hàm
lượng chì trong môi trường ở vùng tiếp giáp với khu chế biến kim loại mầu
Thái Nguyên thì hàm lượng chì trung bình trong đất là 2,35 ± 2,0 mg/kg [4].
1.3.2. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khoẻ
Do môi trường không khí, nước ngầm và nước mặt, đất đều bị ô nhiễm
nên số người dân tại các làng nghề bị mắc các bệnh đường hô hấp, đau mắt,
bệnh ngoài da, tiêu hoá, phụ khoa là rất cao. Ngoài ra là một số bệnh mang
tính nghề nghiệp như bụi phổi, ung thư, thần kinh, đau bụng, đau cột sống…
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động,
sức khoẻ dân cư tại các làng nghề tái chế kim loại là có nhiều vấn đề nhất. Kết
quả điều tra sức khoẻ tại làng tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên) cho thấy:
Triệu chứng chủ quan về hô hấp (tức ngực, khó thở) chiếm 65,6%, suy nhược
thần kinh chiếm 71,8%, viêm đa khớp mãn chiếm 46,9%, tỷ lệ hồng cầu giảm
chiếm 19,4%, tỷ lệ huyết sắc tố giảm chiếm 44,8% (kết quả về tỷ lệ hồng cầu
và huyết sắc tố thông qua xét nghiệm máu và ALA niệu cho 32 đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status