1
TƯ VẤN TÂM LÝ - Trần Đình Tuấn THÁNG 8, 2009
NỘI DUNG
Lời nói đầu trang 4
Phần I. NHỮNG TRƯỜNG PHÁI CHÍNH
Chương 1. Phái Tương Tác Tâm Lý…………………………………… 6
Sigmund Freud và phương pháp phân tâm…………………………. 6
Carl Jung và tâm lý học lý giải…………………………………… 14
Alfred Adler và tâm lý học cá nhân………………………………. 21
Chương 2. Phái Ứng Xử………………………………………………. 25
Chương 3. Phái Tri Thức…………………………………………… 29
Jean Piaget và thuyết phát triển tri thức…………………………. 29
Ứng dụng trong tư vấn tâm lý…………………………………… 32
Albert Ellis và phương pháp tri thức ứng xử……………………. 34
Donald Meichenbaum và phương pháp tụ huấn luyện…………. . 38
Aaron Beck và phương pháp điều trị bằng ý nghĩ tự động……… 40
Albert Bandura và phương pháp làm gương…………………… 41
Chương 4. Phái Nhân Bản…………………………………………… 44
Carl Rogers và phương pháp trị liệu lấy con người làm trung tâm 44
Chương 5. Phương Pháp Tổng Hợp………………………………… 49
Phần II. QUÁ TRÌNH TƯ VẤN TÂM LÝ
Chương 6. Những nguyên tắc cơ bản………………………………… 51
Chương 7. Các giai đoạn của quá trình tư vấn tâm lý…………… 56
Giai đoạn 1: Lượng định………………………………………… 56
Giai đoạn 2: Xác định phương pháp, thiết lập kế hoạch và ấn định mục
tiêu………………………………… 65
Giai đoạn 3: Thi hành giải pháp……………………………… 67
2
Giai đoạn 4: Đánh giá và kết thúc……………………………… 67
Từ một thế kỷ qua, khởi đầu bằng phương pháp phân tâm làm mê hoặc cả thế giới, khoa tâm
lý trị liệu đã tiến rất xa, đã phát triển thành một ngành nghề vững chắc với những lý thuyết,
những trường phái vô cùng đa dạng. Mặc dù xây dựng ngành tâm lý trị liệu sau Âu Mỹ hàng
trăm năm, Việt Nam ngày nay có rất nhiều thuận lợi: chúng ta không phải thụ động chờ đợi
sự ra đời của những thiên tài như Freud, Jung, Adler, Ellis, Rogers, Satir, Erickson, hay
Minuchin… Tất cả những phát kiến kỳ diệu của những nhân vật này và hàng ngàn lý thuyết
gia kim cổ khác đều ở sẵn trong nhà chúng ta, luôn luôn chờ đợi một vài cái click ngắn gọn
trước máy điện toán là xuất hiện để sẵn sàng chia xẻ kiến thức với chúng ta. Một thí dụ điển
hình là thư viện điện tử lớn nhất thế giới Questia.com, chỉ cần đóng một lệ phí nhỏ hàng
3
tháng, người ta có thể có trong tay bất cứ lúc nào hơn 67 ngàn cuốn sách và một triệu rưỡi
bài viết về hầu hết các đề tài chuyên môn nào chúng ta có thể nghĩ ra.
Trong các trường phái lớn của khoa tư vấn tâm lý, còn gọi là là tâm lý trị liệu, trường phái có
ảnh hưởng nhất hiện nay là phái nhân bản/
humanistic
mà người đứng đầu là Carl Rogers. Có
thể nói phái nhân bản là một cuộc cách mạng trong tư vấn tâm lý vì nó gần như ngược hoàn
toàn với những lý thuyết và cách tiếp cận của các trường phái xuất hiện trước đó. Thí dụ:
quan hệ giữa khách hàng và người làm công tác tư vấn là quan hệ hợp tác bình đẳng; khách
hàng chứ không phải người làm công tác tư vấn, là chuyên gia về cuộc đời của họ; giải pháp
thật sự cho vấn nạn là giải pháp cho khách hàng nghĩ ra hoặc tham gia vào việc tìm ra chứ
không phải do người làm công tác tư vấn áp đặt…
Ngoài ra, do tính cách phức tạp của vấn nạn xuất phát từ cuộc sống ngày càng đa dạng của
con người, mỗi trường phái, mỗi lý thuyết đều có ưu và khuyết điểm riêng. Chính vì vậy
phương pháp tổng hợp các trường phái/
the eclectic approach
là phương pháp phổ biến nhất.
Điều này hợp lý vì nó giúp người làm công tác tư vấn tận dụng được trí khôn của nhân loại,
superego
, và hoàn cảnh sống
4
thực tế
/reality
tức là môi trường sống thực của cái Tôi/
ego
. Con người là một sinh vật y như
mọi sinh vật khác, và vì vậy từ khi chào đời đã có thú tính bẩm sinh muốn được thỏa mãn
những nhu cầu vật chất và sinh lý và muốn tránh khổ đau. Trong quá trình trưởng thành, ảnh
hưởng của gia đình, văn hóa, tôn giáo, xã hội… tạo ra lương tâm, tức là cái phần lý tưởng
mà người ta muốn hướng tới. Hoàn cảnh sống thực tế là nơi diễn ra sự tranh chấp giữa thú
tính bẩm sinh và lương tâm. Kết quả của cuộc tranh chấp này là cái Tôi/ego, tức là mỗi cá
nhân với cách ứng xử an toàn nhất, phù hợp nhất, thực tế nhất mà con người lựa chọn cho
mình trong mọi hoàn cảnh.
Có nhiều động lực của cuộc sống/
libido
thúc đẩy thú tính bẩm sinh: ăn, mặc, ngủ, nghỉ ngơi,
an toàn, bạo lực… nhưng chủ yếu nhất, mạnh mẽ nhất là động lực về tình dục. Freud cho
rằng từ khi mới chào đời con người đã có nhu cầu và đã có hành vi tình dục: sờ mó, bú mớm,
thích ôm ấp và được ôm ấp. Đây là một trong những ý kiến táo bạo nhất của Freud vì trước
đó người ta tin con người chỉ bắt đầu phát triển nhu cầu tình dục ở tuổi dậy thì. Động cơ tình
dục bẩm sinh thúc đẩy sự trưởng thành của con người qua năm giai đoạn: miệng/
oral stage
,
hậu môn/
anal stage
, dương vật/
phallic stage
động tác nhay, cắn (ngón tay, vú mẹ…), tức là ngay từ giai đoạn sơ sinh này con người đã có
kinh nghiệm và diễn tả được kinh nghiệm vừa thương vừa ghét/
ambivalence
cùng một đối
tượng (mẹ, vừa bú vừa nhay vú mẹ, làm cho mẹ đau).
Giai đoạn hậu môn/Anal stage, (từ 1 đến 3 tuổi):
5
Khu vực nhạy cảm và tạo cảm giác sướng khoái nhiều nhất trong giai đoạn này là vùng hậu
môn, gồm cả hậu môn lẫn bộ phận tiểu tiện. Khoái cảm này cũng đã được xếp vào hàng “tứ
khoái” ở phương đông bất kể giai đoạn tuổi tác nào (ăn, ngủ, tình dục, đại tiểu tiện). Freud
cũng chia giai đoạn này làm hai phân đoạn: phân đoạn buông/expulsion và phân đoạn
giữ/
retention
. Ở phân đoạn buông đứa bé lần đầu tiên trải qua mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu
tiểu tự nhiên của nó và nhu cầu huấn luyện tiêu tiểu đúng chỗ, đúng lúc, của cha mẹ nó.
Phân đoạn này cũng là thời gian cực kỳ quan trọng để đứa bé học cách làm thế nào để được
khen, được thương; tình thương của cha mẹ không còn vô điều kiện như trước nữa mà tùy
theo ứng xử của đứa bé. Cách dạy con của cha mẹ trong phân đoạn này cũng góp phần
chính trong việc tạo nên một phần hết sức quan trọng trong cá tính của đứa bé, đó là cách nó
suy nghĩ và ứng xử đối với những người có quyền lực trong cuộc đời của nó. Nếu nó có cái
nhìn tích cực đối với quyền lực: quyền lực đứng về phía nó, hỗ trợ nó, khả năng hòa nhập
trên đời của nó sẽ khác hẳn so với cái nhìn bi quan, tiêu cực: quyền lực áp bức nó, thù
nghịch với nó. Ở phân đoạn giữ, đứa bé học được cách nín tiêu, tiểu, và chủ động được lúc
nào, ở đâu sẽ có cảm giác sướng khoái do tiêu tiểu mang lại.
Giai đoạn dương vật/
Phallic stage,
(từ 3 đến 5 hoặc 6 tuổi):
dương vật, khi phát giác nó không có cơ quan sinh dục giống như con trai, nó trở nên ghen tỵ
6
và để thoát khỏi cảm xúc ghen tỵ khó chịu đó, nó muốn đứng về phía bố. Nó bắt đầu thù
ghét mẹ (đổ lỗi tại mẹ làm cho nó không có dương vật) và khi nhận ra nó không thể nào có
được dương vật như con trai, nó thay thế ao ước đó bằng ý muốn được bố làm cho có em bé
như mẹ. Ý muốn này làm cho đứa trẻ gái trở thành một “người đàn bà tí hon”. Những tác
động kể trên diễn ra trong khi đứa bé vẫn không ngừng cần được mẹ yêu thương chăm sóc,
và nó vừa muốn mẹ “biến mất đi” vừa sợ mất mẹ.
Giai đoạn trước dậy thì/
Latency period
, (từ 5, 6 tuổi đến dậy thì):
Trái với các giai đoạn trước, ở giai đoạn này động lực sống/
libido,
chủ yếu
là bản năng tình
dục của đứa bé chỉ thay đổi về lượng chứ không thay đổi về chất. Đứa bé dồn nén được
những quan tâm về tình dục của những năm trước và tập trung năng lực vào việc phát triển
kiến thức cũng như năng khiếu mới. Ở giai đoạn này đứa bé thích chơi với bạn cùng giới.
Có thể nói những năm trước dậy thì là thời gian sự thăng bằng giữa thú tính bẩm sinh, lương
tâm, và cái Tôi đạt mức cao nhất trong đời người. Đây là thời gian biển lặng trước cơn bão
táp của tuổi dậy thì.
Giai đoạn sinh dục/
Genital stage:
Thăng bằng giữa ba thành phần của bản ngã chấm dứt, thú tính bẩm sinh/
id
vượt lên trên,
Trong cấu trúc tâm lý con người của Freud, phần Tôi/
ego
và phần Thiện/
superego
hoạt động
trong cả ba tầng của thức. Phần Ác/
Id
trái lại chỉ hoạt động trong tầng vô thức.
3. Ý
nghĩa của các giấc mộng:
Theo Freud mộng là “sự thực hiện thầm lén những ước vọng bị dồn nén” và là “con đường
lớn dẫn vào vô thức”. Phần Ác, tức thú tính bẩm sinh của con người luôn có những khát
vọng không thể thực hiện một cách an toàn trong đời sống thực, vì vậy chúng bị phần Thiện
và cái Tôi dồn vào vô thức. Mặc dù bị dồn nén, những khát vọng đó không hoàn toàn biến
mất và chúng hiện ra dưới hình thức các giấc mộng khi con người ngủ vì khi người ta ngủ,
phần Thiện và cái Tôi không hoạt động hữu hiệu như khi thức.
Freud chia nội dung mộng làm hai phần, phần nổi/
manifest content
và phần tiềm ẩn/
latent
content. Phần nổi là phần chúng ta nhớ được khi thức dậy, trong phần này có tản mạn những
mảnh vụn của những gì xảy ra khi thức và những khát vọng bị dồn nén, tất cả được thể hiện
dưới hình thức ảo giác/hallucination (2) thường là ảo giác nhìn/visual hallucination. Phần tiềm
ẩn là những nội dung trôi nổi ra khỏi vô thức, những nội dung này có thể liền lạc, có ý nghĩa
hay rời rạc, quái dị, không rõ nghĩa. Trong tâm lý trị liệu của Freud, phương pháp nói
hết/
Đổ tội/
Blaming
: đổ những khiếm khuyết, sai lầm, lỗi… của mình cho người khác. Thí dụ:
“Cây quất trồng ở Hoài Nam là quất ngọt, đem sang trồng ở Hoài Bắc thì hóa quất chua. Tôi
bê bối, tôi dối trá, tôi ích kỷ như thế này là do ai? Là do chính cô đấy cô có biết không? Hồi
xưa chưa lấy cô tôi ở với bố mẹ tôi có như thế này đâu?”
Mộng tưởng/
Fantasy
: tưởng tượng được trải qua một mơ ước thầm kín nào đó không thể có
trong thực tế. Một thí dụ sáng thứ bảy đang phải ngồi ở nhà ăn phở với “cơm” nhưng lại
tưởng tượng đang được ở tiệm ăn cơm với “phở”!
Chối bỏ/
Denial:
từ chối chấp nhận một thực trạng vì nó tai hại cho sự an toàn của cái Tôi. Thí
dụ: ai cũng biết cậu quý tử gửi sang Pháp du học chỉ phung phí tiền ăn chơi trác táng, cha mẹ
cậu vẫn chối bỏ mọi thông tin chính xác và thành thật khoe với mọi người là cậu đang học
quản trị kinh doanh ở một đại học nổi tiếng của Paris.
Giận cá chém thớt/
Displacement:
chuyển cảm xúc, năng lực, từ đối tượng này sang đối tượng
khác để được bình an. Thí dụ: đi làm có chuyện bực mình với xếp về nhà kiếm chuyện mắng
vợ chửi con vì mắng chửi vợ con an toàn hơn mắng chửi xếp. Thí dụ khác: người yêu đi lấy
chồng, chàng bèn đi tu và trở thành một nhà tu chân chính, đạo hạnh.
Chuộc tội/
Undoing:
đền bù một hành vi hoặc ham muốn xấu bằng một hành động tốt. Thí dụ
một số ông chồng sau khi đi ăn vụng thì về nhà dịu dàng tử tế với vợ và phụ vợ chăm sóc
con cái đàng hoàng.
9
Nói vậy nhưng không phải vậy/
Reaction formation
: hành động hay diễn tả ngược lại với ý định
hay cảm xúc của mình. Thí dụ nói ghét là yêu, nói yêu là ghét. Thí dụ khác: “Sao? Công
việc mới của anh thế nào? Tuyệt, ở đây lương thì cao, xếp và đồng nghiệp lại đối xử với
mình rất tốt”. Thực ra công việc mới rất căng thẳng, xếp mới thì như đứa dở khùng dở điên,
đồng nghiệp mới toàn một lũ ganh tỵ, và bản thân đang hối hận đã chót dại bỏ chỗ làm cũ
xin vào đây.
Dồn nén/
Repression
: đẩy những thực tế đã gây ra cảm xúc tiêu cực vào vô thức để khỏi phải
chịu đựng những cảm xúc đó. Những thực tế này có thể trỗi dậy trong các giấc mơ hoặc
trong những câu nói buột miệng và là đối tượng phân tích của khoa phân tâm. Thí dụ một
người quên đi một lỗi lầm, một hành vi sai quấy hay một điều xấu hổ trong quá khứ để khỏi
phải chịu đựng những dằn vặt, hối hận, khổ đau liên quan đến kinh nghiệm đó.
Lùi về quá khứ/
Regression
: dùng lại ứng xử của giai đoạn phát triển tâm lý đã qua. Thí dụ
khi hồi hộp xúc động thì tiểu dầm mặc dù đã qua tuổi đó, hoặc van xin khóc lóc năn nỉ như
trẻ con khi phải đối phó với những mâu thuẫn trong cuộc sống lứa đôi.
5.Cách tiếp cận và mục tiêu của phương pháp phân tâm:
Theo Freud, triệu chứng thần kinh tâm trí diễn ra khi người ta dùng cơ chế tự vệ một cách
không thích đáng để đối phó với một số mâu thuẫn phần đông mang tích cách dục tình hay
bạo động xuất phát từ tuổi ấu thơ. Cách đối phó này không thực sự giải quyết tận gốc mâu
thuẫn mà chỉ giống như một viên thuốc giảm đau để tạm thời quên đi những cảm xúc tiêu
cực khó chịu. Mâu thuẫn không được giải quyết vẫn còn đó và gây ra những triệu chứng.
Vì vậy, mục tiêu của phương pháp phân tâm là đem cái kinh nghiệm, cái khao khát, cái sợ
transference
là những ác cảm đối với nhà phân
tâm. Phóng chiếu, cả tích cực lẫn tiêu cực, đều là mục tiêu của phân tâm vì nó tạo cơ hội
cho bệnh nhân được “làm lại cuộc đời” tức là được sống lại mâu thuẫn cũ và được đối tượng
của mâu thuẫn (tức là nhà phân tâm qua phóng chiếu ) dẫn dắt đến một giải pháp phù hợp
nhất có thể được cho mâu thuẫn đó, triệu chứng tâm lý vì vậy tiêu tan. Quá trình làm việc lâu
dài và hết sức gần gũi của phương pháp phân tâm cũng có thể làm cho nhà phân tâm trở lại
những ẩn ức bị dồn nén của chính bản thân, phát sinh tình cảm thương ghét đối với bệnh
nhân và dùng mối liên hệ nghề nghiệp với bệnh nhân để giải quyết những ẩn ức (phần đông
liên quan đến dục tình) bị dồn nén trong quá khứ của chính mình. Freud gọi hiện tượng này
là phản phóng chiếu/
counter
transference
, và đề nghị nhà phân tâm cảnh giác, nếu thấy dấu
hiệu của phản phóng chiếu phải ngừng công việc ngay, giới thiệu bệnh nhân đi chỗ khác và
bản thân mình đi tham vấn để điều trị những ẩn ức cũ một cách thỏa đáng.
Ngoài lột trần ẩn ức, Freud còn dùng phương pháp giải mộng để khám phá vô thức của bệnh
nhân.
Phương pháp giải mộng đòi hỏi bệnh nhân kể lại tất cả những gì nhớ được trong giấc
mộng để nhà phân tâm diễn dịch, tìm ra những ẩn ức bị dồn nén vào vô thức và giúp bệnh
nhân giải quyết những ẩn ức đó một cách thỏa đáng và nhờ vậy hết bệnh.
CARL GUSTAV JUNG (1875-1961)
VÀ TÂM LÝ HỌC LÝ GIẢI/PSYCHOANALITICAL THERAPY
Bác sĩ thần kinh tâm trí Thụy Sĩ. Jung trở thành bạn thân của Freud vào năm 1904 (thời gian
đó Jung 29 tuổi ở Zurich và Freud đã 50 tuổi ở Vienne). Tình bạn sâu đậm này kéo dài sáu
năm trong đó Jung chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những lý thuyết mới mẻ về phân tâm của
Freud. Mâu thuẫn giữa Jung và Freud bắt đầu từ những bất đồng của Jung về quan điểm tôn
monarchic phase,
cái Tôi sơ khai bắt đầu xuất hiện, đứa trẻ bắt đầu có được những khái
niệm về bản thân. Vì lý do cái Tôi trong thời kỳ này được đứa trẻ hiểu như một vật thể, đứa
trẻ thường tự nhắc đến nó bằng ngôi thứ ba. Trong thời kỳ song đôi/
dualistic phase
, những ốc
đảo rời rạc của vô thức được dần dà nối liền với nhau, đứa trẻ bắt đầu ý thức được cả hai mặt
chủ quan và khách quan của cái Tôi và nó có thể tự nói về nó bằng ngôi thứ nhất.
Giai đoạn thanh thiếu niên (dậy thì đến 35-40 tuổi): đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ
của thức, con người đón nhận những vai trò của tuổi trưởng thành: cơ thể và tính dục phát
triển để xây dựng mối quan hệ lứa đôi, trí tuệ phát triển để đảm trách công việc làm và các
trách nhiệm khác. Nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn phát triển này là hướng những năng
lực của cuộc sống/
libido
ra bên ngoài và sống trọn vẹn cuộc sống của cá nhân. Ích lợi lớn
cho giai đoạn này là khi thanh thiếu niên có được một lý tưởng hay một nhân vật lý tưởng để
noi theo.
Giai đoạn trung niên (35-40 đến tuổi già): con người có khuynh hướng hướng nội để hội
nhập hai phần thức và vô thức của tâm thức/
psyche
. Trong giai đoạn phát triển trước đó (giai
đoạn thanh thiếu niên), phần vô thức bị lu mờ. Trong giai đoạn trung niên, phần vô thức
được nâng lên và hội nhập vào phần thức, và con người trở nên hướng về nội tâm nhiều hơn
vào ngoại cảnh, chú ý nhu cầu tâm linh. Quá trình hội nhập thức và vô thức trong giai đoạn
này được Jung gọi là quá trình tiến đến trình độ phát triển cao nhất của cá nhân/
individuation
,
nghĩa là mỗi người trở thành một cá nhân độc đáo với những phẩm chất riêng biệt. Sự hội
Tâm thức của Jung chia làm ba thành phần tương tác lẫn nhau: thức/consciousness, vô thức cá
nhân/
personal
unconscious
và vô thức tập thể/
collective
unconscious.
Thức là phần người ta biết được. Thức có bốn khả năng: nghĩ/
thinking
(để tìm hiểu thế giới
chung quanh); cảm xúc/
feeling
(là tất cả kinh nghiệm thức có được do ngũ giác tạo ra); suy
luận từ cảm xúc/
sensing
(để đo lường sự vật trong khuôn khổ vui/buồn, thích/không thích,
chấp nhận được/không chấp nhận được); và trực giác/
intuting
(tức là trạng thái biết về điều gì
một cách vô thức, không biết là mình biết). Tùy theo vị trí mạnh yếu của bốn khả năng này,
con người có những cá tính khác nhau.
Năng lực của thức, tức là năng lực của cuộc sống/
libido
có hai khuynh hướng khác nhau:
hướng ngoại/extroversion và hướng nội/introversion : người có năng lực của thức hướng ngoại
là người thích đám đông, thích giao du, làm việc, giải trí với người khác; người có năng lực
hệ này sang thế hệ khác, những nét đặc thù của thức cũng có tính cách di truyền. Điều này
có nghĩa con người từ khi sinh ra đã có những kinh nghiệm, những phản ứng đối với môi
trường y như tổ tiên. Thí dụ chẳng cần phải học hay trải qua kinh nghiệm gì ai cũng biết sợ
bóng tối hoặc biết vẻ đẹp của các loài hoa. Nội dung của vô thức tập thể được Jung gọi là
archetypes, mỗi archetype là một bộ đối xứng của hai tính cách trái ngược, thí dụ sinh và tái
sinh, chết và quyền lực, thiên thần và ác quỷ… Trong các archetypes Jung chú ý nhiều nhất
đến bốn archetypes chính sau đây:
Mặt nạ/
mask
: tức là vai trò mọi người thấy được từ mỗi người trong chúng ta. Mặt nạ vừa
phô trương vừa che đậy bản chất thật của con người và nó cho phép chúng ta hòa đồng vào
cuộc sống.
Kim Đồng-Ngọc Nữ/
Anima-Animus
: là mặt trái của phái tính thức của con người. Phái tính
thức là phái tính mỗi người biết được của bản thân mình. Thí dụ phái tính thức của ông A là
phái nam vì ông A biết ông ấy có của quý. Bên cạnh phái tính thức còn có phái tính vô thức:
mọi người đàn ông đều có Ngọc Nữ/
Anima
là phái tính vô thức, và mọi người đàn bà đều có
Kim Đồng/
Animus
là phái tính vô thức. Ngọc Nữ biểu hiện cho những gì hời hợt bên ngoài,
yếu đuối, không chủ đích, lệ thuộc; Kim Đồng biểu hiện những tính anh hùng, chủ động, dứt
khoát, mạnh mẽ. Kim Đồng-Ngọc Nữ hiện hữu trong mọi văn hóa, nhưng, theo Jung, trong
văn hóa phương tây, nơi Mặt nạ giữ vai trò khống chế, tình trạng dồn nén Kim Đồng-Ngọc
Nữ diễn ra phổ biến hơn.
psychic equilibrium vốn rất cần thiết cho cuộc sống bình thường của mọi người. Mộng quan
trọng không những cho kiến thức về quá khứ mà cả về tương lai và cùng với đời sống tâm
linh, mộng có thể giúp con người đạt được trình độ phát triển cao nhất của bản
thân/
individuation
. Ý nghĩa của các dấu hiệu trong mộng không cố định như Freud tin tưởng,
mà có thể thay đổi, và phân tích chuỗi mộng/
dream series
của cùng một người trong một
khoảng thời gian là điều quan trọng.
Mặc cảm:
Jung cũng bất đồng ý kiến với Freud về khái niệm mặc cảm. Trong khi Freud coi mặc cảm
Oedipus là thách đố chính trong quá trình trưởng thành của tất cả mọi người, Jung giải thích
mặc cảm như những cái nốt nổi lên trong vô thức, có thể gián tiếp nhận ra được qua những
ứng xử khó giải thích của cá nhân. Mặc cảm có thể hiện hữu cả trong thức lẫn vô thức, có
thể mang tính cách tích cực cũng như tiêu cực, và chỉ những mặc cảm tiêu cực ảnh hưởng
xấu đến ứng xử của con người mới cần chú ý để thay đổi.
Ý kiến về tôn giáo:
Trong khi Freud chủ trương vô thần, muốn nghiên cứu tôn giáo phải đứng ngoài tôn giáo, và
chỉ người không có đức tin mới thực sự hiểu được đức tin, Jung tin tưởng vào giá trị của khía
cạnh tâm linh trong đời sống con người. Khi điều trị một bệnh nhân Mỹ, Rowland Hazard
III, mắc bệnh nghiện rượu nặng, không kết quả, Jung đã khuyên bệnh nhân này tìm về biện
pháp tâm linh. Bệnh nhân nghe lời Jung và chừa được bệnh nghiện rượu. Hazard chia xẻ
kinh nghiệm này với những người nghiện rượu khác trong số có Bill Wilson, sau này trở
thành đồng sáng lập viên của hội Những Người Nghiện Rượu Ẩn Danh/
Alcoholics
anxiety
.
Trái với bệnh thần kinh/
psychosis
là những bệnh có triệu chứng ảo giác và ảo tưởng, làm xáo
trộn nhân cách/personality, xáo trộn nhận thức về thế giới chung quanh, tổn thương khả năng
sống bình thường, thí dụ bệnh tâm thần phân liệt/
schizophrenia
. Bệnh tâm lý là những bệnh
không có triệu chứng ảo giác/hallucination và ảo tưởng/delusion. Triệu chứng bao trùm của
bệnh tâm lý là bồn chồn bứt rứt/
anxiety
. Những bệnh tâm lý thông thường bao gồm bệnh
trầm cảm, bệnh ứng xử ám ảnh/obsessive compulsive disorder (thí dụ bệnh ăn cắp/klepto-mania,
bệnh nhịn ăn/
anorexia
, bệnh sợ/
phobia
…) Bệnh nhân bệnh tâm lý có thể vẫn có khả năng sống
và làm việc trong xã hội. Vì tính cách quá tổng quát của nó, danh từ bệnh tâm lý (neorosis)
hiện nay không còn được dùng trong cẩm nang thống kê và chẩn đoán bệnh tâm thần DSM
mà được thay bằng những bệnh có chẩn đoán cụ thể hơn.
Trong phương pháp trị bệnh tâm lý của Jung, trạng thái dồn nén không được chú ý nhiều
như trong phương pháp phân tâm của Freud. Jung lưu tâm đến mâu thuẫn giữa các thành
phần khác nhau của cá tính con người, đến tương lai và hiện tại, hơn là những ẩn ức bị dồn
nén trong quá khứ. Điều trị viên trong phương pháp của Jung giữ vai trò tích cực, chủ động,
chứ không thụ động như phương pháp của Freud. Quan điểm chú ý đến phần tâm linh cũng
được Jung thể hiện trong liệu pháp của mình. Ngoài ra Jung còn dùng nghệ thuật trong trị
việc, và tình dục) để đền bù mặc cảm thua kém. Adler phân tích ba trường hợp có thể xảy
ra:
- Đền bù đúng mức: tạo ra được một thành công có ích lợi cho cá nhân và xã hội, thí dụ xấu
xí như chàng Trương Chi lại phát huy được tiếng sáo tuyệt vời không ai bì kịp.
- Đền bù quá mức: con người trở thành quá khích, thí dụ một số đứa trẻ có tính hung hăng
thích bắt nạt những đứa nhỏ yếu hơn nó để khắc phục bản chất nhút nhát hèn hạ của chính
nó. Một thí dụ khác: người nghèo sài sang quá mức để chứng tỏ mình có đủ khả năng coi
nhẹ đồng tiền, không như “bọn nhà giàu keo kiệt”.
- Lảng tránh/
escape from combat
: ngăn ngừa sự thất bại bằng cách viện lý do để không tham
gia vào công việc dẫn đến thành công hay thất bại. Thí dụ: tại hôm đó tôi bị ốm phải ở nhà
chứ không thì tôi đã đi thi (và đã đậu thủ khoa). Thí dụ khác: người cố ý coi thường, không
chú tâm cố gắng làm một việc gì đó để làm nhẹ thất bại mà người đó tin là sẽ diễn ra.
Mặc cảm tự ti, và phản diện của nó là mặc cảm tự tôn, giữ một vai trò quan trọng trong tâm
lý và ứng xử của con người. Nguyên nhân của nó là bốn yếu tố sau đây:
- Khiếm khuyết về thân thể, thí dụ những dị tật bẩm sinh hoặc khuyết tật do tai nạn hay
chiến tranh gây ra.
- Giới tính: từ tuổi thơ, văn hóa xã hội đã áp đặt những đặc tính khác nhau cho nam và nữ
giới. Nam phải cứng rắn, khỏe mạnh…; nữ phải xinh đẹp, dịu dàng, mềm mỏng… Thực tế
không phải đứa trẻ trai nào cũng cứng rắn, khỏe mạnh; và không phải đứa trẻ gái nào cũng
dịu dàng mềm mỏng, thậm chí còn có nhiều đứa lớn lên trở thành sư tử Hà Đông. Khi đứa
trẻ không thể tự nó thỏa mãn được những giá trị do xã hội áp đặt, nó phát sinh mặc cảm tự ti
và vô thức bắt nó phải đền bù: thí dụ người phụ nữ có mặc cảm yếu kém sẽ có thể cố gắng
tạo ra quyền lực cho mình bằng cách ăn mặc khêu gợi và thái độ lẳng lơ để tạo ra quyền lực
tuệ, chứ không phải để được điểm hay bằng cấp.
Phương cách dạy con đúng đắn theo Adler là tạo cho đứa trẻ một môi trường sống dân
chủ và bình đẳng ngay từ trong gia đình. Adler đặc biệt cảnh giác phụ huynh về tác hại của
việc kỷ luật trẻ con bằng roi vọt, và về bộ đôi độc ác hành hạ áp bức trẻ em như đã trình bày
ở trên.
Bệnh tâm lý và phương pháp trị liệu:
Theo Adler, tất cả các triệu chứng bệnh tâm lý (như bồn chồn bứt rứt, trầm cảm…) đều là cố
gắng của cá nhân để thoát ra khỏi mặc cảm thua kém và đạt được trạng thái ưu việt hơn
người khác. Vì vậy để trị bệnh tâm lý, Adler chủ trương giúp người bệnh hiểu được cơ chế
hoạt động của tâm thức, có được trí tuệ, lòng can đảm, và niềm tự tin để tồn tại và phát triển
một cách lành mạnh bình thường. Điều trị viên theo phương pháp Adler giữ vai trò tích cực,
sẵn sàng cung cấp lời khuyên, giúp bệnh nhân thay đổi lối sống, rũ bỏ những mục tiêu giả
tạo, thiết lập mục tiêu đúng đắn và thực tế, từ đó không còn mặc cảm thua kém và dứt được
triệu chứng bệnh tâm lý. Để dễ dàng thực hiện vai trò tích cực này, Adler là người đầu tiên
bỏ cách sắp xếp cổ điển của phái phân tâm: bệnh nhân nằm dài trên trường kỷ, điều trị viên
ngồi phía sau. Phương pháp Adler cho phép bệnh nhân và điều trị viên trở lại hình thức ngồi
đối diện trên hai ghế.
18
Chương 2: PHÁI ỨNG XỬ/BEHAVIORAL THERAPY
Trái ngược hẳn với phái tương tác tâm lý, phái ứng xử không quan tâm tìm hiểu những
nguyên nhân sâu xa của các triệu chứng tâm lý, mà chỉ chú ý đến các ứng xử có thể quan sát
và đo lường được của con người. Dựa trên nghiên cứu của Ivan Pavlov (1849-1936), nhà
bác học Nga, và Edward Thorndike (1874-1949), tâm lý gia Mỹ, ứng xử liệu pháp xây dựng
trên ảnh hưởng của hai phát kiến sau đây trên ứng xử của con người: điều kiện hóa cổ
chuồng là sẽ bị điện giật, con chuột sẽ tránh không chạy vào khu vực đó. Skinner kết luận
ứng xử được quyết định và duy trì do hậu quả của nó. Đây là nền tảng của ứng xử liệu pháp:
con người có khuynh hướng duy trì và lập lại những ứng xử mang lại thoải mái, lời khen, sự
ngưỡng mộ hoặc các phần thưởng vật chất. Trái lại, sẽ tránh hoặc bỏ những ứng xử không
mang lại kết quả tốt đẹp cho bản thân.
Skinner phân biệt bốn loại điều kiện hóa hành động:
Tăng cường tích cực/
positive reinforcement
: tạo ra một tình trạng thoải mái, dễ chịu để khuyến
khích lập lại một ứng xử nào đó. Thí dụ, người huấn luyện chó cho chó ăn mỗi khi tuân lệnh,
con chó sẽ tập được tính kỷ luật. Thí dụ khác: khen thưởng đứa trẻ khi mỗi khi nó đem điểm
tốt về nhà, nó sẽ tiếp tục cố gắng chăm học để mang điểm tốt về cho cha mẹ.
Tăng cường tiêu cực/
negative
reinforcement
: lấy đi một hậu quả khó chịu hoặc đau đớn để
khuyến khích LẬP LẠI một ứng xử nào đó. Thí dụ mỗi lần đi làm về đúng giờ bà vợ không
cằn nhằn quạu cọ dai dẳng làm mất vui cả buổi tối. Thôi chấp nhất với nó làm gì, tan sở ba
19
chân bốn cẳng chạy vội về nhà cho nó yên chuyện. Tăng cường tiêu cực thường bị nhầm lẫn
với trừng phạt.
Trừng phạt/
punishment
: tạo ra một tình trạng đau đớn, khó chịu để CHẤM DỨT một ứng xử
nào đó. Có hai cách trừng phạt, trừng phạt tích cực là tạo ra một hậu quả khó chịu. Thí dụ ở
và Watson năm 1924 là một thí dụ cổ điển của phương pháp này: Peter là một em bé 2 tuổi
rất sợ thỏ. Jones đặt một con thỏ nhốt trong một cái lồng trên bàn trong lúc Peter được cho
ăn trưa. Trong 17 ngày, mỗi ngày Jones đẩy lồng thỏ lại gần Peter một chút, cuối cùng con
thỏ được thả ra và ngồi trong lòng Peter và Peter vừa ăn vừa vuốt ve con thỏ.
Người mắc bệnh ăn cắp là người ăn cắp vì khao khát cảm giác hồi hộp, sợ bị bắt khi đi ăn
cắp, chứ không phải vì nghèo túng. Ở Mỹ thống kê cho biết khoảng 5% những người bị bắt
về tội ăn cắp là những người mắc bệnh ăn cắp/
kleptomaniac.
Nổi tiếng trong số này là những
tài tử giàu có và được nhiều người ngưỡng mộ, thí dụ Winona Ryder (hai lần giải Golden
Globe và hai lần giải Academy Award): cô đã từng treo giải 200.000 Mỹ kim cho ai cứu
được bé gái 12 tuổi Polly Klaas bị bắt cóc ở Petaluma, thị trấn nhà của cô vào năm 1993
(7),
nhưng năm 2001 cô bị bắt quả tang ăn cắp một số quần áo trị giá 5.500 Mỹ kim ở Fifth Saks
Avenue, một tiệm quần áo đắt tiền ở Beverly Hills. Người mắc bệnh ăn cắp khao khát cảm
giác mạnh của hành vi hành ăn cắp đến nỗi nếu không được sống trong tình huống hồi hộp
cao độ của hành vi đó thì bồn chồn bứt rứt không thể chịu được. Bệnh nhân có thể được
20
điều trị bằng cách dẫn vào nơi hay ăn cắp (cửa hàng bách hóa, chợ…), mới đầu đi bên cạnh
điều trị viên, sau nhiều lần sẽ đi cách điều trị viên vài bước, rồi cách xa dần. Tùy theo tiến
bộ của bệnh nhân, điều trị viên sẽ cùng đi vào cửa hàng với bệnh nhân nhưng mỗi người đi
một ngả. Sau cùng bệnh nhân sẽ vào cửa hàng một mình, điều trị viên chờ ở ngoài… Tùy
theo tình trạng của mỗi bệnh nhân, thời gian điều trị có thể kéo dài hàng năm (mỗi tuần gặp
điều trị viên một lần 55 phút). Phương pháp này cần có sự chuẩn bị thích đáng để đề phòng
trường hợp bệnh nhân không tự kiểm soát được, tái phạm hành vi ăn cắp và điều trị viên có
thể bị kết tội đồng lõa (ngồi chờ ở ngoài bãi đậu xe). Điều đáng chú ý ở đây là phương pháp
phân tâm của Freud coi bệnh ăn cắp là một loại bệnh bệnh tâm lý và điều trị bằng cách giúp
Thư giãn/
relaxation
: để chống căng thẳng và cảm giác bồn chồn bứt rứt.
21
Chương 3:
PHÁI TRI THỨC
JEAN PIAGET (1896-1980) VÀ THUYẾT PHÁT TRIỂN TRI THỨC/COGNITIVE
DEVELOPMENT THEORY
Piaget, tâm lý gia Thụy Sĩ, là người có đóng góp lớn nhất vào kiến thức của nhân loại về sự
phát triển của trí khôn. Qua nhiều chục năm quan sát ứng xử của trẻ con, kể cả các con của
bản thân ông, trong môi trường sống tự nhiên chứ không chỉ thuần túy trong các môi trường
thí nghiệm, Piaget đề ra lý thuyết tri thức của con người bao gồm những đơn vị căn bản mà
Piaget gọi là schema. Schema là nơi lưu trữ những kiến thức đã thu nhận được và là nền
tảng cho sự học hỏi thêm những kiến thức mới.
CẤU TRÚC CỦA TRI THỨC
Trong quá trình lớn lên của đứa trẻ, schema được liên tục bổ sung qua hai quá trình: tiếp
nhận/
assimilation
và hội nhập/
accommodation
. Tiếp nhận là quá trình đưa những thông tin mới,
kinh nghiệm mới vào cơ cấu schema có sẵn để làm phong phú thêm schema. Thí dụ schema
của đứa trẻ sơ sinh đã có kinh nghiệm (và kiến thức) về bú sữa mẹ, dần dần nó tình cờ cho
được ngón tay hay ngón chân của nó vào miệng, rồi núm vú plastic… tất cả là kinh nghiệm
mới nhưng nó đều tiếp nhận được vào schema có sẵn của nó về bú. Hội nhập là thay đổi
từ 7 đến 11 tuổi.
Giai đoạn vận hành hoàn chỉnh/
formal operational
từ 11 đến 15 tuổi.22
Chia ra bốn giai đoạn khác nhau nhưng những giai đoạn này không đứt đoạn một cách rõ rệt
mà diễn ra một cách liên tục và liền lạc. Mặt khác, số tuổi của mỗi giai đoạn chỉ là phỏng
chừng, tùy theo những yếu tố nội tại cũng như yếu tố môi trường, mỗi trẻ có thể trải qua
từng giai đoạn ở tuổi khác nhau. Ngoài ra các giai đoạn có thứ tự cố định và áp dụng chung
cho toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, điều này có nghĩa sự hình thành trí khôn
phải bắt đầu bằng giai đoạn xúc giác và cử động, sau khi phát triển xong giai đoạn một mới
có thể tiến lên giai đoạn hai, rồi mới đến giai đoạn ba, và sau cùng là giai đoạn bốn. Mặc dù
đa số mọi người đều trải qua bốn giai đoạn phát triển kể trên, một thiểu số không hoàn tất
được đầy đủ và sự phát triển trí khôn có thể ngừng lại ở bất cứ giai đoạn nào.
1.
Giai đoạn giác quan và cử động (sơ sinh, khoảng 0 đến 2 tuổi):
Trí khôn của đứa trẻ được hình thành qua ngũ giác (nhìn, nghe, nếm, ngửi, sờ) và cử động
(nắm, kéo, đẩy, đạp…). Ở cuối giai đoạn này đứa trẻ dần dần xây dựng được sự hiểu biết về
vật thể thường trực/object permanence. Vật thể thường trực là vật thể đứa trẻ hiểu được, nhận
ra được trong trí não mặc dù không thấy vật thể đó trước mắt. Trong khoảng 4-5 tháng đầu,
đứa trẻ chỉ nhận ra một vật thể khi toàn bộ vật thể đó xuất hiện trước mắt: đưa một món đồ
chơi ra trước mắt, đứa bé sẽ nhìn và có thể vươn tay muốn nắm lấy, nhưng lấy món đồ chơi
ra khỏi tầm mắt đứa bé không có một cử chỉ hay dấu hiệu nào chứng tỏ nó còn biết đến vật
thể đó, vật thể hoàn toàn biến mất trong trí khôn của nó. Đến khoảng 6-7 tháng tuổi, đứa trẻ
chấp nhận bởi mọi người chung quanh.
2.
Giai đoạn tiền vận hành (ấu thơ, khoảng 2 đến 7 tuổi):
Khả năng suy nghĩ và diễn tả của đứa trẻ tiếp tục phát triển qua biểu tượng và ký hiệu. Tuy
nhiên thế giới của đứa trẻ vẫn xoay quanh cái tôi chủ quan/
egocentric
dựa vào trực giác, nặng
tính cách cụ thể và tuyệt đối, chưa hiểu được lý luận và cách vận hành của vật thể (chính vì
vậy Piaget đặt tên giai đoạn này là tiền vận hành), chưa phân biệt được ý nghĩ và hiểu biết
của người khác có thể khác với bản thân nó. Thí dụ khi đứa trẻ khóc đòi được bế thì nó
không thể hiểu được tại sao người lớn lại có thể nghĩ khác và không chịu bế nó lên.
3.
Giai đoạn vận hành đơn giản (trước dậy thì, khoảng 7 đến 11 tuổi):
Lần đầu tiên đứa trẻ hiểu được logic vận hành của sự vật. Ý nghĩ không còn bị chi phối
hoàn toàn bởi trực giác và đứa trẻ có thể dùng trí khôn để giải quyết được những vấn nạn
mà nó có kinh nghiệm (cụ thể). Thí dụ khi được hỏi A cao hơn B, B cao C, vậy A và C ai
cao hơn ai? Đứa trẻ có thể suy nghĩ trong đầu và cho câu trả lời đúng (ở giai đoạn tiền vận
hành nó cần những vật thể cụ thể thí dụ những con búp bê, để so sánh và tìm ra giải đáp cho
câu hỏi này). Cũng trong giai đoạn này, đứa trẻ bắt đầu hiểu được ý nghĩ khác biệt của
người khác và ngôn ngữ của nó càng ngày càng có chức năng xã hội và truyền thông.
4.
Giai đoạn vận hành hoàn chỉnh (dậy thì và trưởng thành, từ 11 đến 15 tuổi trở
lên):
Đứa trẻ bắt đầu xây dựng được khả năng lý luận về những sự kiện nó chưa hề có kinh
nghiệm. Thí dụ nếu được hỏi “Nếu người ta có cánh thì sao?” Nó có thể trả lời “Hết kẹt xe”,
đến cuối giai đoạn vận hành đơn giản và đầu giai đoạn vận hành hoàn chỉnh trẻ em mới bắt
đầu hiểu được sự liên hệ giữa ý định và nói dối, tức là chỉ có nói dối khi có yếu tố cố ý tức là
có ý định lừa đảo. Ở giai đoạn này đứa trẻ mới bắt đầy xây dựng được ý niệm đạo đức theo
nghĩa luân lý và xã hội (trước đó đạo đức chỉ là đúng sai theo đánh giá của cha mẹ). Người
làm công tác tư vấn áp dụng lý thuyết của Piaget có thể giúp cha mẹ và thày cô giáo tìm
được phương pháp giáo dục, uốn nắn, kỷ luật thích hợp để đứa trẻ phát huy được đạo đức xã
hội và tự nó phát triển được tính thật thà thẳng thắn là một trong những yếu tố rất quan trọng
giúp nó liên hệ được với mọi người chung quanh và thành công trong cuộc sống gia đình
cũng như xã hội. Một cách cụ thể, Piaget phân biệt hai lối phạt: phạt bắt đền/
expiatory
punishment
là hình phạt mạnh mẽ có mục đích gây ra đau đớn khó chịu khi đứa trẻ vi phạm
những điều cha mẹ ngăn cấm. Hình phạt bắt đền có ý nghĩa áp đặt độc đoán theo ngẫu hứng
của người có quyền lực (cha mẹ) và không có liên quan trực tiếp gì đến nội dung “tội” của
đứa trẻ, chỉ nhằm bắt nó phải trả một giá cho tội của nó để hy vọng nó sẽ nhớ và chừa. Thí
dụ: chơi xong vất đồ chơi lung tung, không chịu cất gọn ghẽ, mẹ nhắc hoài cũng không
nghe. Phạt bắt đền: cuối tuần không cho đi xem phim.
Loại trừng phạt thứ hai là phạt đối xứng/reciprocal punishment. Cách phạt này luôn luôn liên
hệ trực tiếp đến nội dung của “tội” và nhắm củng cố mối quan hệ hợp tác với người khác và
phát huy tinh thần trách nhiệm tự giác. Trong thí dụ đứa trẻ bừa bãi kể trên, phạt đối xứng là
cha mẹ cất đi, không cho đứa trẻ được chơi những đồ chơi mà nó vất bừa bãi.
Nhiều phụ huynh có thói quen nóng nảy đánh đập, chửi bới đứa trẻ khi nó phạm lỗi mà
không dạy cho đứa trẻ cách làm thế nào để đừng lập lại lỗi. Thí dụ đánh chửi đứa trẻ khi nó
đánh em mà không dạy nó làm thế nào để chơi với em cho thuận hòa vui vẻ. Lối trừng phạt
25
bắt đền này phần đông chỉ có mục đích thỏa cơn tức giận của phụ huynh và tai hại nhiều hơn
là làm lợi cho đứa trẻ.
: niềm tin về sự việc xảy ra,
và C/
Consequences
: những cảm xúc cũng như ứng xử gây ra bởi niềm tin đó. Sau khi một sự
kiện diễn ra, chính những niềm tin chủ quan của cá nhân, thường là sai lạc, bất hợp lý, vô
căn cứ, về sự kiện đó, gây ra những cảm xúc khó chịu và ứng xử sai quấy của cá nhân. Thí
dụ: cô X bất ngờ đi ngoài phố gặp anh bạn trai Y nhưng anh Y vô tình không nhìn thấy cô,
(sự kiện xảy ra A). Cô B nghĩ “hắn lờ mình đi” (niềm tin B). Từ niềm tin này cô có cảm xúc
tức giận và một tuần lễ liền cô tránh mặt anh Y (hậu quả C). Sự kiện cô X tránh mặt không
có lý do (gọi điện thoại cô không trả lời, đến nhà tìm cô không tiếp… có thể là sự kiện xảy ra
A làm cho anh Y nghĩ “chắc là cô ta có bạn trai khác rồi” (niềm tin B), anh đau khổ bỏ ăn bỏ
ngủ mấy ngày và suýt nữa nhảy xuống sông Tô Lịch tự trầm (hậu quả C).