0
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BN :
Bệnh nhân
BV:
Bệnh viện
CTM:
Cắt túi mật
CTMM:
Cắt túi mật mở
CTMNS:
Cắt túi mật nội soi
DSP:
Dưới sườn phải
OGC:
Ống gan chung
OGP:
Ống gan phải
OGT:
Ống gan trái
OMC:
Ống mật chủ
PPPT:
Phương pháp phẫu thuật
PTS:
Phõn thùy sau
PTT:
Phõn thùy trước
nhưng không phải là không có tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ. Trong
đó biến chứng viờm phỳc mạc sau mổ là nặng nề nhất, chẩn đoán và điều trị
rất khó khăn phức tạp .Tình trạng bệnh lý túi mật như viêm cấp, viêm mãn
tính hay dính quanh túi mật là nguyên nhân hay gặp gây ra những khó khăn
về kỹ thuật, những yếu tố như kinh nghiệm của phẫu thuật viên, trang thiết bị,
những biến đổi giải phẫu cũng làm gia tăng tỷ lệ tai biến, biến chứng sau mổ.
Biến chứng viờm phỳc mạc mật sau mổ là một tình trạng bệnh lý nặng nề của
tổn thương đường mật ngoài gan sau mổ cắt túi mật nội soi ,diễn biến phức
tạp, chẩn đoán xác định khó, có nhiều hình thái thương tổn đường mật,
phương pháp xử trí khi can thiệp phẫu thuật ( chỉnh sửa tổn thương ) nên dựa
vào việc đánh giá mức độ tổn thương đường mật và tình trạng ( nhiễm trùng,
tắc mật ) của bệnh nhân.
2
Tại Bệnh viện Việt Đức theo Nguyễn Tiến Quyết [25] tỷ lệ cắt túi mật
nội soi chiếm 4/5 số ca mổ cắt túi mật, biến chứng viêm phúc mạc mật sau
mổ gặp 20% trong tổng số các TH tổn thương đường mật ngoài gan . Theo
Nguyễn Đình Hối [14] 83% mổ cắt túi mật được thực hiện qua nội soi ổ
bụng. Theo Davidoff [ 43 ] năm 1992 trong 13 ca mổ nội soi đầu tay thì có tỷ
lệ tổn thương đường mật là 2,2%. Trên thế gới có nhiều nghiên cứu về tổn
thương đường mật chính, hầu hết các PTV quan tâm đến hẹp đường mật sau
can thiệp phục hồi TTĐMNG. Những nghiên cứu trong nước từ trước tới nay
rải rác và tập trung vào mổ CTMM hoặc là CTMNS về cách xử trí TTĐMNG
chưa nhiều, phương pháp xử trí chưa rõ ràng, đánh giá kết quả dừng lại lúc
bệnh nhân xuất viện, thời gian theo dõi sau mổ ngắn mà cũng chỉ là đánh giá
kết quả gần hoặc kết quả xa nhưng với thời gian chưa đủ để nhìn nhận một
cách toàn diện những biến chứng của tổn thương đường mật ngoài gan.
Những trường hợp biến chứng viờm phỳc mạc do tổn thương đường
mật sau cắt túi mật nội soi có đặc điểm gì, phải làm gì để phát hiện các biến
chứng, những yếu tố liên quan đến tổn thương và khi mổ thì mổ làm gì để có
Năm 1997 Mirza [ 50 ] cho biết tỷ lệ gặp TTĐMNG trong CTMNS
cao hơn mổ mở (0,6% so với 0,3%).Tuổi trung bình là 49 tuổi. Trong đó có
18 ca là BN nữ và 9 ca là BN nam ,13 ca có viêm dính nhiều trong mổ. Chỉ có
6 ca được nhận biết trong mổ. Billirubin trung bình của những bệnh nhân
trước mổ can thiệp lại là 42, còn Photphatase kiềm là 893. Có 1 ca tử vong do
tắc mật sau đó nhiễm trùng huyết và suy thận nặng.
4
Năm 2001 theo thống kê của Ponsky [ 54 ] tai biến này thường xảy ra
khi phẫu thuật viên thực hiện ở 10 ca đầu tiên CTMNS và không có TH nào
nhận biết được trong mổ, cũng như chụp đường mật trong mổ.Theo một số
thống kê thì tần xuất gặp của tai biến là cao hơn trong 25 ca đầu tiên và giảm
rõ rệt ở những ca sau đó.
Tổn thương đường mật chính do cắt túi mật nội soi ở các nước phương
Tây là 0,4%-0,6%, tại Việt Nam tỷ lệ tổn thương đường mật chính trong mổ
nội soi từ 0,3%-1% [ 6].
Bảng 1.1. Tỷ lệ TTĐMNG trong CTMNS của một số tác giả [ 3 ]
Tác giả
Năm
Tổng sè ca mổ
Số TTĐMNG
Tỷ lệ %
Collet
1991
2955
18
0,6
Suc
1992
114005
561
0,5
Csendes
1999
25007
74
0,3
Krahenbuhl
2001
12111
36
0,3
Ðỗ Kim Sơn
2003
1118
10
0,89
Lê Léc
2005
885
6
0,45
Nguyễn Cường Thịnh
2006
1660
15
0,9
Văn Tần
2006
Năm 2006 nghiên cứu của tác giả Văn Tần và cộng sự [ 33] cho thấy
tổn thương đường mật có mối liên hệ rất rõ với tình trạng bệnh lý túi mật
cũng như cấu trúc giải phẫu đường mật và mạch máu ngoài gan trước mổ ,
cách trình bày phẫu trường và kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật. Tác giả
6
cũng cho thấy có 2 tình huống phát hiện tổn thương đường mật: ngay trong
mổ đã phát hiện tổn thương đường mật hoặc gây tổn thương mà không phát
hiện để rò mật gõy viờm phỳc mạc và những hậu quả khác trong giai đoạn
hậu phẫu. Tổn thương đường mật là một tai biến nặng trong phẫu thuật cắt túi
mật nội soi. Đa số các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều cho
thấy tỷ lệ tổn thương này chiếm khoảng 0,5-1% tổng số các trường hợp được
phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Trong đó biến chứng viờm phỳc mạc sau mổ
CTMNS do tổn thương đường mật ngoài gan được phát hiện trong giai đoạn
hậu phẫu chiếm tỷ lệ không nhỏ, với các biểu hiện của một tình trạng viờm
phỳc mạc mật trên lâm sàng kèm với hình ảnh ổ tụ dịch dưới gan hoặc biểu
hiện tình trạng tắc mật rõ kèm theo ổ tụ dịch vùng dưới gan, ổ bụng …
Năm 2008 Nguyễn Tiến Quyết [25] nghiên cứu có 25 ca TTĐMNG sau
mổ cắt túi mật nội soi đã được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức từ
tháng 6/2005 đến tháng 6/2008 thương tổn trong mổ phát hiện có 11 TH hẹp
OMC+OGC chiếm 44%, 8 TH mất đoạn OMC chiếm 32%, 5 TH mất đoạn+
hoại tử gây viêm phúc mạc chiếm 20%, 1 TH mất đoạn chảy máu chiếm 4%. Và
xử lý thương tổn 20 TH nối OGC- hỗng tràng ( 80%), 5 TH nối gan- hỗng tràng
(20%) .Kết quả tốt 100% chỉ có 1 TH chảy máu rốn gan, 1 TH tắc ruột và thời
gian nằm viện trung bình 9 ngày ( Max :29 ngày).
1.2. Sơ lược giải phẫu liên quan.
Các công trình nghiên cứu giải phẫu gan mật của Tôn Thất Tùng
(1939), Hjorstjo ( 1931), Couinaud ( 1957) là nền tảng cơ bản của phẫu thuật
gan mật. Dựa trên phân bố của cuống cửa ( hay cuống Glisson bao gồm động
mạch gan, tĩnh mạch cửa và đường mật ) và hệ tĩnh mạch trên gan.
được chia làm 4 đoạn: đoạn cuống gan, đoạn sau tá tràng, đoạn sau tụy và
đoạn trong thành tá tràng. Sau khi ra khỏi cuống gan OMC đi chếch sang phải
cùng với ống Wirsung đổ vào tá tràng qua bóng Vater, chung quanh có cơ
tròn Oddi có vai trò điều tiết mật.
1.2.2. Giải phẫu túi mật. Hình 1.3 Túi mật và cuống gan.
Túi mật là nơi lưu giữ dịch mật trước khi dịch mật được lưu thông
xuống tá tràng. Túi mật nằm ép sát vào mặt dưới gan, trong giường túi mật.
9
Trong tình trạng sinh lý túi mật có hình quả lê, chiều dài 6 - 8cm đường kính
ngang từ 3 - 4cm gồm có 3 phần: đáy, thân và cổ túi mật.
+ Đáy túi mật nằm ở phía trước, tại chỗ khuyết của bờ trước gan phải,
một phần của đáy túi mật nằm lồi hẳn ra phía trước của bờ gan. Đáy túi mật là
nơi phình ra lớn nhất sau đó thon nhỏ dần đến thân và cổ túi mật.
+ Thân túi mật hướng lên trên và ra sau, giữa thân túi mật và giường túi mật
có tổ chức liên kết trong đó có động mạch túi mật đi qua và các tĩnh mạch.
+ Cổ túi mật ở phía sau mặt dưới của cổ túi mật phình ra tạo thành phễu
cổ túi mật. Tại phễu cổ túi mật có hạch bạch huyết Mascagni là mốc xác định
cổ túi mật.
+ Ống túi mật nối từ cổ túi mật tới OMC dài 1- 3cm, chạy chếch xuống
dưới sang trái và hơi ra sau, khi tới OGC thì chạy sỏt bờn OGC một đoạn rồi
mới hợp với nhau ở bờ trên tá tràng tạo thành OMC. Mặt trong của ống túi
mật có nhiều nếp tạo thành van xoáy ốc Heister.[ 3], [ 35 ].
+ Động mạch túi mật: Là một nhánh của động mạch gan riêng, kích
thước rất thay đổi. Động mạch đi trong tam giác được xác định bởi OGC ở
phía trong, ống túi mật ở ngoài, động mạch túi mật ở trên. Động mạch đi từ
dưới lên trên, sang phải, chia nhánh cho ống túi mật và túi mật.
Hình 1.5 Các ống gan phụ lạc.
11 Ống mật bất thường là ống mật phõn thựy không hợp nhất với nhau ở
trong gan mà hợp nhất với nhau ở phía ngoài gan, những ống như vậy nếu đi
qua vùng tam giác Calot thì rất dễ bị thương tổn vì khi phẫu tớch vựng này để
kẹp cắt ống túi mật dễ phạm phải gõy rũ mật sau này. Sự có mặt của ống gan
phụ lạc được nghi nhận khoảng 15%. Ống lớn thường đơn độc, có thể dẫn lưu
một phân thùy gan phải hoặc trái đổ vào OMC hay ống túi mật, đôi khi OGP
hoặc OGT hay cả 2 ống gan đều đổ vào túi mật. Những ống nhỏ, ống Luschka
thường đổ trực tiếp từ gan vào túi mật.
- Biến đổi giải phẫu đường mật ngoài gan:
+ Ống mật PTS, ống mật PTT và OGT đều đổ vào rốn gan.
+ Ống mật PTS hoặc PTT đổ vào OGC.
+ Ống mật PTT hoặc PTS đổ vào OGT.
+ Ống mật PTS đổ vào cổ túi mật hoặc ống túi mật.
+ Một vài giải phẫu bất thường: thông thương ống mật trong gan với
ống túi mật hoặc với túi mật. Theo Albaret và Couinaud [ 62 ], Ống mật HPT
VI đổ vào ống túi mật. Ống mật HPTS gan phải đổ vào ống túi mật. Một ống
mật ở đầu xa của ống PTS gan phải đổ vào thân túi mật.
- Giải phẫu bất thường của túi mật:
+ Túi mật có thể chỉ còn là di tích, hay có thể có 2 hoặc 3 túi mật.
+ Túi mật đôi: Hai túi mật có ống túi mật chung nhau đổ vào OGC, một
túi mật có ống túi mật đổ vào OGP sát ngã ba đường mật, túi mật kia đổ vào
OGC , 2 túi mật đổ vào OGC riêng biệt.
12
- Bất thường về vị trí:
- Biến đổi giải phẫu động mạch túi mật, động mạch gan:
Hình 1.7 Những dạng của động mạch túi mật.
14
Những bất thường của động mạch gan và động mạch túi mật gặp 50%.
Khoảng 20% động mạch gan xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên và
khoảng 5% trường hợp có 2 động mạch gan một xuất phát từ động mạch gan
chung một xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên. Động mạch gan phụ
gặp 8% trường hợp thường chạy dưới gần ống túi mật và túi mật. Khoảng
10% trường hợp động mạch túi mật xuất phát từ động mạch gan trái hoặc từ
chỗ tiếp nối của động mạch gan trái và động mạch gan phải với động mạch
gan riêng. Trong 15% trường hợp động mạch túi mật chạy trước OGC.
1.3. Chỉ định và chống chỉ định phẫu thuật cắt túi mật nội soi.
1.3.1.Chỉ định phẫu thuật cắt túi mật nội soi:
-Sỏi túi mật đơn thuần có triệu chứng.
-Polyp túi mật (có triệu chứng lâm sàng, polyp kích thước lớn hay
nhiều polyp).
-Viêm túi mật mạn tính do sái hay không do sái.
-Viêm túi mật cấp tính do sái hay không do sái.
-Vôi hoá thành túi mật ( túi mật hoá sứ).
-Ung thư túi mật giai đoạn sớm.
1.3.2. Chống chỉ định phẫu thuật cắt túi mật nội soi:
- Sỏi túi mật có kèm theo sỏi OMC và sỏi đường mật trong gan.
- Các bệnh lý hô hấp: kén khí phổi, khí phế thũng, COPD trên bệnh nhân
quá cao tuổi.
-Tăng nhãn áp.
-Thoát vị lớn thành bụng.
-Nhiễm khuẩn huyết.
-Bệnh lý đông máu, xơ gan nặng .
+Phẫu tích, cắt, thắt ống túi mật.
+Giải phóng túi mật khỏi giường túi mật.
+Cầm máu giường túi mật, Kiểm tra lưu thông ống mật chủ .
+Đặt dẫn lưu dưới gan ( thường áp dụng )
-Đóng vết mổ theo các lớp.
Lấy sỏi dẫn lưu túi mật: Phẫu thuật này cho tới nay vẫn được áp dụng,
đây là một kỹ thuật đơn giản, được sử dụng khi bệnh nhân già yếu, toàn trạng
nặng không cho phép làm phẫu thuật CTM, hoặc trình độ phẫu thuật viên và
phương tiện gây mê hồi sức không đảm bảo.
1.4.2. Kỹ thuật mổ cắt túi mật nội soi.
Năm 1983, Lukichev và cộng sự đã tiến hành mở thông túi mật nội soi
để điều trị viêm túi mật cấp.
Tháng 3 năm 1987, Philipe Mouret (Lyon, Pháp) tiến hành thành công
ca CTMNS đầu tiên trên thế giới, từ đó phương pháp phẫu thuật mới được
phổ biến và triển khai nhanh chóng ở các nước Âu, Mỹ và thế giới.
Thuật ngữ “Chirurgie Coelioscopique” được dùng để chỉ các phẫu thuật
được làm bằng phương pháp nội soi. Các tác giả Mỹ dùng từ “ Laparoscopic
Surgery”. Trong hơn hai thập kỷ qua PTNS phát triển rất mạnh ở nhiều nước
trên thế giới, nhiều tác giả coi đó như một cuộc cách mạng vì thực tế bản chất
của ngoại khoa không thay đổi nhưng những ưu điểm của PTNS đã được các
phẫu thuật viên chấp nhận nhanh chóng và được triển khai sang nhiều loại
hình phẫu thuật khác. Những yếu tố góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển
của PTNS trước hết phải kể đến vai trò quan trọng của việc phát triển và tiến
bộ nhanh chóng của các phương tiện sử dụng như: nguồn sáng lạnh, cáp
quang, hệ thống camera và Moniteur truyền hình. Đặc biệt quan trọng hơn
17
nữa là sự hoàn thiện về mặt kỹ thuật của các phẫu thuật viên cũng như sự
sáng chế các dụng cụ dùng trong mổ nội soi.
Ở Việt Nam ca cắt túi mật đầu tiên được thực hiện tại bệnh viện Chợ
mặt trước tam giác Callot, sau đó sử dụng dao móc ( Hook) hay kéo phẫu tớch
cỏc tổ chức lỏng lẻo trong tam giác Callot để bộc lộ ống cổ túi mật và động
mạch túi mật, trong khi phẫu tớch luụn tuân thủ các nguyên tắc chỉ cắt hay đốt
sau khi đó nhỡn rừ cấu trúc dưới mắt và tránh xa đường mật chính. Khi đã
phẫu tích rõ ràng 2 thành phần ống cổ túi mật và động mạch túi mật, dùng clip
để kẹp động mạch túi mật trước, bao giờ cũng kẹp 3 clip, hai chiếc sát nhau ở
phía đầu gốc động mạch, một chiếc ở phía sẽ cắt bỏ và tiến hành cắt đứt đôi
động mạch giữa các clip. Khi xác định chắc chắn trong đường mật chính
không có sỏi hoặc chít tắc do bệnh lý, ta kẹp 2 clip về phía gần chỗ ống cổ túi
mật đổ vào đường mật chính, chú ý không kẹp vào đường mật chính nhưng
cũng không để đoạn ống cổ túi mật còn lại dài quá ( hội chứng ống cổ túi mật
sau cắt túi mật ), sau đó cắt đứt đôi ống cổ túi mật giữa các clip. Trong trường
hợp ống cổ túi mật to mà kẹp clip không chắc chắn bảo đảm có thể thắt ống
cổ túi mật với chỉ khâu hay làm nút sẵn.
-Phẫu tích túi mật khỏi giường túi mật: kẹp vào phình cổ túi mật đã cắt
rời kéo lên trên và sang phải. Dùng dao điện hoặc kéo phẫu tích cắt dần tổ
chức lỏng lẻo nằm giữa thành túi mật và bao Glisson của gan để cắt túi mật.
Khi phẫu tích giường túi mật chú ý luôn đi sát thành túi mật, tránh đi nhầm
vào phía nhu mô gan sẽ dẫn tới chảy máu rất khó kiểm soát nhất là khi phạm
vào nhánh tận của tĩnh mạch trên gan.Trong vùng giường túi mật có thể có
các mạch máu nhỏ phải đốt điện cẩn thận trước khi cắt, cũng có khi gặp các
ống mật phụ đi từ HPT-V vào cỏc nhỏnh này cần được kẹp clip trước khi cắt
để trỏnh dũ mật sau mổ. Sau khi túi mật đã được cắt rời, đưa túi ni lon vào
trong ổ bụng đặt túi mật vào trong túi và để ở trên gan phải trong khe giữa
19
gan và cơ hoành. Tiến hành kiểm tra lần cuối vùng cuống gan xem các mỏm
cắt ống cổ túi mật, động mạch túi mật có tốt không, đường mật chớnh cú toàn
vẹn, dùng ống hút tưới rửa làm sạch toàn bộ vùng mổ, kiểm tra lần cuối tình
trạng ổ bụng trứơc khi kết thúc cuộc mổ, lấy bệnh phẩm qua trocart ở rốn
làm xẹp túi mật chủ động để thuận lợi cho việc cắt túi mật. Một nguyên tắc
cần nhớ để tránh kẹp clip vào đường mật chính là trước khi kẹp clip ống túi
mật thỡ luụn thả chùng panh kẹp ở phình cổ túi mật trỏnh khụng tạo gập góc
đường mật chính.
+ Các tổn thương đường mật nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời
sẽ gõy cỏc biến chứng nặng sau mổ như viờm phỳc mạc mật, tắc mật và bệnh
nhân có thể tử vong.
- Thủng túi mật và rơi sỏi vào ổ bụng.
Nguyên nhân thường do cắt thủng túi mật, do kẹp làm rách thành túi mật
hoặc tuột clip ống túi mật dẫn đến mật chảy ra ổ bụng và trong những TH ung
thư sẽ lan tràn tế bào ung thư. Cần hút sạch dịch mật, cặp lại chỗ rách bằng
clip hay buộc lại ống túi mật. Với những TH sỏi bị rơi vào ổ bụng cần gắp lấy
hết sỏi cho vào túi và lấy ra cùng với túi mật sau khi cắt.
-Thủng tạng rỗng:
Tai biến này thường gặp khi túi mật và cuống gan dính nhiều với tá
tràng, dạ dày, góc đại tràng phải. Khi búc tỏch, giải phóng túi mật ra khỏi tạng
này có thể gây thủng các tạng nói trên. Cần xử trí khâu lỗ thủng qua nội soi
hay qua mở bụng. Có thể gặp các tổn thương do hoại tử thứ phát từ những nơi
đốt điện gây nên thủng muộn và viờm phỳc mạc sau mổ hoặc rũ tiờu hoỏ.
Ngoài ra cũn cỏc tai biến trong quá trình bơm hơi, gây mê ảnh hưởng
liên quan đến tim mạch, tuần hoàn và hô hấp.
1.5.2 Các biến chứng sau mổ cắt túi mật nội soi.
21
- Chảy máu sau mổ:
Nguyên nhân chảy máu thường từ giường túi mật, ngoài ra có thể do
chảy máu thành bụng hoặc từ một mạch mỏu khỏc. Sau mổ người bệnh có hội
chứng chảy máu trong, nhất là nếu có đặt ống dẫn lưu dưới gan sẽ thấy nhiều
máu đỏ chảy ra và có rải máu đông. Với những TH chảy máu ít có thể điều trị
nội khoa ổn định và theo dõi thờm, cỏc TH chảy máu nhiều cần mổ lại sớm để
viêm dầy dính và đặc biệt là sỏi kẹt cổ túi mật. Biến chứng này có liên quan
chặt chẽ với kinh nghiệm của phẫu thuật viờn, không phát hiện được thương
tổn đường mật hoặc phát hiện được thương tổn đường mật nhưng chưa có
kinh nghiệm xử trí trong mổ .
+ Hình thái tổn thương: vết thương bên, mất đoạn đương mật, kẹp clip
hoặc khâu làm hẹp một phần hay hoàn toàn đường mật.
1.6. Các phương pháp phát hiện tổn thương đường mật ngoài gan.
1.6.1. Phát hiện tổn thương đường mật trong mổ.
+Thấy thương tổn đường mật khi phẫu tích.
+Dịch mật ở quanh phẫu trường.
+Chụp đường mật trong mổ: Chụp trước cắt túi mật hoặc sau cắt túi mật.
Nhờ chụp hình đường mật trong mổ người ta phát hiện những dạng bất
thường của đường mật, thấy được hình ảnh rõ ràng về cây đường mật. Nhiều
tác giả khuyờn nờn chụp đường mật trong mổ thường quy để tránh tổn thương
đường mật, vỡ nú giỳp xác định rõ giải phẫu đường mật nhất là trong những
trường hợp có ống gan phụ lạc.Trong một nghiên cứu đa trung tâm ở Thuỵ
Sỹ[ 48] nhờ chụp hình đường mật trong mổ phát hiện được 64% trong 80,6%
tổn thương đường mật được phát hiện trong lúc mổ, còn lại 19,4% bị bỏ sót
23
gây biến chứng và chỉ phát hiện ở hậu phẫu. Tuy nhiên một số nghiên cứu
cho thấy rằng chụp mật trong mổ không tránh được nguy cơ này, nó có tác
dụng chuẩn đoán hơn là phòng tránh tổn thương, bởi vì hầu hết tổn thương
đường mật là do nhầm đường mật ngoài gan với đường mật phụ, nên tổn
thương xẩy ra trước khi Catheter chụp đường mật được đưa vào. Biết được
tình trạng đường mật nhưng vẫn phạm phải trong quá trình cắt túi mật nên ít
có tác dụng ,vậy cần phải chụp đường mật sau cắt túi mật bằng cách luồn ống
thông vào ống túi mật hướng về phía OMC , cố định ống thông rồi tiến hành
bơm thuốc cản quang để chụp và xem trên màn tăng sáng .
1.6.2 Phát hiện tổn thương đường mật sau mổ khi cú cỏc biểu hiện hội
1.7. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh giúp xác định vị trí tổn thương.
- Hình ảnh siêu âm chỉ giúp cho khi giãn đường mật và gợi ý vị trí hẹp.
- Chụp mật tụy ngược dòng (Endoscopic retrograde Cholangio pancreato
graphy: ERCP). Năm 1968 Mc Cure là người đầu tiên áp dụng phương pháp này
bằng cách đưa ống soi mềm vào tá tràng qua bóng Vater vào OMC rồi chụp
đường mật bằng thuốc cản quang. Phương pháp này cho thấy được hình ảnh
của đường mật và ống tuỵ, giúp ta phát hiện được hình thái tổn thương sau cắt
túi mật: hẹp đường mật, rò đường mật, vị trí tổn thương. Trong các TH hẹp
đường mật sau cắt túi mật ERCP còn có điều trị bằng cách đặt stent qua chỗ
hẹp đường mật.
- Chụp đường mật qua dẫn lưu đường mật hoặc qua đường rò: Nếu
bệnh nhân còn dẫn lưu đường mật hoặc có đường rò mật thì đây là phương
pháp đơn giản nhất để chẩn đoán toàn bộ hình ảnh cây đường mật.
- Chụp cắt lớp vi tớnh (CT scanner): Nó cho phép ghi một hệ hình ảnh
những lát cắt thẳng góc với trục thân thể [17]. Theo chúng tôi không nên chỉ