nghiên cứu những thay đổi một số chỉ số huyết động và hô hấp trong gây mê mổ nội soi lồng ngực ở trẻ - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay việc áp dụng kỹ thuật nội soi lồng ngực có hỗ trợ của máy quay
video (kỹ thuật VATS :Video Assisted Thoracic Surgery) ngày càng phát
triển và đã nhanh chóng trở thành một phương pháp hữu ích cho chẩn đoán và
điều trị có hiệu quả trong một số bệnh trong lồng ngực ở trẻ em cũng như trẻ
sơ sinh. Nội soi lồng ngực ở trẻ em đã được chứng minh là có ưu điểm hơn so
với đường mở ngực kinh điển do giảm thiểu chấn thương do phẫu thuật, đau
sau mổ ít hơn, giảm thiểu nguy cơ tử vong sau mổ, cho ăn sớm hơn, giảm
ngày giường tại hồi sức, giảm thời gian nằm viện sau mổ do đó giảm chi phí
phẫu thuật, đặc biệt giảm tỉ lệ biến dạng lồng ngực sau mổ. Chỉ định nội soi
lồng ngực trên bệnh nhân nhi ngày càng được mở rộng và linh hoạt ngay cả
đối với một số ca trước đây có chống chỉ định [11,15]
Bên cạnh sự phát triển của phẫu thuật, thay đổi trong kỹ thuật GMHS,
tìm hiểu và hiểu biết những thay đổi về sinh lý tuần hoàn, hô hấp cũng như
những ảnh hưởng tới các cơ quan khác trong cơ thể đó giúp người GMHS đạt
được những sự tiến bộ giúp cho nội soi lồng ngực ngày càng phát triển.
Ngoài những ưu điểm mà phẫu thuật nội soi mang lại, người GMHS phải
tính đến một số vấn đề phức tạp cũng như nguy cơ trong mổ đó là: kiểm soát
đường thở, suy hô hấp tiềm tàng trước mổ, thay đổi liên quan đến tư thế nằm
nghiêng, bơm CO2 vào khoang lồng ngực [16]
Vấn đề sinh lý bệnh hô hấp liên quan đến nội soi lồng ngực :
- Đõu tiên đó là mất cân bằng giữa tưới mỏu-thụng khớ khi bệnh nhân
nằm nghiêng và sau khi thông khí một phổi.
- Sau đó là ảnh hưởng rất lớn của việc bơm CO2 vào khoang lồng ngực
lên hô hấp do hạn chế hoặc mất hẳn thông khí phổi cựng bờn.
1
- Cuối cùng là sự hấp thu CO2 qua màng phổi gây tăng CO2 hệ thống.
Ảnh hưởng lên tuần hoàn ở trẻ em ít hơn người lớn:
- Nguyờn nhân chính là khi bơm hơi đã gây ra một áp lực dương vào
khoang lồng ngực dẫn đến giảm máu trở về tim, giảm thể tích tống máu, giảm
cung lượng tim và giảm huyết áp.

2
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm [13]:
- Trẻ sinh đủ tháng: là những trẻ được sinh ra có tuổi thai từ 37-42 tuần.
- Trẻ sinh non tháng: là những trẻ sinh ra có tuổi thai ≤ 37 tuần.
- Trẻ sinh già tháng là những trẻ sinh ra có tuổi thai ≥ 42 tuần.
- Mới sinh là 24 giờ đầu sau khi sinh.
- Thời kỳ sơ sinh là 28 ngày đầu tiên sau khi sinh.
- Nhũ nhi là thời kỳ từ 29 ngày sau sinh tới một năm tuổi
1.2. Gây mê cho mổ nội soi lồng ngực ở trẻ em.
1.2.1. Lịch sử phát triển. [8, 9]
Năm 1982, sự thành công của phẫu thuật cắt túi mật nội soi và sự ứng
dụng kỹ thuật nội soi ổ bụng kết hợp với máy quay video vào phẫu thuật lồng
ngực đã nhanh chóng trở thành một phương pháp điều trị có hiệu quả trong
phẫu thuật lồng ngực. Việc thực hiện kỹ thuật VATS (Video Assisted
Thoracic Surgery) đã thực sự phát triển trong mười năm qua và nội soi lồng
ngực có thể áp dụng để chẩn đoán hay điều trị hầu hết các bệnh trong lồng
ngực ở người lớn. Ngay từ những năm đầu của cuộc cách mạng này, các nhà
GMHS đã tự nhận thấy sự cần thiết phải có những thay đổi trong kỹ thuật gây
mê nhằm đưa ra biện pháp chăm sóc tối ưu cho bệnh nhân trong mổ. Yêu cầu
đặt ra là phải giảm thiểu hơi có trong đường tiêu hóa, duy trì đủ giãn cơ trong
suốt cuộc mổ, phối hợp với phẫu thuật viên từ việc đặt tư thế bệnh nhân, áp
lực bơm khí vào các khoang của cơ thể đến các tăng thì phẫu thuật để có được
trường mổ tốt nhất và ảnh hưởng lờn cỏc cơ quan là ít nhất. Sự ra đời của ống
nội khí quản hai nòng, sử dụng ống NKQ đơn cú búng chốn ở cuối (ống
3
Univent), hoặc sử dụng Fogarty mạch mỏu,… cho phép thông khí phổi từng
bờn đó đánh dấu một bước tiến bộ trong lĩnh vực GMHS giúp cho phẫu thuật
nội soi ngày càng phát triển.

- Hiếm khi bị suy hô hấp mạn tính nên chịu đựng tốt hơn với bơm hơi
vào khoang màng phổi.
Những khó khăn trong gây mê cho phẫu thuật nội soi trẻ em là:
- Vị trí bệnh nhân thường ở giữa hoặc cuối bàn mổ do vậy khoảng cách
từ bệnh nhân đến mỏy mờ và người gây mê là rất lớn.
- Tư thế thường nằm ngang và nghiêng, thậm chí nằm sấp, phụ thuộc vào
vị trí cần phẫu tích trong mổ.
- Cần được bộc lộ tối ưu trường mổ với áp lực bơm hơi thấp yêu cầu
phải duy trì giãn cơ tốt trong suốt thời gian mổ.
5
- Duy trì thân nhiệt khó do bơm khí lạnh vào các khoang của cơ thể, và
mất nhiệt qua da ở trẻ rất lớn.
1.2.2. Những vấn đề được đặt ra trong gây mê cho phẫu thuật nội soi ở trẻ em
[10, 11]:
1.2.2.1. Chọn bệnh nhân:
- Cũng như thăm khám gây mê thông thường, hỏi tiền sử và khám lâm
sàng là vô cùng quan trọng. Tất cả những triệu chứng và xét nghiệm ngoài
giới hạn bắt buộc phải thông báo và cân nhắc, quyết định xem bệnh nhân có
thể chịu đựng được những tác động do bơm khí gây ra hay không.
- Hiện nay chỉ định của nội soi lồng ngực là rất thay đổi, có trường hợp
trước đây là CCĐ thì hiện nay có một số báo cáo đã thực hiện thành công kỹ
thuật này. Tuy nhiên phẫu thuật nội soi lồng ngực không được đặt ra đối với
các trường hợp:
• Hen phế quản nặng, có tổn thương phổi bên đối diện gây hạn chế
thông khí, …
• Rối loạn thông khí nặng.
• Bệnh lý thần kinh cơ, gù vẹo cột sống,
• Bệnh tim bẩm sinh cú tớm, ….
• Rối loạn đụng mỏu.
• Bệnh lý nội khoa khác cần được cân nhắc cụ thể trên từng trường hợp.

1.2.2.3. Trong quá trình gây mê:
- Có thể khởi mê bằng đường tĩnh mạch hay dùng thuốc mê hơi.
7
- Thông khí qua mask cần búp búng với áp lực thấp tránh đưa khí vào dạ
dày và ruột. Đối với teo thực quản và thoát vị hoành, các tác giả khuyờn nờn
gây tê tại chổ và đặt NKQ mà không thông khí nhân tạo qua mask.
- Đặt sông dạ dày và hậu môn là rất cần thiết đối với trẻ sơ sinh do thể
tích khoang bụng hạn chế, cơ hoành thường bị đẩy lên cao, nên hạn chế hơi
trong đường tiêu hóa càng nhiều càng tốt.
- Tuyệt đối không dùng N2O do nguy cơ tắc mạch khí.
Hình 1.2.
Hình 1.3.
8
- Với NKQ không có búng chốn, nếu khí bị rò ra ngoài ở áp lực
+15cmH2O thì cần thiết phải đổi ống khác có đường kích lớn hơn 0.5mm vì
sẽ không đảm báo thông khí trong mổ.
- Làm ấm khí CO2, làm ấm dịch truyền, làm ấm và ẩm khí thở, hệ thống
sưởi bằng hơi ấm tránh tụt nhiệt độ.
- Hệ thống theo dõi ngoài điện tâm đồ, SpO2, EtCO2, NIBP, đo thân
nhiệt và dán ống nghe vùng trước tim, theo dõi huyết áp động mạch xâm nhập
liên tục cho phép theo dõi liên tục huyết áp của bệnh nhân đồng thời kiểm tra
khớ mỏu động mạch khi cần và điều chỉnh toan kiềm. Ngoài ra đo ALTMTW
và đặt sông bàng quang là cần thiết vì trẻ dễ có nguy cơ thiếu dịch cũng như
quá tải dịch. Cần phải sửa chữa tình trạng huyết động trước khi thiểu niệu xảy
ra. Nên đo nhiệt độ hậu môn vì nhiệt độ thực quản trong nội soi lồng ngực
không phản ánh đúng nhiệt độ trung tâm đặc biệt là trên trẻ nhỏ.
- Giãn cơ tốt đòi hỏi duy trì suốt cuộc mổ nhằm cung cấp phẫu trường tốt
nhất với áp lực bơm hơi nhỏ nhất và trỏnh khớ rò rỉ qua khe hở của trocar.
- Gây tê tại chỗ đặt trocar không được đặt ra với trẻ nhỏ do khó tránh khỏi
quá liều khi gây tê tất cả các điểm chọc trong khi kích thước dụng cụ nhỏ chỉ

A.Gentili nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2003 trên 50 bệnh nhi mổ nội soi
lồng ngực thấy rằng với trẻ dưới 12 tháng tuổi, không có thông khí một phổi,
bơm CO2 vào khoang màng phổi với dũng 2L/phỳt và áp lực 4mmHg là đủ
gây xẹp phổi cựng bờn phục vụ cho phẫu thuật viên và không ảnh hưởng
10
nhiều lờn khớ mỏu và huyết động. Debnath Chatterjee, trường đại học Havard
nghiên cứu trên 5 bệnh nhân sơ sinh mổ thoát vị hoành nội soi, đặt NKQ theo
kinh điển, trong mổ cú lỳc áp lực bơm hơi tăng lên 8mmHg nhưng không xảy
ra biến loạn nhiều. Vấn đề đặt ra là:
+ Những thay đổi sau khi chuyển tư thế bệnh nhân.
+ Ảnh hưởng lên huyết động và hô hấp khi gây ra một áp lực dương
trong khoang màng phổi.
+ Thay đổi khớ mỏu khi bơm CO2 vào khoang màng phổi và thông khí
thế nào để duy trì các chỉ số trong giới hạn cho phép.
1.3. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý của trẻ sơ sinh liên quan đến GMHS
[6, 13, 14].
1.3.1. Hình thể:
Trẻ sơ sinh có cân nặng bằng 1/20, chiều dài bằng 1/3, diện tích da
bằng 1/9 người lớn. Đầu chiếm 25% chiều dài cơ thể. Thân mình dài còn chân
tay thì ngắn. Tỉ lệ Surface/volume lớn gấp 70 lần người lớn.
1.3. 2. Tuần hoàn:
- Tuần hoàn phổi thay đổi ngay lập tức sau khi sinh gây ra bởi tiếng
khóc chào đời. Sức cản mạch phổi trước khi sinh cao là do xẹp và chứa đầy
dịch của phổi, co mạch phổi. Sau sinh, các phế nang từ chỗ chứa đầy dịch nay
được khí làm đầy, sức cản mạch phổi giảm xuống là cơ hội cho dòng máu lên
phổi tăng lên, tăng oxy hóa máu, áp lực riêng phần của O2 trong máu động
mạch tăng lên và của CO2 giảm xuống. Sức cản hệ thống tăng và chấm dứt
tuần hoàn thai nhi.
- Tăng đột ngột sức cản hệ thống làm giảm lượng máu về tim từ tĩnh
mạch chủ dưới, giảm áp lực nhĩ phải. Sức cản phổi nhanh chóng giảm xuống

do thiếu khối lượng tuần hoàn, bệnh tim hay phổi bẩm sinh, nghiện thuốc
(drug withdrawal), hoặc cường giáp.
- Lúc mới sinh huyết áp là 50-65 mmH, và huyết áp ở chân cao hơn tay,
sau 9 tháng tuổi thì ngược lại. Trong 6 tuần đầu sau sinh cứ mỗi tuần huyết áp
lại tăng thêm 10 mmHg. Trẻ sơ sinh phụ thuộc rất nhiều vào nhịp tim để duy
trì cung lượng tim và huyết áp. Phản ứng co mạch để nâng huyết áp khi chảy
máu và thiếu khối lượng tuần hoàn kém hơn so với người lớn do đó con số
huyết áp tối đa là một chỉ thị tốt của khối lượng tuần hoàn và có thể dựa vào
đó để đưa ra chỉ định truyền dịch hoặc truyền máu. Huyết áp thấp và ngừng
tim xảy ra trong mổ thường là do thiếu thể tích máu lưu thông, quá liều thuốc
gây mê hoặc cả hai.
1.3.3. Hô hấp:
* Một số đặc điểm về giải phẫu:
- Đầu lớn so với kích thước cơ thể, cổ ngắn, khối cơ cổ kém phát triển.
- Lưỡi lớn so với thể tích khoang miệng nên trẻ sơ sinh bắt buộc phải
thở bằng mũi trong khi kích thước lỗ mũi nhỏ vì vậy đặt sông dạ dày qua mũi
là nên tránh.
- Nắp thanh quản lớn, mềm, hơi ra trước. Vị trí thanh quản cao, ngang
cổ 3 ở trẻ sinh non, ngang cổ 3-4 ở trẻ sinh đủ tháng và ở trẻ lớn là ngang
mức cổ 4-5.
- Vòng sụn nhẫn hẹp và là nơi hẹp nhất của khí quản và có kích thước
tương đương với lỗ mũi trước. Ở người lớn chỗ hẹp nhất của khí quản chính
là hai dây thanh.
13
- Đường kính khí quản nhỏ, khoảng 4mm tại sụn nhẫn. Khi niêm mạc
khí quản phù nề 1mm thì diện tích qua đó giảm 60-75% và sức cản tăng 16%
nhưng đối với người lớn thì diện tích qua đó chỉ giảm 44% và sức cản tăng
thêm 3%. Do vậy khi đặt nội khí quản cho trẻ sơ sinh thì hơi lỏng một chút
còn tốt hơn là khít chặt.
- Xương sườn nằm ngang, cơ liên sườn chưa phát triển và, xương ức và

- Thông khí phút và thông khí phế nang so với cân nặng cao gấp 2-3 lần
người lớn do chuyển hóa cơ bản và nhu cầu tiêu thụ oxy cao. Thông khí phế
nang ở trẻ dưới một năm là 130-150 ml/kg/phỳt trong khi ở người lớn chỉ có
45-60 ml/kg/phỳt. Điều này giải thích tại sao FiO2 ở khí thở ra thay đổi rất
nhanh ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi. Người lớn có thể tăng thông khí phút bằng tăng
Vt và tăng tần số thở nhưng trẻ sơ sinh, tăng Vt là rất hạn chế, chủ yếu dựa vào
tăng tần số thở. Trong khi tần số thở bình thường đã là 30-40 nhịp/phỳt, tỉ lệ
sợi cơ loại 1 thấp, dễ bị mệt cơ hô hấp nên giới hạn an toàn thấp.
- Thể tích cặn chức năng (FRC: Functional Residual Capacity) thấp. Tỉ
lệ MV/FRC ở người lớn là 1,5:1 trong khi trẻ sơ sinh là 5:1. FRC thấp, dự trữ
oxy phế nang thấp, thiếu oxy xảy ra rất nhanh khi ngừng thở. Thay đổi nhanh
FiO2 phản ánh Oxy trong phế nang và trong máu động mạch. RFC giảm trong
gây mê và còn tồn tại sau mổ. Trẻ càng nhỏ càng có nguy cơ giảm RFC. Khắc
phục tình trạng này bao gồm thở CPAP 5cmH2O, giảm áp lực ổ bụng bằng
đặt thông dạ dày.
15
- Đường thở có xu hướng dễ bị xẹp trong thì thở ra làm khí bị giữ lại
trong phổi. Sức cản đường thở cao liên quan đến kích thước đường thở nhỏ.
Độ giãn nở phổi thấp do tổ chức chun giãn kém phát triển.
- Tỉ lệ tĩnh mạch trộn là 20% trong khi người lớn là 5%. Trẻ sơ sinh
đáp ứng với tăng CO2 yếu hơn với thiếu oxy. Ngược lại, thiếu oxy làm giảm
đáp ứng của hô hấp với tăng CO2.
- Trẻ sơ sinh dễ có nguy cơ mắc bệnh võng mạc và xơ hóa phổi trong 2
tuần đầu đặc biệt là sơ sinh non tháng. Khuyến cáo đưa ra chỉ số SpO2 cho trẻ
sinh đủ tháng là 92% và đối với trẻ sinh non là 88%.
1.3.4. Thần kinh:
- Trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén hệ thần kinh TƯ trưởng
thành nhanh chóng thể hiện bằng sự xuất hiện một loạt các phản xạ như phản
xạ Moro, phản xạ Grasp, những phản xạ cơ bản này thường dược sử dụng để
đánh giá sự phát triển của tâm thần kinh.

được đặt lên hàng đầu đặc biệt là trẻ có cân nặng thấp. Hạ thân nhiệt do mất
nước qua da là chính, ngoài ra có thể do tăng thông khí. Trong 26-28 tuần, trẻ
có cân nặng thấp bị mất nước qua da có thể lên tới 60 ml/kg/ngày, đối với trẻ
sinh đủ tháng là 10 ml/kg/ngày.
1.3.6. Thận và chuyển hóa muối, nước:
- Mức lọc cầu thận lúc sinh chỉ bằng 30% người lớn, đạt 50% sau 10
ngày và 100% so với người lớn bình thường sau một năm.
17
- Lưu lượng máu tới thận chỉ bằng 5-6% cung lượng tim trong khi ở
người lớn là 20%. Nó chịu ảnh hưởng lớn của áp lực ổ bụng, dòng máu tới
thận giảm khi tăng áp lực ổ bụng tăng ví dụ như sau mổ thoát vị rốn
(omphalocele).
- Khả năng tái hấp thu nước và Na+ của ống thận kém làm giảm khả
năng cô đặc nước tiểu. Do đó trẻ sơ sinh dễ bị mất muối và nước. Bổ sung
muối là cần thiết ít nhất là trong 2 tuần đầu. Trẻ sinh đủ tháng cần bổ sung 2-3
mEq Na+/kg/ngày, trẻ sinh non có nhu cầu cao hơn, 30-35 tuần tuổi thai cần 4
mEq/kg/ngày và dưới 30 tuần tuổi thai cần 5 mEq/kg/ngày. Giữ nước và hạ
Natri máu hay gặp ở trẻ thở CPAP do tăng tiết vasopressin. Truyền dịch ưu
trương hay nhược trương đều gây ra phự nóo. Trẻ dễ thiếu dịch nhưng cũng
dễ bị quá tải dịch, quá tải dịch nặng sẽ gõy phự phổi, làm tồn tại ống động
mạch và suy tim xung huyết.
- Nồng độ protid và urờ mỏu thấp. Khả năng gắn kết của thuốc với
protein máu thấp làm cho nồng độ thuốc tự do trong huyết thanh cao.
- Chức năng thận chỉ hoàn thiện ít nhất sau 18 tháng tuổi. Nó ảnh
hưởng trực tiếp đến thải trừ thuốc do đó ảnh hưởng liều lượng cũng như
khoảng cách cho thuốc.
- Kali huyết thanh chỉ đưa ra một con số ước chừng do 98% lượng kali
của cơ thể nằm trong tế bào. Toan gây tăng kali máu và kiềm gây hạ kali máu.
Rất nhiều thuốc làm ảnh hưởng đến nồng độ kali trong máu. Trong tất cả các
trường hợp thiểu niệu, vô niệu, sốc, toan, suy thận đều không được truyền

19
1.3.10. Dạ dày ruột:
Khi sinh, pH dạ dày gần với pH của nước ối, acid yếu. Trẻ sơ sinh bình
thường không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa nuốt và trớ. Trào ngược của
dịch dạ dày là do nhu động thực quản yếu và chưa trưởng thành của cơ thắt
thanh quản thực quản. Cho tới 6 tháng tuổi thỡ cỏc phản xạ cần phải đạt được
gần như người lớn, trào ngược sau 6 tháng được coi là bệnh lý và có thể gây
tổn thương đường hô hấp.
1.3.11. Chuyển hóa đường:
- Trẻ sơ sinh có nhu cầu chuyển hóa cao, dự trữ năng lượng thấp, chức
năng gan nhưa phát triển nên dễ có nguy cơ hạ đường huyết và biểu hiện triệu
chứng ra ngoài như người lớn là không có. Dự trữ đường thấp, nhưng lại có
phản ứng tăng đường huyết trước những tác động của phẫu thuật nên truyền
dung dịch đường phải được theo dõi chặt chẽ.
- Hạ đường huyết khi dưới 45g/dl. Tăng đường huyết khi trên
125mg/dl. Tăng đường huyết thường là do thầy thuốc gây nên, nguy cơ tăng
áp lực thẩm thấu dẫn đến chảy máu não thất và lợi niệu thẩm thấu gây mất
nước và hạ Natri. Não, tim, dạ dày ruột sẽ bị tổn thương do thiếu máu khi
nồng độ đường huyết trên 200mg/kg.
1.4. Sinh lý thông khí một phổi [1, 4, 7, 10, 11, 16].
Trong phẫu thuật nội soi lồng ngực, có cô lập hay không có cô lập phổi
thì tại bên phổi phẫu thuật dưới ảnh hưởng của áp lực dương do bơm hơi vào
khoang ngoài màng phổi sẽ xảy ra hiện tượng xẹp phổi. Phản xạ tự nhiên của
hệ thống mao mạch phổi tại vùng phổi xẹp là co mạch tại chỗ gây tăng sức
cản mạch máu phổi và làm giảm dòng máu qua đó gọi là phản ứng co mạch
phổi do thiếu oxy (Hypoxic pulmonary vasoconstriction :HPV). Toàn bộ máu
20
tới những vùng phổi không được thông khí trở thành shunt trong phổi, trong
khi bình thường shunt trong phổi ở trẻ sơ sinh đã là 20%. Khi vùng phổi
không được thông khí chiếm từ 30-70%, trong tình trạng gây mê có thông khí

vì thế làm tăng sự di chuyển máu từ bên phổi lành sang bên phổi xẹp
hay làm tăng shunt ở phổi.
- Các thuốc co mạch dường như gây co mạch phổi ở vùng phổi lành vì
vậy cũng làm tăng dòng máu đến vùng phổi xẹp và làm tăng shunt
trong phổi.
- Nhược thán ức chế trực tiếp phản ứng co mạch phổi trong khi ưu thán
làm tăng phản ứng co mạch phổi.
- PEEP gây tăng sức cản của mạch phổi tại bên được thông khí vì vậy
làm tăng dòng máu lên phổi không được thông khí, làm tăng shunt
trong phổi.
22
Thuốc và một số yếu tố ảnh hưởng trên phản ứng co mạch phổi [7].
Ảnh hưởng
lên HPV
Tài liệu tham khảo.
Yếu tố bệnh nhân:
COPD
Xơ gan
Nhiễm khuẩn
Gắng sức
Tăng huyết áp
Thay đổi về sinh lý:
Toan
Kiềm
Ưu thán
Nhược thán
Sốt
Hạ thân nhiệt
Tăng áp lực nhĩ trái
Tăng PvO2

+
+
0
+
_
+
+
0
_
_
0
0
0
0
Peinado 2002
Nakos 1993
Reeves 1974
Favret 2006
Guazzi 1989
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Balanos 2003
Balanos 2003
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Marshall 1983
Marshall 1983
Bardoczky 2000
Bardoczky 2000

0
0
0
_
_
0
_
+
0
+
_
+
Nagendran 2006
Pruskowski 2007
Nagendran 2006
Nagendran 2006
Hales 1978
Parson 1981
Marin 1979
Silove 1968
Doering 1997
Leeman 1988
Bindslev 1986
Weir 1975
Pillet 1998
Các nguyên nhân chính gây thiếu oxy trong thông khí một phổi:
- Thiếu oxy nguồn.
- Thông khí tại phổi không đủ.
- Ống NKQ không đúng chỗ.
- Tăng shunt trong phổi ngay sau khi bắt đầu thông khí một phổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status