SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Lời mở đầu
Khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự định hướng của nhà nước
thì các làng nghề thủ công truyền thống ở nhiều địa phương cũng được phục hồi
và phát triển sản nhanh chóng. Sản phẩm của các làng nghề không chỉ đáp ứng
nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài thu được nguồn ngoại
tệ lớn và cải thiện đời sống nhân dân. Phát triển các làng nghề là một hướng đi
rất đúng vì tạo thêm việc làm cho người dân tại các làng nghề lại giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc. Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng ấy, một nỗi lo lắng và
day dứt là nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống. Nguy cơ
này phát sinh chính từ hoạt động đặc thù của các làng nghề như: quy mô nhỏ,
manh mún, công nghệ thủ công lạc hậu, không đồng bộ phát triển tự phát chủ
yếu chịu sự chi phối của thị trường. Và một thực tế nữa là do sự thiếu hiểu biết
của chính những người dân ở các làng nghề về sự tác động của hoạt động sản
xuất đến sức khoẻ của bản thân và những người xung quanh.
Vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề đáng báo động như hiện nay thì các doanh
nghiệp và hộ gia đình đã làm gì? Các cơ quan nhà nước và các địa phương có
những giải pháp nào để khắc phục triệt để tình trạng trên. Đề án này sẽ đi xem
xét thực trạng và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường tại
các làng nghề. Nội dung của đề án gồm ba phần:
Phần 1: phát triển nghề truyền thống và tác động đến môi trường sinh thái.
Phần 2: thực trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.
Phần 3: phương hướng và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm
môi trường làng nghề.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để trình bầy, nhưng không tránh khỏi các
thiếu sót, rất mong được sự góp ý của thầy và các bạn đọc.
1
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Phần 1: Phát triển nghề truyền thống và tác động đến môi
trường sinh thái
1. Phát triển nghề truyền thống tại Việt Nam
Tổng cộng 173 197 90 618 31 341
Phân bố làng nghề ở vùng nông thôn Việt Nam
Làng nghề là giải pháp phát triển kinh tế nông thôn rất có hiệu quả. Lao
động nghề đã giải quyết được vấn đề lao động dư thừa và lao động trong thời
gian nông nhàn. Có 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm các ngành
2
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
nghề và 13% số hộ chuyên về nghành nghề. Lao động tại các làng nghề đã thu
hùt được 10 triệu lao động thường xuyên. Đó cũng là nguồn thu nhập đáng kể tại
các hộ gia đình, tại nhiều làng hoạt động nghế không còn là hoạt động phụ nữa
mà đã là thu nhập chính của các hộ gia đình. Ví dụ như làng Đồng Kỵ ở Từ Sơn,
Bắc Ninh chuyên sản xuất đồ gỗ có thu nhập rất cao, hầu như các hộ gia đình ở
đây đã không sản xuất nông nghiệp nữa.
2. Phát triển nghề truyền thống tác động đến môi trường sinh thái
Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng ấy là nỗi lo lắng và day dứt không
kém là nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề. Nguy cơ này phát sinh
chính từ đặc thù của các làng nghề như quy mô nhỏ manh mún, công nghệ thủ
công lạc hậu không đồng bộ và cũng do sự thiếu hiểu biết của người dân trong
việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của chính mình và mọi người xung
quanh. Hơn nữa các làng nghề có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt
bằng sản xuất, các xưởng sản xuất xen kẽ với khu dân cư. Theo lẽ thường tình
các làng nghề phàt triển thì thu hút càng nhiều lao động. Trước hết là con em các
làng nghề không phải ly hương tìm đường cứu sống, thứ nữa là làng nghề phát
triển sẽ thu hút thêm lao động các vùng lân cận làm cho dân cư ở đây càng thêm
đông đúc. Tình trạng phổ biến tại các làng nghề là nơi sản xuất trùng với nơi ở
nên quy mô sản xuất càng mở rộng thì diện tích đất ở càng hẹp và sử dụng thiết
bị, hoá chất càng nhiều làm cho môi trường sống càng thêm ô nhiễm nặng nề.
Mỗi một làng nghề đều có đặc thù riêng nên mức độ ô nhiễm môi trường hay
loại ô nhiễm riêng như ô nhiễm về nguồn nước; ô nhiễm không khí; ô nhiễm
tiếng ồn… Nhưng bất kỳ loại ô nhiễm nào cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, môi
Chỉ tiêu
Tiêu chuẩn
cho phép
Tinh bột
Bình Minh
Bún Phú
Đô
Nước mắm
Hải Thanh
Rượu
Tân Đô
Đậu phụ
Quang Bình
pH 5.5-9 4.6 6.1 9,59 12 5.1
SS(mg/l) 100 926 414 10 266 1.764
COD(ml/g) 100 1.858 2.967 597 3.868 1.271
BOD5(ml/g) 50 743 1.850 250 1.700 1.080
SN(ml/g) 60 145,6 20,9 9,26 1.002 67
SP(ml/g) 6 27,5 2,79 0,034 44,2 23
Chỉ tiêu tại một số làng nghề chế biến nông sản
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy đa phần các nước thải đều bị ô nhiễm
nặng thậm trí dân cư ở những vùng này phải mua nước ngột từ nơi khác để sử
dụng. Mặt khác các làng nghề này đều tận thu phế liệu để chăn nuôi. Nước thải
từ nguồn này cũng gây ô nhiễm môi trường không khí và nước đáng kể. Theo
kết quả điều tra y tế ta mới thấy rõ hết được ảnh hưởng của môi trường đến sức
khoẻ của người dân như: phụ khoa ở phụ nữ là 13-38%; viêm da là 4,5-23%;
đường hô hấp là 6-18%; đau mắt là 9-15%. Nguyên nhân chính là môi trường
sinh hoạt không bảo đảm vệ sinh, nguồn nước sạch khan hiếm.
Xét một ví dụ cụ thể tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề tại Dương
Liễu, Hoài Đức, Hà Tây chuyên chế biến các sản phẩm nông sản đã có uy tín
khai thác và tiếng ồn do nổ mìn của các hoạt động của máy khoan, đục, nghiền,
xay… Việc khai thác 1m
3
đá nguyên khai qua chế biến sẽ sinh ra 0,1-0,5kg bụi
giầu silic,vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3-5 lần và tiếng ồn thưong xuyên ở mức
cao. Lượng khí thải từ các lò gạch thủ công còn ảnh hưởng đến hoa mầu và mùa
màng của nông dân tại các làng nghề và các vùng lân cận xung quanh nữa.
Ngoài ra việc khai thác không đúng quy hoạch gây thoái hoá đất, phá huỷ thảm
thực vật, tăng nguy cơ xói mòn và giảm độ phì nhiêu của đất, hậu quả cũng gây
ảnh hưởng đến chất lượng mùa màng. Người dân làng nghề sản xuất vật liệu xây
dựng trực tiếp sống trong môi trường có nồng độ bụi, khí độc cao công việc
6
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
nặng nhọc nên tỷ lệ mắc các đường hô hấp, da và các bệnh về mắt và các rối
loạn thần kinh cao. Làng nghề Đông Tâm, Thanh Hoá và làng nghề Kiện Khê,
Hà Nam có tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp do sản xuất trên 50%. Ngoài ra, các vấn
đề về an toàn lao động cũng chưa được quan tâm thoả đáng ở các làng nghề này
dẫn tới nhiều tai nạn lao động như bỏng hơi, bỏng nhiệt, bị mảnh vỡ đá. nổ
mìn…
3. Làng nghề tái chất thải: giấy, nhựa, kim loại…
Đây là nhóm làng nghề tận phế liệu làm nguyên liệu cho sản xuất, nhờ đó
giảm chi phí đầu tư và giảm lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường nên các
làng nghề rất được khuyến khích phát triển. Mặt khác, trong khi chưa có các cơ
sở lớn tái chế chất thải, thì các làng nghề tái chất thải đã trở thành một mạng
lưới thu gom phế liệu và chất thải. Các nghành tái chế được chia làm ba loại
chính đó là: giấy, kim loại và nhựa. Chủ yếu tập chung ở miền Bắc và nghành
tái chế kim loại là chủ yếu (có 81 làng tái chế kim loại trong tổng số 90 làng
nghề tái chế). Số lượng làng tái chế không lớn nhưng tỷ lệ cơ giới hoá cao hơn
các làng nghề khác rất nhiều, chiếm từ 50-70%. Khi nói về các làng tái chế phế
liệu thì không thể không nhắc tới làng tái chế giấy ở Dương Ổ, Bắc Ninh sản
Ô nhiễm môi trường đất: Đường trong xóm lát bằng vỏ ắcquy hỏng, đất
khô cằn, năng suất cây trồng giảm mạnh.
Sức khoẻ: 100% người lao động nhiễm bụi chì, hàm lượng chì trong nước
tiểu là 0,25-0,56mg/l (đối với người bình thường khoảng 0,06mg/l), hàm lượng
chì trong máu người lao động là 135mg/l, 48 trẻ em bị dị tật, 97 trẻ em bị viêm
phổi, thiếu máu, xanh xao, tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, bại liệt não, lao phổi
cao hơn các nơi khác từ 2-3 lần.
8
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Bài báo trên đã là một minh chứng khá cụ thể và dễ hiểu về tình trạng ô
nhiễm tại các làng nghề tái chế phế liệu chì.
Nếu ai có cơ hội đến thăm các xưởng sản xuất, tái chế giấy phế liệu ở
Phong Khê, Bắc Ninh cách Hà Nội khoảng 50km đi về phía Bắc thì mỗi khi
dùng giấy ăn ở các quán bình dân rất phổ biến thì chắc hẳn mọi người phải “cân
nhắc” sử dụng. Nước thải không được xử lý qua bất kỳ công đoạn nào và được
thải trực tiếp ra ngoài do vậy hoá chất dư, bột giấy và lượng chất hữu cơ còn lại
rất nhiều. Hơn nữa, không khí ở đây chứa rất nhiều bụi giấy, hơi kiềm, Clo do
dùng nước ra Javen để tẩy trắng và hơi H
2
S rất có hại cho sức khoẻ. Tại một số
vị trí sản xuất, hàm lượng Clo vượt tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần, hơi H
2
S tại các
bãi rác, cống rãnh vượt tiêu chuẩn cho phép 1-3 lần.
Đối với các làng nghề tái chế nhựa, do đặc thù nguyên liệu thu gom từ
nhiều nguồn và đều là nhựa phế thải có dính nhiều tạp chất, nên trong quá trình
công nghệ sử dụng rất nhiều nứơc để rửa phế liệu. Tính riêng làng nghề tái chế
Minh Khai hàng năm thải ra khoảng 455.000m
3
nước thải. Thành phần của này
1 5 0,1 1 1 -
Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước tại các làng nghề
Do việc thu gom và thải thải bỏ bừa bãi, nên ảnh hưởng đến môi trường
sinh thái và sức khoẻ của người dân hết sức nghiêm trọng. Hầu hết các ao cá
trong làng không thể nuôi cá, do đã tiếp nhận một lượng chất thải khá lớn từ
hoạt động sản xuất với nồng độ ô nhiễm cao, vượt quá khả năng tự làm sạch của
môi trường và do rác thải bừa bãi gây bồi lắng và cản trở của sông hồ và cản trở
của nước sông hồ. Ví dụ tại sông Vân Chàng, Nam Định, nơi đón nhận tất cả các
nguồn nước thải của “nền công nghiệp làng” có mầu đen kịt, mùi hôi rất khó
chịu và độ lưu thông của dòng nước rất thấp. Bụi bám thành lớp trên mái nhà,
khi trời mưa sẽ cuốn theo lớp hoá chất này xuống bề mật đất sau đó ngấm vào
mạch nước ngầm, còn nếu xối vào tay chân sẽ gây phồng rộp rất rất dát. Lượng
nước thải chưa được xử lý được đổ thẳng ra sông chứa một lượng lớn nhiều loại
axít mạnh và đặc biệt có hàm lượng chất độc xianua vượt 65-117 lần so với tiêu
chuẩn cho phép. Thậm chí một đoạn sông Vân Chàng không có một sinh vật nào
có thể sống được. Một số bệnh phổ biến ở đây là bệnh ngoài da, viêm ngứa, đau
mắt hột (hơn 90% dân số bị mắc), và nhiều người bị chết vì ung thư. Tỷ lệ chị
em phụ nữ đẻ non hoặc chết yểu đặc biệt là đẻ ra quái thai ngày càng có triệu
10
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
chứng ra tăng. Tuổi thọ trung bình của người dân ở đây là 55 tuổi thấp nhiều
hơn so với tuổi thọ trung bình so với cả nước.
Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở các làng nghề chế
tái cao hơn các làng nghề không sản xuất từ 15-25%, tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em và
phụ nữ từ 30-45%. Các bệnh mắc phải thường là về đường hô hấp, viêm phế
quản, viêm phổi ở trẻ em, viêm phụ khoa ở phụ nữ, tuổi thọ trung bình tại đây
thấp thường là 55-65 tuổi và các bệnh dịch như tiêu chảy, đau mắt đỏ, ngộ độc
ngày một tăng, đặc biệt tại các làng nghề tái chế kim loại.
4. Làng nghề dệt nhuộm
Nước ta hiện nay có 173 làng nghề dệt nhuộm chiếm 10% trong tổng số
30% lượng thuốc nhuộm và hoá chất sử dụng bị thải ra ngoài cùng nước thải.
Ô nhiễm môi trường không khí ở các làng nghề dệt nhuộm chủ yếu là bụi
và hơi hoá chất. Bụi bông sinh ra trong quá trình giàn sợi, xe sợi, dệt vải,. Hơi
hoá chất phát sinh trong quá trình nấu, tẩy, nhuộm do sử dụng hoá chất ở nhiệt
độ cao và các thiết bị sản xuất đều là các thiết bị hở làm cho hơi hoá chất như
xút, axít bay ra ảnh hưởng trực tiếp đến công nhân sản xuất và những người
xung quanh. Khí thải lò đốt chứa nhiều chất gây ô nhiễm môi trường như CO
2
,
SO
2
, NO, NO
2
, NO
3
, N
2
O
5
… và bụi. Tại các làng nghề này hầu như chưa có hệ
thống hút bụi thông gió để giảm lượng bụi bông trong khu vực sản xuất, người
lao động chủ yếu dùng khẩu trang để bảo vệ sức khoẻ của mình. Tình trạng do
hơi hoá chất cũng chưa có biện pháp khác phục. Các cơ sở sản xuất đều không
có ống khói và đều không có hệ thống xử lý khí thải lò đốt.
Điều kiệm làm việc tại các làng nghề này đều có độ ồn cao, thiếu ánh sáng,
chế độ gió và môi trường không trong lành, thời gian làm việc kéo dài. Kết quả
điều tra y tế tại các làng nghề cho thấy các bệnh về ngoài da, viêm mũi, viêm
họng, suy nhược thần kinh là các bệnh rất phổ biến. Nguyêu nhân tác động đến
sức khoẻ do sản xuất chiếm tới 20% ở làng nghề tơ tằm Bảo Lộc, Lâm Đồng,
chiếm 55% ở làng nghề dệt nhuộm Thái Phương, Thái Bình, chiếm 45% ở Vạn
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Các làng nghề thủ công mỹ nghệ cũng đang đứng trước những khó khăn
về môi trường. Do hạn chế về vốn và kỹ thuật nên nhiều nơi chưa quản lý chặt
chẽ vấn đề thu gom, xử lý chất thải của sản xuất, khói bụi độc hại. Tại nhiều
làng nghề, môi trường đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Hầu hết các cơ sở sản xuất
trong làng chỉ chú trọng đến sản xuất, kinh doanh không chăm lo đến bảo vệ
môi trường sinh thái, kết quả là ở một số nơi quy mô sản xuất đã vượt quá sức
chịu đựng của môi trường.
Phân loại theo tác động của sản xuất đến môi trường thì có thể chia làm ba
nhóm lớn sau đây:
Nhóm không gây ô nhiễm môi trường: làm nón, dệt chiếu, đan cói…
- Nhóm gây ô nhiễm nhẹ: đan nát mây tre, cỏ tế, đồ gỗ, đá mỹ nghệ, sơn
mài…
- Nhóm gây ô nhiễm nặng: gốm, sứ và chạm mạ bạc…
Đối với môi trường nước, loại hình gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất là các
làng nghề sơn mài và chạm bạc. Lượng nước tiêu thụ tuy không lớn nhưng có
chứa hàm lượng chất ô nhiễm rất cao. Tại làng nghề sơn mài Hạ Thái (Hà Tây)
hàm lượng COD, BOD và SS đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,8 đến 3,5
lần. Đối với làng nghề chạm bạc, nước thải từ công nghệ mạ có sử dụng nhiều
hoá chất như axít H
2
SO
4
, HNO
3
, các muối thuỷ ngân, muối bạc, xianua. Sự có
mặt của các hoá chất này làm cho nước thải mạ bạc có độ pH thấp, hàm xianua,
kẽm, thuỷ ngân cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Cũng như hầu hết các làng nghề
khác, nguồn nước thải này được hoà lẫn vào nguồn nước thải sinh hoạt và thải ra
theo hệ thống mương chung.
15
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Phần 3: Phương hướng và giải pháp giảm thiểu môi trường
làng nghề truyền thống
1.Phương hướng cải thiện môi trường làng nghề
Để cải thiện hiện trạng môi trường tại các làng nghề, thì trước hết phải tạo
cho các làng nghề phát triển sản xuất một cách có quy hoạch và hợp lý. Làng
nghề vẫn đang tự tìmh hướng đi, phát triển hay tự tàn lụi. Làng nghề có phát
triển được, thì đầu tư cho vấn đề môi trường mới được chú trọng. Tuy nhiên
trong nền kinh tế thị trường, có biết bao nhiêu rào cản đối với sự phát triển bền
vững của làng nghề, nhất là các làng nghề truyền thống với các sản phẩm truyền
thống không phải luôn phù hợp với nhu cầu thị trường. Vậy hướng đi nào là
thích hợp cho sự phát triển của một làng nghề. Có hai hướng chính để giảm
thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề:
Nhóm thứ nhất là các công cụ mang tính chất bắt buộc các hộ sản xuất ví
dụ như xử phạt hành chính khi các hộ sản xuất vi phạm luật làm ô nhiễm môi
trường. Trong khi điều kiệm kinh tế còn khó khăn hay làm chưa đủ ăn, thì họ
phải đặt lợi ích kinh tế lên trước mặc dù họ biết làm như vậy là ảnh hưởng xấu
đến môi trường, đến sức khoẻ của mình. Hơn nữa, nếu chỉ có một mình hộ gia
đình mình thực hiện tốt các quy định mà các hộ khác trong làng không làm thì
môi trường cũng đâu có thể thay đổi là bao. Còn nếu như đầu tư một công nghệ
mới thì số vốn bỏ ra quá lớn. Do vậy người dân thường chấp nhận nộp phạt nếu
như bị kiểm tra, bắt buộc chứ họ sẽ không tự nguyện đến nộp phạt.
Nhóm thứ hai là sự hỗ trợ của chính quyền địa phương kết hợp với viện
công nghệ, các tổ chức xã hội … giúp các làng nghề truyền thống vừa phát triển
16
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
bền vững lại giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường. Sau đây là một số hướng
đi chính.
1.1 Chuyển đổi làng nghề thành khu lưu giữ các di sản văn hoá và khu du
Mô hình này thích hợp với các làng nghề tiểu thủ công nghiệp mới. Mô
hình sản xuất tập chung ở khu vực gần làng xã, thuận tiện cho việc quy hoạch
tổng thể mà vẫn giữ được lợi thế đặc trưng sản xuất của làng nghề. Ví dụ UBND
tỉnh Hà Tây đã ra quyết địng số 495 phê duyệt kết quả trúng thầu dự án đầu tư
xây dựng đỉêm công nghiệp mở rộng làng nghề Đa Sỹ - thành phố Hà Đông vào
ngày 23/3/2007. Bởi vì nhu cầu hình thành các cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở
nông thôn hiện nay đang rất bức xúc xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ áp lực
nên môi trường sống của người dân và cũng phù hợp với chủ trương công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên việc
này phải tổ chức sao cho có hệ thống, trật tự và phát triển bền vững tạo nhiều
sản phẩm cho xã hội và tránh gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy cần phải có
những hướng dẫn cụ thể và chỉ dẫn cần thiết cho địa phương lập quy hoạch và tổ
chức không gian, bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất nông nghiệp và các ngành
nghề nông thôn nằm rải rác tại các làng xã tại các cụm công nghiệp vừa và nhỏ.
Tuy nhiên để xây được các cụm công nghiệp thích hợp thì còn rất nhiều các câu
hỏi mà các nhà quy hoạch và hoạch định chính sách cần phải làm rõ như:
- Liệu có một mô hình nào cho các cụm công nghiệp ở nông thôn áp dụng
chung cho cả nước được không?
18
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
- Quy mô thích ứng (diện tích, cư sở hạ tầng, công nghệ xử lý môi trường,
mật độ xây dựng ) của từng khu, cụm công nghiệp cho từng loại nghành nghề
như thế nào là thích hợp?
- Vấn đề bảo vệ môi trường, cảnh quan, bảo tồn không gian, giữ gìn di sản
văn hóa như thế nào?
- Trình tự lập quy hoạch, phê duyệt, xây dựng các mô hình quản lý các
cụm, khu công nghiệp như thế nào?
- Nhà nước có chính sách nào để phát triển cụm công nghiệp: vốn, đất đai,
cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ…?
Những thế mạnh của làng nghề tiểu thủ công nghiệp được phát huy trong
ng
Sơ đồ hệ thống công trình xử lý nước thải quy mô cụm dân cư
Hiện nay đã có rất nhiều công nghệ mới hay nhưng công trình nghiên cứu
nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nhưng những công nghệ hay
các công trình nghiên cứu ấy áp dụng thành công được vào thực tế hay không
còn phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố khác. Những cơ quan quản lý nhà
nước nào sẽ đứng ra đảm nhận công việc này, khi mà còn chưa thống nhất quản
lý giữa sở công nghiệp, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở khoa học và
công nghệ? Phải thừa nhận rằng trong vài năm gần đây, đã có một số đề tai tập
chung nghiên cứu nhằm cải thiện môi trường làng nghề, nhưng chỉ dừng ở mức
mô hình mẫu mà chưa được nhân rộng tới các làng nghề tương tự.
21
Hỗn hợp nước thải tập trung vào hệ thốthu gom
phân tán theo cụm dân cư
Hố ga và song chắn rác
Bể xử lý kỵ khí BAR.CS 25m3/ng.đ. Được bổ
sung chế phẩm vi sinh
Hồ sinh học 02 bậc
Cánh đồng tưới nước thải – tái sử dụng nước thải
để tưới lúa
Bể BIOGA, hố ủ để xử lý chất thải
chăn nuôi
Nước mưa được xả ra kênh tiêu chính
Nước thải không tái sử dụng được xả
ra kênh tiêu chính
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
Kết luận
Những ưu điểm của phát triển làng nghề truyền thống và ảnh hưởng của ô
nhiễm môi trường thì ai cũng biết nhưng cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức
SV: Nguyễn Thị Bích Phương GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Phần 1: Phát triển nghề truyền thống và tác động đến môi trường sinh
thái 2
1. Phát triển nghề truyền thống tại Việt Nam 2
2. Phát triển nghề truyền thống tác động đến môi trường sinh thái 3
Phần hai: Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề 4
2. Ô nhiễm môi trường tại các làng vật liệu xây dựng và gốm xứ: 6
3. Làng nghề tái chất thải: giấy, nhựa, kim loại… 7
4. Làng nghề dệt nhuộm 11
5. Làng thủ công nnỹ nghệ: 13
Phần 3: Phương hướng và giải pháp giảm thiểu môi trường làng nghề
truyền thống 16
1.Phương hướng cải thiện môi trường làng nghề 16
1.1 Chuyển đổi làng nghề thành khu lưu giữ các di sản văn hoá và khu
du lịch với các sản phẩm đặc trưng có tính nghệ thuật cao: 17
1.2 Xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn: 18
2. Áp dụng giải pháp cải thiện môi trường làng nghề: 19
Kết luận 22
Tài liệu tham khảo 23
24