1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉ lệ lệch lạc răng và hàm ở Việt Nam rất cao, chiếm 96,1% [30]
khi điều tra ở Hà Nội. Ở thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ sai khớp cắn ở
người trong độ tuổi 17-27 chiếm 83,2% dân số, trong đó sai khớp cắn
loại II chiếm 7%, sai khớp cắn loại III chiếm 21,7% [25]. Trên thế giới
sai khớp cắn loại III xương chiếm tỷ lệ đáng kể, tuy nhiên tỷ lệ này ở
châu Á cao hơn châu Âu và châu Mỹ.
Sự phát triển không hài hòa phức hợp xương-răng biểu hiện rất phức
tạp, bao gồm cả sự phát triển quá sản và thiểu sản theo các chiều ở cả hai
hàm, nhất là ở hàm trên. Những biến dạng phức hợp này ảnh hưởng
nhiều đến thẩm mỹ và chức năng, đặc biệt nó làm thay đổi cấu trúc của
các tầng mặt.
Việc điều trị các biến dạng lệch lạc hàm mặt gặp rất nhiều khó khăn,
không thể đơn phương giải quyết tất cả các vấn đề hàm mặt [18]. Khi
trẻ còn nhỏ có thể điều trị bằng chỉnh nha với các loại khí cụ trong và
ngoài miệng. Ở tuổi trưởng thành, những biến dạng ấy cần được chỉnh
sửa bằng phẫu thuật, nhằm tái lập mối tương quan hài hòa giữa hàm trên
và hàm dưới, để đảm bảo chức năng và thẩm mỹ [13].
Ngày nay, với những hiểu biết đầy đủ hơn về sự tăng trưởng và phát triển
xương hàm mặt, với trang thiết bị cải tiến hơn trong chẩn đoán và điều trị,
hướng điều trị đã thay đổi nhiều. Nhưng số bệnh nhân (BN) đến tuổi trưởng
thành cần điều trị phẫu thuật cũng còn chiếm một tỷ lệ cao.
Ở Việt Nam những năm gần đây một số cơ sở đã tiến hành điều trị
phẫu thuật các biến dạng xương hàm mặt. Nhưng theo những tài liệu
2
tham khảo được, chưa thấy có tài liệu nào nghiên cứu một cách hệ thống
các hình thái biến dạng xương hàm mặt được điều trị phẫu thuật . Tại
Bệnh Viện RHM Thành Phố Hồ Chí Minh chúng tôi bước đầu triển khai
kỹ thuật này từ năm 2007 tới nay. Chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu
xốp, có nhiều mạch máu nuôi dưỡng nên khi gẫy XHT gây chảy máu
nhiều nhưng lại nhanh liền. XHT chỉ có các cơ bám da mặt, cơ chân
bướm trong bám ở hố chân bướm hàm và bám một phần vào lồi củ XHT.
1.1.1.1. Thân XHT gồm bốn mặt
- Mặt ổ mắt: mặt này có ống dưới ổ mắt để thần kinh hàm trên đi qua.
Ở phía trên mặt này phẳng, có rãnh dưới ổ mắt, rãnh này thông với ống
dưới ổ mắt.
- Mặt mũi: có rãnh lệ đi từ mắt xuống mũi, phía trước gần ngang với
rãnh lệ có mào xoăn trên, phía sau rãnh lệ có lỗ xoang hàm thông với
xoang hàm trên. Mặt này có một diện xương gồ ghề tiếp khớp với xương
khẩu cái, ở giữa chỗ gồ ghề có một rãnh chạy từ trên xuống gọi là rãnh
khẩu cái lớn.
- Mặt trước: có lỗ dưới ổ mắt, là phần tận cùng của ống dưới ổ mắt, ở
đó có dây thần kinh dưới ổ mắt chui ra. Ngang với mức răng nanh có hố
nanh, ở giữa là khuyết mũi, dưới khuyết mũi là gai mũi trước.
- Mặt dưới thái dương: ở phía sau gọi là lồi củ XHT có 4- 5 lỗ để cho
thần kinh huyệt răng sau đi qua, đó là lổ huyệt răng ở, phiá dưới mặt này
có các ống huyệt răng.
1.1.1.2. Các mỏm
Mỏm trán: Chạy thẳng lên trên để tiếp khớp với xương trán, phía
sau ngoài mỏm trán có mào lệ trước, phía trên có khuyết lệ, mặt trong
mỏm trán có mào sàng.
5
Mỏm huyệt răng: Có những huyệt răng xếp thành hình cung gọi là
cung huyệt răng. Phía trước mỏm khẩu cái có lổ răng cửa.
Mỏm khẩu cái: ở phía dưới mặt mũi, mỏm khẩu cái nối tiếp 2 bên
qua đường giữa để tạo thành vòm miệng. Trước mỏm khẩu cái có ống
răng cửa để động mạch khẩu cái trước và thần kinh bướm khẩu cái đi
qua. Mỏm khẩu cái chia mặt mũi của XHT thành hai phần: phần ở trên là
nền mũi, phần ở dưới là vòm miệng. Phía trên sau gai mũi là mào mũi.
1.1.2.2. Các cơ hàm
Cơ hàm là những cơ có nguyên ủy hoặc bám tận ở XHD và góp phần
vào vận động của hàm dưới như: nâng hàm, hạ hàm, đưa hàm tới trước,
đưa đưa hàm lùi sau, đưa hàm sang bên.
- Các cơ nâng hàm gồm: hai cơ cắn nâng hàm lên, tạo lực cắn. Hai cơ
chân bướm trong đưa hàm sang bên. Hai cơ thái dương: phần trước như
1 cơ nâng, phần sau tác động như 1 cơ lùi sau khi 1 bên co [7].
- Các cơ hạ hàm: Các cơ tác động trong động tác há, gồm: hai cơ chân
bướm ngoài, hai cơ nhị thân, các cơ trên móng khác.
- Động tác đưa hàm tới trước: cơ chân bướm ngoài bám vào hố cơ
chân bướm ngoài ở cổ lồi cầu. Hướng của cơ gần thẳng góc với trục lồi
cầu nên có tác dụng cùng một lúc đưa lồi cầu xuống dưới và ra trước. Bó
trên của cơ này còn tách ra bám vào bao khớp và đĩa khớp, có tác dụng
cố định đĩa khớp khi hàm ở vị trí ra trước hoặc sang bên.
7
- Động tác đưa hàm lùi sau: phần sau cơ thái dương có tác dụng như
một cơ lui sau. Tác động đồng thời hai bên của các cơ thái dương sau
làm hàm dưới lùi về sau.
- Động tác đưa hàm sang hai bên: Vận động sang bên của hàm dưới
được thực hiện bởi tổ hợp của các cơ nâng và cơ đưa ra sau của bên làm
việc, các cơ đưa ra trước của bên đối diện (bên không làm việc) [7].
1.1.2.3. Mạch máu và thần kinh
Động mạch: XHD được cấp máu bởi các nhánh của động mạch dưới
hàm, động mạch cơ cắn, động mạch cơ chân bướm, động mạch huyệt
răng, động mạch cằm.
Thần kinh: XHD được chi phối chủ yếu bởi nhánh V3 của dây thần
kinh V: thần kinh răng dưới, thần kinh lưỡi.
1.1.3. Khớp thái dương hàm
1.1.3.1. Giải phẫu chức năng khớp thái dương hàm
Theo Dỗ Xuân Hợp [6], khớp thái dương hàm là khớp giữa chỏm lồi
1.2. NGUYÊN NHÂN CÁC BIẾN DẠNG HÀM MẶT
Các yếu tố bệnh căn của dị tật răng-mặt có thể được chia thành ba
nhóm chính:
- Nguyên nhân đặc biệt.
- Yếu tố di truyền.
- Ảnh hưởng của môi trường.
9
1.2.1. Các nguyên nhân đặc biệt : Gồm hai nhóm:
1.2.1.1. Nguyên nhân của các hội chứng ở mặt và dị tật bẩm sinh
Các hội chứng ở mặt và các dị tật bẩm sinh có nhiều nguyên nhân
khác nhau [26], nhưng người ta xác định nguyên nhân chính gây nên các
hội chứng và dị tật này thường là:
Hội chứng ở mặt do nhiễm độc rượu bào thai:
Phơi nhiễm với nồng độ cao ethanol ở giai đoạn sớm của sự phát triển
thai gây ra hội chứng nhiễm độc rượu bào thai (FAS = fatal alcohol
syndrome), mà giờ đây được công nhận là một trong các dị tật toàn bộ
não trước. Khuôn mặt bị FAS có đặc điểm kém phát triển xương hàm
trên và tầng giữa mặt [53].
Thiếu mô ở đường giữa của máng thần kinh trong quá trình phát triển
phôi gây ra các dị dạng được gọi chung là dị tật toàn bộ não trước. Đặc
điểm của nó là ba não thất đầu tiên của não không tách rời ra được. Tấm
khứu giác phôi, xuất phát một phần từ máng thần kinh trước quá gần
nhau, gây ra sự phát triển khiếm khuyết của các nụ mũi trong. Kết quả là
một loạt những biến dạng mặt, từ sự biểu hiện thiếu hoàn toàn mũi và
các cấu trúc lân cận cho đến tầng giữa mặt kém phát triển.
Các hội chứng mặt do sự phát sinh và di chuyển của mào thần kinh:
Thảm họa quái thai vào những năm 1970 do sử dụng thalidomide
trong điều trị một số dạng trầm cảm, và retinoic acid là thuốc điều trị
cho chứng nổi mụn trầm trọng đã gây ra nhiều vấn đề. Người ta nhận ra
sự nguy hiểm của hai thứ thuốc này trong thời kỳ phôi thai. Chính chúng
Cơ chế bình thường cho sự tăng trưởng ra trước của tầng mặt giữa là
sự dài ra của nền sọ trước, sự dài ra của nền sọ trước được gây ra bởi sự
tăng sinh sụn tại các khớp sụn bướm-chẩm, khớp sụn liên bướm, và khớp
sụn bướm-sàng. Trong chứng vô sản sụn, sự tăng trưởng bị giảm tại
những khớp sụn, cũng như tại các phiến đầu xương dài. Kết quả là
những cánh tay, chân ngắn và sự kém tăng trưởng tầng giữa mặt điển
hình là tại cầu mũi. Nền sọ trước có chiều dài xấp xỉ bình thường nhưng
nền sọ sau thì rất ngắn; nghĩa là khớp sụn bướm-chẩm bị ảnh hưởng
nhiều hơn là khớp sụn bướm-sàng [45].
Các hội chứng dính liền sớm khớp sọ:
Các xương dẹt của vòm sọ phát triển từ sự cô đặc của trung mô bên
trên não. Chúng tăng trưởng nguyên phát bằng cách đắp xương tại các
bờ, về sau các bờ này trở thành các đường khớp sọ, và tăng trưởng thứ
phát bằng cách tái cấu trúc bề mặt. Cũng giống như những xương được
tạo từ màng khác ở đầu, trong đó có xương hàm trên, sự tách ra liên tục
tại các đường khớp tạo điều kiện cho quá trình tăng trưởng.
Hòa nhập sớm của đường khớp sọ-mặt trước khi hoàn tất sự tăng
trưởng của các cấu trúc nằm bên dưới, được gọi là chứng dính liền sớm
khớp sọ. Điều này có thể tạo ra những dị tật ở đầu, nếu không ảnh hưởng
đến các đường khớp dọc giữa và đường khớp sau thì cũng ảnh hưởng đến
xương mặt. Ví dụ: trong chứng sọ hình thuyền, sọ dài và hẹp do kết quả
của sự đóng sớm đường khớp dọc giữa, nhưng mặt thì phần lớn không bị
ảnh hưởng. Sự hòa nhập một bên dọc theo đường khớp vành tạo ra dị tật
mặt và bất đối xứng sọ .
12
Hòa nhập đường khớp dẫn đến dị dạng nền sọ, theo quan điểm của
Virchow hay là sự biến dạng nền sọ nguyên phát sẽ tạo ra sự hòa nhập
sớm của nền sọ sau đó, như Moss đề nghị trong những năm 1970.
Giải phóng sớm các đường khớp sọ dính mang lại kết quả tốt, chứng
tỏ sự hòa nhập sớm đường khớp là nguyên nhân chính trong tật sọ
Robin, một số trẻ sau sinh đã có sự phát triển hàm dưới xuống dưới và ra
trước một cách bình thường, dù lúc sinh ra thì rất trầm trọng [97].
Chấn thương xương hàm dưới khi sinh
Trong một số trường hợp sinh khó, việc sử dụng kẹp có thể làm tổn
hại một hoặc cả hai khớp thái dương-hàm trước sổ thai. Áp lực mạnh vào
khớp có thể gây ra xuất huyết nội khớp, mất mô và sau đó là kém phát
triển, điều này hiếm khi gây ra kém tăng trưởng xương hàm dưới vì 2 lý
do. Thứ nhất: hiện nay kẹp ít được dùng hơn, nhưng tỷ lệ của chứng kém
tăng trưởng xương hàm dưới không thay đổi. Thứ hai: sự sửa chữa và tái
sinh khớp thái dương-hàm đã bị hư hại là điều thường xuyên xảy ra, vì
thế nếu có chấn thương vào khớp thì sự hồi phục không gây ra khiếm
khuyết tăng trưởng là điều có thể xảy ra.
1.2.1.2. Các rối loạn tăng trưởng sau khi sinh
Những nguyên tắc chung:
Xương hàm trên bình thường tăng trưởng xuống dưới và ra trước do
nền sọ dài ra đẩy vào XHT. Xương hàm dưới bị kéo ra trước bởi mô
mềm gắn vào XHD. Ở một đứa trẻ, chấn thương vào mặt và hàm làm ảnh
hưởng đến sự kéo ra trước, hoặc làm giảm cường độ hoặc tạo ra các
14
vùng sẹo để ức chế, cản trở sự dịch chuyển của các xương sọ và mặt, vốn
đang tăng trưởng bình thường.
Chấn thương hàm trên
Nguồn gốc góp phần vào sự tăng trưởng xương hàm trên kéo ra trước
là sự tăng sinh của sụn vách mũi.
Ở động vật thử nghiệm, sau khi sụn vách mũi bị lấy đi, tầng mặt giữa
sẽ giảm tăng trưởng ra trước rất nhiều. Đối với một số nhà nghiên cứu
(trích dẩn theo [117]), điều này biểu thị tiềm năng tăng trưởng nội tại
của sụn mũi cho sự tăng trưởng ra trước. Một số tác giả khác cho rằng,
tác động này đơn giản là do kết quả sự sụp xuống của những động vật có
mõm dài, mà sẽ không tương đồng cụ thể với loài linh trưởng và con
hình thành trên diện khớp về căn bản giống hệt sụn nguyên thủy. Một số
năm sau, có hai báo cáo về tác động của gẫy sớm lồi cầu ở người, cả hai
đều dựa trên dữ liệu của Scandinavian [51],[81]. Hai nghiên cứu này cho
thấy rằng ở người cũng như ở động vật, một lồi cầu đã bị mất có tiềm
năng tái sinh mà không gây ra tác động có hại nào cho sự tăng trưởng.
Tuy nhiên, sự tái sinh hoàn hảo không được quan sát trên mẫu nghiên
cứu ở người. Thay vào đó, khoảng 25% số bệnh nhân đã có hiện tượng
tăng trưởng sau khi gẫy lồi cầu.
Nếu do hậu quả của chấn thương, sự tạo sẹo xung quanh khớp thái
dương hàm ngăn cản quá trình tăng trưởng mô mềm, không cho nó mang
hàm dưới xuống dưới và ra trước một cách bình thường. Sự khiếm
16
khuyết tăng trưởng xảy ra không phải là do mất sụn, mà do sự giới hạn
vận động tự do của xương hàm dưới sau khi chấn thương. Vì thế, mức độ
tạo sẹo là yếu tố quyết định khiếm khuyết tăng trưởng sau khi mất mỏm
lồi cầu ở một đứa trẻ.
Kinh nghiệm của các Bác sĩ tại Phòng khám Răng-mặt Đại học Bắc
Carolina (UNC) là một chấn thương lồi cầu cũ là nguyên nhân thường
gặp nhất của bất đối xứng hàm dưới ở trẻ em [96].
Rối loạn cơ
Hệ cơ là một phần của phức hợp mô mềm, rối loạn hệ cơ ảnh hưởng
đến sự tăng trưởng xương hàm theo hai cách: Sự tăng trưởng của hệ cơ
sẽ kéo xương hàm ra trước và sự tạo xương tại chỗ bám cơ.
Mất một trong các cơ nâng hàm dưới có thể do những nguyên nhân
chưa được biết trong bào thai, do kết quả của chấn thương lúc sinh, hoặc
do tổn thương thần kinh bởi tai nạn. Khi điều này xảy ra, sự khiếm
khuyết trong tăng trưởng của xương hàm ở bên mất cơ liên quan đến cả
ba mặt phẳng không gian nhưng đáng chú ý nhất là theo chiều đứng.
Xương được tạo thành theo đáp ứng của cơ bám, vì thế sẽ có một khiếm
khuyết xương rõ rệt ở vùng mất cơ.
Cách kinh điển để xác định một đặc điểm bị ảnh hưởng bởi di truyền
ngược lại với ảnh hưởng của môi trường là, so sánh các trẻ sinh đôi một
hợp tử với trẻ sinh đôi hai hợp tử. Người ta giả định những trẻ sinh đôi
được nuôi dưỡng cùng một môi trường, tính khả biến lớn hơn ở những
cặp sinh đôi hai trứng.
18
Lundstrom (trích dẩn theo [117]) đã phát hiện rằng, độ cắn chìa do
xương được di truyền mạnh mẽ hơn so với độ cắn chìa do răng. Trong
nghiên cứu về cặp sinh đôi, khả năng di truyền kích thước dọc của mặt,
thì không mạnh bằng khả năng di truyền theo chiều trước-sau.
Phương pháp kinh điển khác để ước lượng ảnh hưởng di truyền là
nghiên cứu các thành viên của gia đình, quan sát sự tương tự và sự khác
biệt trong các cặp cha-con, mẹ-con, anh-em. Ảnh hưởng của di truyền
đặc biệt mạnh mẽ đối với quá sản hàm dưới. Một phát hiện điển hình là
một phần ba nhóm trẻ em bị sai khớp cắn loại III nặng thì có cha mẹ bị
biến dạng giống như vậy, và một phần sáu có anh em bị ảnh hưởng [26].
El-Gheriani A.A qua phân tích riêng biệt trên 37 gia đình được điều
trị tật nhô hàm dưới, ông kết luận rằng biến dạng quá sản hàm dưới có
thể di truyền theo định luật Mendel [48].
1.2.3 Những ảnh hưởng của môi trường
1.2.3.1. Tầm quan trọng của áp lực mô mềm
Đối với sự phát triển răng-mặt, ảnh hưởng của mô mềm lúc nghỉ thì
quan trọng hơn những hiệu quả của sự co cơ và sự vận động hàm.
Thói quen mút ngón tay ảnh hưởng đến hình dạng của cung răng,
cường độ của thói quen thì kém quan trọng hơn so với thời gian tác động
của nó tính bằng số giờ trên ngày [28],[95] .
Tật nuốt đẩy lưỡi có thể gây nhô răng cửa và khớp cắn hở, yếu tố
quyết định vị trí của các răng là tư thế của lưỡi lúc nghỉ, chứ không phải
nơi đầu lưỡi được đặc trong lúc hoạt động chức năng.
Hai bằng chứng cho thấy mối liên kết giữa hô hấp và sự phát triển bất
hài hòa mặt: bằng chứng thứ nhất dựa trên những thử nghiệm ở thú vật,
20
bằng chứng thứ hai dựa trên quan sát ở người. Trong các thử nghiệm với
khỉ, Harvold E.P và cộng sự [57] đã cho thấy rằng bít hoàn toàn lỗ mũi
đưa đến sai khớp cắn từ trung bình đến nặng.
Ở thiếu nhi nghẹt mũi hoàn toàn, thì XHD bị xoay xuống dưới và ra
trước trầm trọng, sự tăng trưởng sau đó tạo ra dị tật mặt dài.
Trẻ bị VA và có nghẹt mũi thường xuyên thì có khuynh hướng nhô
tầng giữa mặt.
1.3. PHIM CEPHALOMETRIC VÀ CÁC SỐ ĐO SỌ MẶT
1.3.1. Ý nghĩa của phim sọ trong phẫu thuật chỉnh nha kết hợp
Trước đây khi đánh giá tương quan trước sau của XHT và XHD
người ta dựa vào vị trí của các răng cối trên mẫu hàm theo phân loại sai
khớp cắn của Angle.
Tuy nhiên để đánh giá chính xác tương quan hai hàm thì phải dựa vào
số đo các góc trên phim cephalometric chứ không thể chỉ dựa trên mẫu
hàm. Mẫu hàm chỉ gợi ý một cách tương đối, càng không thể xác định
khi bị mất răng, vì lúc đó các răng sẽ di chuyển để khớp với nhau, nên
tương quan của hai hàm không còn chính xác.
Hơn nữa nếu dựa vào mẫu hàm có thể đánh giá sai về độ nghiêng của
trục răng cửa, vì độ nghiêng trục răng cửa trên mẫu hàm, tùy thuộc vào
mặt phẳng đế của mẫu hàm được mài.
Ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20 đã ứng dụng phim Cephalo-
metric trong nghiên cứu các chỉ số sọ mặt của người Việt [8],[14],[15],
[16]. Trong ứng dụng lâm sàng chúng tôi thường dùng phim sọ nghiêng
để hỗ trợ chẩn đoán, tiên lượng và đánh giá kết quả điều trị cụ thể:
21
- Chẩn đoán nguyên nhân do hàm trên, hàm dưới hoặc do cả hai trong
sai khớp cắn loại II hoặc loại III.
- Submental ( điểm B): Điểm sau nhất của xương ổ hàm dưới.
- Gonion (Go): Điểm góc hàm là điểm giữa đường cong góc hàm.
- Porion (Po): Điểm cao nhất của bờ trên ống tai ngoài.
- Điểm D: Điểm giữa của cằm cũng là điểm giữa của nền XHD.
- Condylion (Co) Điểm lồi cầu là điểm trên và sau nhất của lồi cầu.
- Poginion (Pog): Điểm lồi cằm là điểm nhô nhất XHD vùng cằm.
- Men ton (Me): Điểm cằm là điểm thấp nhất của cằm.
Các mặt phẳng tham chiếu: ( Hình 3 phụ lục)
- Mặt phẳng FH: được kéo dài từ điểm Po đến điểm Or.
- Mặt phẳng xương hàm dưới: kéo dài từ điểm Go đến điểm Gn.
- Mặt phẳng SN là mặt phẳng nền sọ trước, đi qua 2 điểm Na và S,
và chia sọ mặt thành hai phần: phần trước của nền sọ và khối mặt.
- Mặt phẳng khớp cắn là mặt phẳng đi qua điểm giữa độ cắn phủ của
răng cối lớn thứ nhất và độ cắn phủ răng cửa.
23
Các góc trên mô mềm và trên mô xương:
Có rất nhiều phương pháp để phân tích giá trị các số đo trên phim sọ
như: Steiner [32],[100],[101], Mc Namara [84], Sassouni Ở Việt Nam
có 2 nghiên cứu chuẩn của Hoàng Tử Hùng và Hồ Thị Thùy Trang.
Theo phân tích của Steiner[32]:
- Giá trị góc SNA để đánh giá hàm trên ở phía trước hay phía sau so
với nền sọ. Giá trị TB là 82
o
2
o
Nếu SNA > 82
o
hàm trên nhô ra trước
và ngược lại. ( Hình 4 phụ lục).
- Giá trị góc SNB để đánh giá hàm dưới ở phía trước hay phía sau so
là 1/1,3 ( Hình 10 phụ lục). Theo Hà Hồng Diệp [5] chỉ số này của người
Việt Nam trung bình là: 88,81/120,18.
Phân tích của Sassouni (trích dẩn theo[34]):
Theo Sassouni khi khuôn mặt có tỉ lệ cân đối các mặt phẳng: nền sọ
(SN), Franfort (FH), khớp cắn (Occ), hàm dưới (MP) có xu hướng gặp
nhau tại 1 điểm. Nếu các đường này hội tụ sớm và phân kỳ nhanh khuôn
mặt có xu hướng cao ở trước và thấp ở sau, có biểu hiện khớp cắn hở
trên lâm sàng. Ngược lại khuôn mặt có biểu hiện khớp cắn sâu.
Các giá trị số đo chuẩn trên người Việt
Theo Hồ Thị Thùy Trang [31].
- Góc GoGn-SN là: 31,37 4,17
o
ở nam giới; 30,07 3,42
o
ở nữ.
- Góc SNA là 84,13 4,01
o
ở nam giới và 83,87 2,9
o
ở nữ.
- Góc SNB là 80,97 3,24
o
ở nam giới và 80,8 2,41
o
ở nữ.
- Góc trục răng cửa HT với NA: 24,07 5,8
o
(nam), 25,5 4,5
o
(nữ).
- Góc lồi mặt: được tạo bởi các đường vẽ từ điểm G’ đến điểm Sn và
từ điểm Sn đến điểm Pog’, có giá trị TB -12
0
4
0
, ( Hình 12, hình 13,
hình 14 phụ lục).
1.3.3. Các kiểu sai khớp cắn theo Angle
Sai khớp cắn loại I: Múi ngoài gần răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất
(R6) hàm trên, khớp với rãnh ngoài gần của R6 hàm dưới, nhưng đường
cắn khớp không đúng do các răng trước mọc sai chỗ, hoặc xoay [24].
Sai khớp cắn loại II: Múi ngoài gần R6 hàm trên khớp về phía gần so
với rãnh ngoài gần của R6 hàm dưới.
Sai khớp cắn loại III: Múi ngoài gần R6 hàm trên khớp về phía xa so
với rãnh ngoài gần R6 hàm dưới.
1.4. CÁCH PHÂN LOẠI CÁC BIẾN DẠNG XƯƠNG HÀM
Có nhiều cách phân loại biến dạng xương hàm, để chọn lựa và chỉ
định các phương pháp phẫu thuật phù hợp cho mỗi loại biến dạng. Johan
P. Reyneke (2003) [61] đã phân loại các biến dạng xương hàm dựa vào
sự quá triển hay thiểu sản xương hàm theo các chiều: Chiều trước sau,
chiều đứng dọc và chiều ngang. Mổi loại biến dạng có các biểu hiện lâm
sàng và X-quang cụ thể như sau: