Nghiên cứu điều trị liệt thần kinh quay không hồi phục bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương pháp Smith - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Liệt thần kinh quay (TKQ) thường gặp trong lâm sàng.
Nguyên nhân thường gặp do chấn thương, đặc biệt là trong gãy
thân xương cánh tay. Tỷ lệ liệt TKQ không hồi phục chiếm từ 10%
đến 20% các trường hợp liệt TKQ. Chuyển gân được xem là
phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với liệt TKQ không hồi
phục. Có nhiều phương pháp chuyển gân được sử dụng. Việc lựa
chọn cơ làm động lực duỗi ngón còn chưa thống nhất.
Các phương pháp sử dụng cơ gấp nông ngón III và IV làm
động lực duỗi ngón có nhược điểm là quá trình tập luyện sau mổ
rất khó khăn, nhất là ở những người lớn tuổi. Hơn nữa, khi lấy đi
gân gấp nông sẽ làm yếu lực nắm của bàn tay và có nguy cơ gây
dính gân ở đầu ngoại vi. Việc chọn cơ trụ trước làm động lực duỗi
ngón có nhược điểm là làm thay đổi trục cơ năng, gây biến dạng
nghiêng quay khớp cổ tay, ảnh hưởng chức năng bàn tay. Phương
pháp chuyển gân của Smith là sử dụng cơ gan tay lớn làm động lực
duỗi ngón, cơ trụ trước được giữ lại nên bảo tồn được sự cân bằng
và trục cơ năng của cổ tay. Phương pháp này phù hợp hơn về mặt
sinh cơ học, khắc phục được một số nhược điểm của các phương
pháp trước đó.
Ở Việt Nam, một số tác giả ứng dụng phương pháp chuyển
gân của Djanelidze và của Iselin để điều trị liệt TKQ không hồi
phục và nhận thấy còn tồn tại một số nhược điểm. Chưa có tác giả
nào nghiên cứu ứng dụng phương pháp chuyển gân của Smith.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và qua tham khảo y văn, chúng
tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu điều trị liệt TKQ không hồi phục
bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương pháp Smith".
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá kết quả điều trị liệt TKQ không hồi phục bằng
phẫu thuật chuyển gân theo phương pháp Smith.

gan tay, tác dụng hổ trợ gấp cổ tay. Cơ trụ trước bám tận vào nền
2
xương bàn V, là cơ gấp cổ tay khoẻ nhất, duy trì trục cơ năng của
khớp cổ tay.
Ứng dụng: cơ sấp tròn được xem là cơ động lực phù hợp nhất
cho phục hồi duỗi cổ tay do đặc điểm giải phẫu và hướng đi của
cơ. Hơn nữa, vẫn còn cơ sấp vuông bù trừ cho động tác sấp cẳng
tay.
Một số tác giả lấy cơ trụ trước làm động lực duỗi ngón vì cơ
này rất khoẻ. Tuy nhiên, việc lấy đi cơ trụ trước sẽ làm yếu đi lực
gấp cổ tay, thay đổi trục cơ năng và gây biến dạng nghiêng quay
khớp cổ tay. Vì vậy, việc giữ lại cơ trụ trước là cần thiết và việc
chọn cơ gan tay lớn làm cơ động lực duỗi ngón là phù hợp hơn.
1.1.1.2. Khu cẳng tay sau
Cơ quay 1, cơ quay 2 và cơ trụ sau là những cơ duỗi cổ tay, có
nguyên ủy ở mỏm trên lồi cầu xương cánh tay. Cơ quay 1 bám tận
vào mặt sau nền xương bàn II, tác dụng duỗi và nghiêng quay khớp
cổ tay. Cơ quay 2 bám tận vào mặt sau nền xương bàn III, là cơ động
lực chính cho động tác duỗi cổ tay. Cơ trụ sau bám tận vào bờ trong
của nền xương bàn V, tác dụng duỗi cổ tay và nghiêng trụ.
Ứng dụng: Trong liệt TKQ cao, các cơ duỗi cổ tay bị liệt. Cơ
sấp tròn được chọn làm động lực duỗi cổ tay. Trước đây, cơ sấp
tròn được chuyển cho cả cơ quay 1 và quay 2. Điều này làm tăng
thêm biến dạng nghiêng quay của cổ tay. Hiện nay, cơ sấp tròn
được chuyển cho cơ quay 2 để khắc phục biến dạng nghiêng quay
khớp cổ tay.
1.1.2. Đặc điểm sinh cơ học các cơ
1.1.2.1. Sức cơ và độ dài co cơ
Sức cơ và độ dài co cơ là những chỉ tiêu đánh giá khả năng co
cơ của một cơ. Sức cơ là lực tạo ra khi cơ co và tỷ lệ thuận với

Theo Brand P. W., Green D. P., Tsuge K…, phương pháp này
có ưu điểm là cơ gấp nông có độ dài co cơ lớn nên đạt được biên
độ duỗi tối đa các ngón. Nhược điểm là khó khăn trong tập luyện
sau mổ vì không phải là cơ đồng pha. Việc lấy đi gân gấp nông sẽ
làm giảm lực nắm của bàn tay và có nguy cơ dính gân gấp.
1.2.2. Các phương pháp sử dụng cơ trụ trước làm động lực
Đại diện cho nhóm này là các tác giả như: Riordan D. C.,
Skoll P. J., Green D. P. Nội dung là chuyển cơ sấp tròn cho cơ
quay 2, cơ trụ trước cho cơ duỗi chung, cơ gan tay bé cho cơ duỗi
dài ngón I.
4
Năm 1980, Tsuge K. tổng kết 25 BN được chuyển gân theo
phương pháp này và thấy rằng kết quả phục hồi biên độ các khớp
đạt được khá thỏa đáng. Phương pháp này có ưu điểm là cơ trụ
trước có sức cơ khoẻ nên dễ phục hồi, kết quả đáng tin cậy và là cơ
hoạt động hiệp đồng với các cơ duỗi ngón nên thuận lợi cho quá
trình luyện tập sau mổ. Nhược điểm là độ dài co cơ của cơ trụ
trước ngắn nên không thể duỗi hết biên độ các ngón đồng thời khi
duỗi khớp cổ tay. Việc lấy đi cơ trụ trước làm yếu lực gấp cổ tay,
thay đổi trục cơ năng và tăng thêm biến dạng nghiêng quay khớp
cổ tay. Hơn nữa, do không phục hồi động lực giạng ngón I nên
động tác giạng ngón I bị hạn chế.
1.2.3. Các phương pháp sử dụng cơ gan tay lớn làm động lực
Các tác giả như Skoll P. J., Brand P. W., Tsuge K. thực hiện
chuyển cơ sấp tròn cho cơ quay 2; cơ gan tay lớn qua màng liên cốt
cho cơ duỗi chung; cơ gan tay bé cho cơ duỗi dài ngón I.
Tsuge K. đã ứng dụng phương pháp này này điều trị cho 27
BN liệt TKQ. Kết quả đạt được sự phục hồi biên độ vận động các
khớp rất tốt, hạn chế được biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay.
Tác giả thấy rằng chuyển cơ gan tay lớn qua màng liên cốt có ưu

TKQ cao do vết thương hỏa khí bằng chuyển gân theo phương
pháp Djanelidze và phương pháp Iselin. Theo Starr C. L., Zachary
R. B. và Smith R. J., việc sử dụng cả hai cơ gấp cổ tay là cơ trụ
trước và cơ gan tay lớn làm động lực cho các cơ duỗi theo
Djanelidze sẽ gây mất cân bằng ở khớp cổ tay. Dần dần, khớp cổ
tay trở nên quá duỗi làm cho khớp bàn ngón không duỗi được thỏa
đáng, ảnh hưởng đến chức năng của bàn tay. Hơn nữa, vì các cơ
động lực này vừa làm nhiệm vụ duỗi ngón vừa đồng thời hỗ trợ
duỗi cổ tay nên khớp cổ tay không thể duỗi độc lập, khi các ngón
gấp thì cổ tay cũng thụ động gấp theo. Phương pháp Iselin thì sử
dụng cơ trụ trước làm động lực duỗi ngón nên có những nhược
điểm đã được phân tích ở phần trên.
Đến năm 2005, Hoàng Vĩnh Phúc báo cáo kết quả chuyển gân
theo phương pháp Iselin (phương pháp mà Đỗ Lợi đã ứng dụng
trước đó) điều trị cho 15 trường hợp di chứng liệt TKQ cao. Kết quả
phục hồi chức năng vận động đạt được khá tốt. Tuy nhiên, tác giả
cũng thấy rằng, phương pháp này có nhược điểm là động tác duỗi và
giạng ngón I hạn chế cả về biên độ lẫn sức co cơ, tất cả các BN đều
có biến dạng nghiêng quay cổ tay với các mức độ khác nhau.
Tóm lại, phương pháp chuyển gân của Smith, với những cải
biên kỹ thuật như chuyển gân cơ gan tay lớn qua màng liên cốt cho
cơ duỗi chung và kỹ thuật treo gân cơ giạng dài ngón I vào gân cơ
6
ngửa dài là phù hợp về mặt sinh cơ học, làm tăng thêm hiệu quả
phục hồi chức năng bàn tay. Ở nước ta hiện nay, vấn đề này vẫn
chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chính vì vậy, đây là lý do để tiến
hành nghiên cứu đề tài này.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- 72 BN bị tổn thương TKQ không hồi phục. Trong đó, có 22

* Rất tốt:
. Các ngón duỗi hết biên độ khi cổ tay duỗi 10
0
trở lên.
. Các ngón gấp hết biên độ khi cổ tay gấp 10
0
trở lên.
. Ngón I duỗi và giạng hết biên độ.
. Không có biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay.
. Phục hồi lực nắm đạt từ 60% trở lên.
. BN theo được nghề cũ.
. BN rất hài lòng với kết quả phẫu thuật.
* Tốt:
. Các ngón gấp và duỗi hết biên độ khi cổ tay ở tư thế 0
0
.
. Ngón I duỗi và giạng hết biên độ.
. Nghiêng quay khớp cổ tay dưới 10
0
.
. Phục hồi lực nắm đạt từ 50% - 60%.
. BN theo được nghề cũ.
. BN hài lòng với kết quả phẫu thuật.
* Trung bình:
. Các ngón duỗi hết biên độ khi cổ tay gấp 20
0
.
. Các ngón gấp hết khi cổ tay duỗi 20
0
.

Chỉ có 2 trường hợp (5,6%) được xử trí tổn thương TKQ cùng
với xử trí vết thương hoặc ổ gãy xương. Tất cả những trường hợp
còn lại, tổn thương TK đều bị bỏ sót.
- Xử trí kỳ đầu trong liệt thấp
Bảng 3.2: Xử trí kỳ đầu trong liệt thấp (n=36)
Xử trí kỳ đầu Số lượng Tỷ lệ
Cắt lọc, khâu vết thương đơn thuần 25 69,5%
Kết hợp xương đơn thuần 3 8,3%
Cắt lọc vết thương và xử trí TK 4 11,1%
Nắn chỉnh, bó bột 3 8,3%
Điều trị nội khoa 1 2,8%
Cộng 36 100%
9
Chỉ có 4 BN (11,1%) được xử trí tổn thương TKQ kỳ đầu
cùng với xử trí vết thương.
3.3. Thời điểm tiến hành phẫu thuật chuyển gân
- Trong liệt cao
Bảng 3.3: Thời điểm phẫu thuật trong liệt cao (n=36)
Thời điểm phẫu thuật Số lượng Tỷ lệ
Từ 6 tháng đến 1 năm 19 52,8%
Sau 1 năm 17 47,2%
Cộng 36 100%
Tất cả các BN được phẫu thuật chuyển gân ở thời điểm sau 6
tháng từ khi tổn thương. Trong đó, thời điểm từ trước 1 năm là 19/36
trường hợp (52,8%) và sau 1 năm là 17/36 trường hợp (47,2%).
- Trong liệt thấp
Bảng 3.4: Thời điểm phẫu thuật trong liệt thấp (n=36)
Thời điểm phẫu thuật Số lượng Tỷ lệ
Từ 3 tháng đến 1 năm 29 80,6%
Sau 1 năm 7 19,4%

0
- 50
0
19 20 39 63,9%
> 50
0
5 7 12 19,7%
Cộng 31 30 61 100%
Trung bình
X
= 29,7
0
SD= 13,9
X
=
32,2
0
SD= 13
X
= 31,4
0
SD= 13,6
Khi khớp bàn ngón gấp, có 51/61 trường hợp (chiếm 83,6%)
có khả năng gấp chủ động khớp cổ tay từ 30
0
trở lên. Trong đó, có
12/61 BN có thể gấp cổ tay trên 50
0
. Biên độ gấp cổ tay trung bình
khi khớp bàn ngón gấp là 31,4

= 33,2
0
SD= 19,5
X
= 30,6
0
SD= 17,6
11
Có 56/61 trường hợp (chiếm 91,8%) có khả năng duỗi cổ tay
trên 10
0
khi khớp bàn ngón duỗi. Trong đó, có 34 BN (chiếm
55,7%) có khả năng duỗi cổ tay từ 30
0
trở lên. Biên độ duỗi cổ tay
trung bình khi duỗi khớp bàn ngón là 30,6
0
.
3.4.2.2. Biên độ vận động chủ động khớp bàn ngón
Bảng 3.7: Biên độ gấp khớp bàn ngón (n=61)
Biên độ
gấp
Liệt cao Liệt thấp Tổng hợp Tỷ lệ
Đến 70
0
1 0 1 1,6%
71
0
đến 80
0

Liệt cao Liệt thấp Tổng hợp Tỷ lệ
Dưới 10
0
2 0 2 3,3%
Đạt 10
0
29 30 59 96,7%
Cộng 31 30 61 100%
Trung bình
X
= 9,4
0
SD= 2,5
X
= 10
0
SD= 0
X
= 9,7
0
SD= 2
Có 59/61 BN (chiếm 96,7%) duỗi chủ động khớp bàn ngón
10
0
. Biên độ duỗi trung bình đạt được là 9,7
0
.
3.4.2.3. Biên độ vận động chủ động ngón I
12
- Tất cả các BN có khả năng gấp, duỗi ngón I hết hoặc gần hết

SD= 8,4
Có 59/61 BN (chiếm 96,7%) đạt được biên độ giạng ngón I
trên 50
0
. Trong đó có 15/61 BN giạng ngón I trên 60
0
. Biên độ
giạng ngón I trung bình là 58,6
0
.
3.4.2.4. Lực nắm bàn tay:
So sánh lực nắm giữa tay tổn thương và tay lành.
Bảng 3.10: Lực nắm so với bên lành (n=61)
Lực nắm Liệt cao Liệt thấp Tổng hợp Tỷ lệ
< 60% 5 2 7 11,5%
60% - 80% 22 24 46 75,4%
> 80% 4 4 8 13,1%
Cộng 31 30 61 100%
Trung bình
X
= 68,2%
SD= 13,2
X
= 71,7%
SD= 9,5
X
= 70%
SD= 11,7
Có 54/61 trường hợp (chiếm 88,5%) lực nắm đạt được trên
60% so với bên tay lành. Trong đó, có 8 BN (chiếm 13,1%) đạt

Bảng 3.13: Kết quả tổng hợp (n=61)
Kết quả Số lượng Tỷ lệ
Rất tốt 49 80,3%
Tốt 11 18,1%
Vừa 1 1,6%
Xấu 0 0%
Cộng 61 100%
14
Có 60/61 trường hợp (chiếm 98,4%) đạt kết quả rất tốt và tốt.
Chỉ có 1 trường hợp có kết quả vừa. Không có kết quả kém.
3.4.2.9. Liên quan giữa thời điểm phẫu thụât và kết quả
Bảng 3.14: Liên quan giữa thời điểm phẫu thụât và kết quả (n=61)
Kết quả
Thời điểm
Rất tốt Tốt Vừa Xấu Cộng
Trước 12 tháng 35 6 0 0 41
Sau 12 tháng 14 5 1 0 20
Cộng
(tỷ lệ%)
49
(80,3%)
11
(18,1%)
1
(1,6%)
0 61
(100%)
Phẫu thuật trong vòng 1 năm sau tổn thương cho kết quả tốt
hơn sau 1 năm. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
3.4.2.10. Liên quan giữa quá trình luyện tập và kết quả

cao. Theo chúng tôi, đối với tổn thương TKQ cao, việc khâu nối
phục hồi TK là bắt buộc. Trong liệt thấp, thái độ xử trí phải căn cứ
vào vị trí, mức độ, thời gian sau tổn thương TK. Với tổn thương
mới, sắc gọn, ở đoạn TK chưa chia nhánh vào các cơ thì nên tiến
hành khâu nối TK vì sẽ đạt kết quả phục hồi tốt. Ngược lại, đối với
các tổn thương cũ không được khâu nối, kèm theo tổn thương lớn
khối cơ duỗi, hoặc tổn thương TK ở đoạn sau khi đã phân nhánh
cho các cơ thì việc tìm kiếm để khâu nối TK là khó thực hiện và
chỉ định chuyển gân nên được đặt ra.
4.2. Về thời điểm tiến hành phẫu thuật chuyển gân
Theo Brown P.W., khi tiên lượng phục hồi TK là kém hoặc
không thể phục hồi như mất đoạn TK quá dài, KHPM lớn hoặc sẹo
dính ngay trên đoạn TK tổn thương thì nên tiến hành chuyển gân
ngay mà không cần chờ đợi sự hồi phục TK. Trường hợp TK được
khâu nối thì phải chờ cho đến khi chắc chắn không có sự hồi phục
TK thì mới tiến hành chuyển gân.
Theo Đỗ Lợi, chuyển gân quá sớm hoặc quá muộn đều bất lợi
cho sự phục hồi chức năng sau mổ. Cũng theo tác giả, đối với
những trường hợp tiên lượng không thể nối, ghép TK hoặc nối,
ghép TK khó có khả năng hồi phục thì nên chuyển gân ngay sau
khi VTPM liền sẹo. Với những trường hợp đã nối, ghép hoặc gỡ
dính TK thì thời gian theo dõi và chờ TK phục hồi là 6 tháng. Sau
thời gian này, nếu không có dấu hiệu phục hồi thì nên tiến hành
chuyển gân. Nguyễn Đức Phúc cũng thống nhất rằng, đối với liệt
16
TKQ quá 6 tháng mà không có dấu hiệu hồi phục thì có chỉ định
chuyển gân.
Đối với tổn thương TKQ cao mà không được xử trí TK kỳ đầu,
nếu đến trước 6 tháng thì nên mở kiểm tra và xử trí TK, nếu đến sau
6 tháng mà không có dấu hiệu phục hồi thì có chỉ định chuyển gân.

trước là khó chấp nhận, nhất là trong liệt thấp vì khi đó các cơ duỗi
cổ tay còn chức năng nên sẽ làm biến dạng nghiêng quay trầm
trọng thêm. Chuinard R. G. và Boyes J. H., sử dụng cơ gấp nông
ngón III và IV chuyển qua màng liên cốt để phục hồi duỗi các
ngón. Ưu điểm của phương pháp này là độ dài co cơ của cơ gấp
nông lớn hơn độ dài co cơ của cơ duỗi ngón nên có khả năng duỗi
hết biên độ các ngón. Phương pháp này có nhược điểm là cơ gấp
nông không phải là cơ hoạt động hiệp đồng với các cơ duỗi ngón
nên sẽ gặp khó khăn trong tập luyện phục hồi vận động, nhất là ở
người lớn tuổi. Ngón I không duỗi độc lập được đối với các ngón
khác. Hơn nữa, khi lấy đi cơ gấp nông thì lực nắm của bàn tay sẽ bị
suy giảm đi. Vì vậy, xét về đặc điểm cấu trúc giải phẫu và sinh cơ
học thì cơ gan tay lớn là cơ động lực phù hợp nhất để phục hồi
duỗi các ngón. Do đó, Brand P. W., Tsuge K., Smith R. J., đã chủ
trương sử dụng cơ gan tay lớn để phục hồi duỗi các ngón .
Trong nghiên cứu này, cơ gan tay lớn được lựa chọn làm cơ
động lực để duỗi ngón. Kết quả có hơn 90% số BN có khả năng
duỗi tối đa các ngón khi khớp cổ tay duỗi trên 10
0
. Không có
trường hợp nào có biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay do phẫu
thuật chuyển gân gây ra làm ảnh hưởng chức năng của bàn tay.
4.3.3. Phục hồi vận động ngón I
Vai trò của cơ gan tay bé trong chuyển gân điều trị liệt TKQ
không hồi phục được đề cập đầu tiên bởi Starr C. L. và hiện nay
được xem là cơ động lực phù hợp nhất phục hồi vận động ngón I.
Smith R. J., Brand P. W. và Hollister A. nhấn mạnh tầm quan
trọng của động tác giạng ngón I do cơ giạng dài chi phối. Cơ giạng
dài có vai trò quan trọng tạo gọng kìm vững chắc cho ngón I khi
thực hiện động tác cầm bấm và giữ cho ngón I không bị biến dạng

so với nhóm những BN luyện tập không thường xuyên.
4.4.2. Điều chỉnh sức căng các mối nối gân
Trước đây, một số tác giả chủ trương để sức căng tối đa khi
khâu nối nhằm đạt được biên độ duỗi tối đa các khớp. Tuy nhiên,
19
biên độ gấp sẽ bị hạn chế và ảnh hưởng chức năng của bàn tay.
Ngược lại, nếu khâu nối không đủ độ căng cần thiết, cơ sẽ không
thể vận động khớp đến biên độ mong muốn. Trong thực tế, không
thể đạt được mức độ khớp cổ tay và các ngón cùng đồng thời gấp
hết biên độ và cùng đồng thời duỗi hết biên độ. Các mối nối gân
được điều chỉnh độ căng cà khâu lần lượt. Khâu gân cơ sấp tròn
trong tư thế cổ tay duỗi tối đa, mối nối căng vừa phải. Sau khi khâu
một mối chỉ cố định, kiểm tra dưới tác dụng của trọng lực, nếu
khớp cổ tay được giữ ở tư thế duỗi từ 30
0
đến 40
0
là đạt yêu cầu.
Sau đó tiếp tục khâu các mối bổ sung. Khâu gân cơ gan tay lớn
trong tư thế khớp cổ tay và các ngón duỗi tối đa, mối nối gân căng
vừa phải. Kiểm tra dưới trọng lực, nếu cổ tay ở tư thế duỗi từ 30
0
đến 40
0
và khớp bàn ngón gấp nhẹ là được. Treo gân cơ giạng dài
ngón I vào gân cơ ngửa dài trong tư thế xương bàn I giạng tối đa.
Khâu gân cơ gan tay bé với gân các cơ duỗi ngón I trong tư thế
duỗi hết các khớp ngón I.
4.4.3. Đường đi của gân cơ động lực
Trong phẫu thuật chuyển gân, đường đi của gân cơ động lực là

được hiện tượng "dây cung".
4.5. Về kết quả phẫu thuật
Khớp cổ tay gấp 31,4
0
khi khớp bàn ngón gấp và duỗi 30,6
0
khi khớp bàn ngón duỗi. Khớp bàn ngón gấp 89
0
và duỗi 9,7
0
khi
cổ tay ở tư thế trung bình. Ngón I gấp, duỗi hết biên độ, giạng
58,6
0
. Lực nắm đạt 70% so với bên lành. Phẫu thuật không gây
nghiêng quay khớp cổ tay. Có 60/61 BN thỏa mãn với kết quả phẫu
thuật và có thể trở lại nghề cũ. Kết quả tổng hợp, có 60/61 BN
(98,4%) được xếp loại rất tốt và tốt, 1 BN đạt trung bình (1,6%).
Trong kết quả nghiên cứu này, phục hồi biên độ gấp, duỗi
khớp cổ tay và các ngón đều lớn hơn kết quả trong nghiên cứu của
Ropars M., Tsuge K. và tương đương kết quả của Ishida O. và
Ikuta Y. Tuy nhiên, những khác biệt này không có ý nghĩa nhiều
trong thực tế đánh giá sự hồi phục chức năng của bàn tay, vì theo
Kruft S., với biên độ gấp 20
0
và duỗi 20
0
của khớp cổ tay là đủ để
bàn tay thực hiện được chức năng bình thường trong mọi hoạt động
hàng ngày.

chỉ định cho BN luyện tập một thời gian trước khi tiến hành
chuyển gân sẽ hợp lý hơn. Nguyên nhân thứ hai là tiến hành
chuyển gân trên BN có ổ khớp giả. Về nguyên tắc thì chống chỉ
định chuyển gân trên BN khớp giả. Tuy nhiên, trong trường hợp
này, vì BN chấp nhận khớp giả, không muốn can thiệp điều trị
khớp giả nữa và yêu cầu được chuyển gân để phục hồi chức năng
bàn tay nên chỉ định được cân nhắc. Một nguyên nhân nữa cũng
không kém phần quan trọng, là sự hợp tác của BN trong quá trình
điều trị. Đây là một BN lớn tuổi, đã qua nhiều lần phẫu thuật
nhưng không mang lại kết quả như mong muốn nên thiếu tin tưởng
vào kết quả, không còn kiên trì, chịu khó trong tập luyện. Thậm
chí, phó mặc cho diễn biến tự nhiên sau phẫu thuật.
22
KẾT LUẬN
1. Kết quả phẫu thuật
Phẫu thuật chuyển gân điều trị liệt thần kinh quay không hồi
phục theo phương pháp của Smith R. J. là một lựa chọn phù hợp
về mặt sinh cơ học, mang lại kết quả phục hồi tốt cả về chức
năng và thẩm mỹ của bàn tay. Kết quả phục hồi chức năng
chung: Có 49/ 61 BN (80,3%) đạt kết quả rất tốt, 11/ 61 BN
(18,1%) đạt kết quả tốt, 1 BN đạt kết quả trung bình, không có
kết quả kém.
- Biên độ vận động khớp cổ tay và các ngón được phục hồi
thỏa đáng. Biên độ gấp cổ tay trung bình 47,8
0
khi duỗi ngón và
31,4
0
khi gấp ngón. Biên độ duỗi cổ tay trung bình 39,4
0

bảo đảm sự phục hồi hài hoà giữa biên độ gấp và duỗi các khớp.
23
- Quy trình luyện tập sau mổ, kết hợp giữa vận động chủ động
và thụ động với mức độ tăng dần, nhằm hạn chế sự viêm dính gân
sau mổ và giúp đạt được kết quả phục hồi chức năng cao nhât.
- Kỹ thuật tạo đường hầm dưới da một đoạn sâu trong tổ chức
xơ sợi ở nền xương bàn I cho gân cơ duỗi dài và duỗi ngắn ngón I
đi qua đã khắc phục được hiện tượng dây cung và làm tăng hiệu
quả duỗi và giạng ngón I, nâng cao kết quả phục hồi chức năng sau
phẫu thuật.
24
24,1,22,3,20,5,18,7,16,9,14,11
2,23,4,21,6,19,8,17,10,15,12,13
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status