CẬP NHẬT CHẨN đoán và điều TRỊ VIÊM DA TIẾP xúc - Pdf 24

1

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
VIÊM DA TIẾP XÚC
BSCK2. Nguyễn Thị Bích Liên
BV Da Liễu Tp. Hồ Chí Minh
1. MỞ ĐẦU
Viêm da tiếp xúc (VDTX) là một phản ứng viêm da thường gặp. VDTX là kết quả
của phản ứng tăng cảm qua trung gian tế bào T, được tạo ra do sự tiếp xúc của da với các
hóa chất từ môi trường bên ngoài ở những cơ địa trước đó đã nhạy cảm với các hóa chất
tương tự.
Có hai loại VDTX: VDTX dị ứng và VDTX kích ứng, trong đó VDTX dị ứng là bệnh
thường gặp và là bệnh da nghề nghiệp thường gặp nhất. Nguyên nhân sinh bệnh có thể
được suy đoán từ vị trí mắc bệnh, tiền căn tiếp xúc, hình dáng và sự phân bố của thương tổn.
2. LỊCH SỬ BỆNH
2.1. Năm 1829, Dakin đã mô tả viêm da Rhus: ông nhận thấy có một số người mắc bệnh
da loại này, nhưng một số người khác lại không bệnh.
2.2. Những kinh nghiệm đầu tiên để cố gắng tìm ra mối liên quan giữa VDTX và các tác
nhân gây dị ứng đã được thực hiện từ thế kỷ 19:
- Josef Jadassohn, là cha đẻ của thử nghiệm da (patch testing) trong chuyên khoa da.
- Đồng thời với kinh nghiệm của Jadassohn bước đầu tiên của thử nghiệm da được
giới thiệu bởi Fabre (1823-1915), một nhà côn trùng học.
2.3. Giai đoạn từ 1895-1965, một số quan điểm về thử nghiệm da đã rõ ràng:
- Kỹ thuật thực hiện đã được sử dụng rộng rãi ở một số nước châu Âu, nhưng một
số nước khác thì không.
- Không có sự đồng thuận liên quan đến chất gây dị ứng, nồng độ dị ứng nguyên,
thời gian đọc kết quả, cho điểm kết quả.
- Chẩn đoán phân biệt giữa VDTX kích thích và VDTX dị ứng thường không rõ ràng.
2.4. Bruno Bloch đã cống hiến phương pháp làm thử nghiệm da tại Đại học Zurich, đặt ra
các tiêu chuẩn đầu tiên cho thử nghiệm da trên toàn thế giới.
2

yếu tố nguy cơ cao làm tăng nhạy cảm trong VDTX.
3

- Glutathion transferases (GSTT)T1 và đặc biệt sự kết hợp xóa bỏ đa hình
GSTM1*0 và GSTT1*0 là sự phối hợp làm tăng nguy cơ nhạy cảm trong VDTX.
- VDTX sẽ được hiểu như là bệnh có biểu hiện về số lượng (giống như cao huyết
áp). Nghiên cứu về di truyền sẽ tập trung trên những cá nhân có nguy cơ về kiểu
hình (vd: đa nhạy cảm). Mặc dù nhiều nghiên cứu trên các dạng của VDTX có giới
hạn do mẫu nhỏ, hiện tại vẫn ủng hộ VDTX chịu tác động bởi yếu tố di truyền.
3.2. Viêm da tiếp xúc kích thích:
- Một sự thay đổi hàng rào bảo vệ da và sự thay đổi mức độ cytokin chống viêm ở
màng đáy có thể giải thích sự thay đổi trong mỗi cá nhân và dẫn đến tình trạng
VDTX kích thích.
- Cơ địa dị ứng là yếu tố nguy cơ làm tăng nhạy cảm với VDTX kích thích, điều
này có thể được cho là làm thay đổi hàng rào bảo vệ da và tăng giải phóng
cytokine.
- Các nghiên cứu về khả năng của các yếu tố nội sinh trong VDTX kích thích đã đi
đến kết luận không thống nhất do mẫu nghiên cứu nhỏ. Viêm da cơ địa có thể là
yếu tố làm tăng phản ứng của da khi tiếp xúc chất kích thích.
- Chỉ có một phần của yếu tố di truyền tạo thành đáp ứng kích thích đã được thử nghiệm.
o TNF-308 G/A đa kiểu hình có lẽ là yếu tố nguy cơ cho VDTX kích thích.
o IL-1 -889 C/T đa kiểu hình có thể bảo vệ viêm da ở bàn tay.
o Đột biến FLG là yếu tố nguy cơ cho VDTX kích thích.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cần được thực hiện để xác nhận trước khi đưa đến kết
luận di truyền là yếu tố dẫn độ cho việc xuất hiện VDTX kích thích.
4. CƠ CHẾ SINH BỆNH
Sự hiểu biết về sinh bệnh học ở mức độ tế bào và phân tử của VDTX đã được mở
rộng đáng kể. Ngoài tế bào TCD4 và TCD8, các tế bào khác như tế bào T diệt tự nhiên
(natural killer T NKT) và tế bào T điều hòa cũng có vai trò. Trong giai đoạn kịch phát, tế
bào Langerhans có vai trò phát triển sự dung nạp miễn dịch hơn là phản ứng tăng cảm.

CD8+ và CD4+.
Tế bào Langerhans từ tủy xương, tế bào có tua chưa trưởng thành ở thượng bì được
biểu hiện bằng langerin (CD207), là lectin loại C phối hợp với hạt Birbeck. Tế bào
Langerhans chưa trưởng thành từ thượng bì có thể phát tán vào môi trường bởi sự co vào
và thụt ra của các tua và lấy kháng nguyên với hiệu quả cao. Tế bào Langerhans có thể
bắt đầu thích ứng với đáp ứng miễn dịch do sự bắt giữ, và trình diện kháng nguyên với tế
bào T chưa trưởng thành ở vùng lân cận của hạch bạch huyết.
5

Trong giai đoạn nhạy cảm của VDTX dị ứng, phức hợp hapten-protein bị nhận chìm
và hoạt hóa bởi tế bào Langerhans, sau đó di chuyển đến hạch bạch huyết, ở đây xuất
hiện phức hợp hapten-peptid-MHC. Kết quả của quá trình này là sự sinh sản vô tính của
tế bào T ghi nhớ chứa hapten, sẽ lưu thông trong cơ thể và sau đó từ hệ tuần hoàn vào da
trong giai đoạn kích ứng.
Sau khi da tiếp xúc với hapten nhạy cảm, mật độ tế bào Langerhans ở thượng bì
giảm khoảng 50% trong vòng 24 giờ do sự di chuyển đến hạch bạch huyết. Trong giai
đoạn di chuyển, tế bào Langerhans trải qua quá trình trưởng thành và có kiểu hình bề mặt
của tế bào có tua trưởng thành.
Cytokine được giải phóng từ tế bào sừng, đặc biệt là interleukin1, yếu tố hoại tử
bướu (TNF) loại  và IL-18 sẽ điều chỉnh sự di chuyển và trưởng thành về chức năng
của tế bào có tua. Đồng thời với sự thay đổi hình dạng và giảm khả năng bắt giữ kháng
nguyên, tế bào Langerhans trưởng thành tăng biểu hiện của CD83 (một dấu ấn của tế bào
Langerhans trưởng thành), có sự kết dính phân tử như sự kết dính liên tế bào với phân tử
1 (ICAM-1) và các phân tử đồng kích thích (bao gồm CD40, CD80 và CD86). Sự hiện
diện của những dấu ấn này rất đặc biệt đối với tế bào Langerhans trình bày hapten, bởi vì
khi thượng bì kích thích cũng kích thích sự di chuyển tế bào Langerhans mà không làm
thay đổi sự sản xuất trên bề mặt tế bào Langerhans. Sự gia tăng biểu hiện về mặt phân tử
trên bề mặt tế bào Langerhans rất quan trọng trong việc tăng hoạt động của tế bào
lympho T trong vùng hạch bạch huyết
Vào cuối giai đoạn này, tế bào T đặc biệt chứa hapten được tìm thấy ở hạch bạch

PPR), bao gồm gia đình thụ thể toll-like (TLR) là thụ thể xuyên màng có thể nhận ra sinh
bệnh học phối hợp với mô hình phân tử như thành phần vách tế bào (nội độc tố của vi
khuẩn), protein và acid nhân của vi khuẩn, ký sinh, siêu vi và nấm. TLR nhận dạng
thương tổn phối hợp với mô hình phân tử, sẽ được phóng thích khi tế bào hoại tử. Tín
hiệu của TLR làm thay đổi yếu tố phiên mã mà yếu tố này được điều chỉnh bởi nhiều
gene bao gồm sự mã hóa nhiều cytokin tiền viêm quan trọng.
4.5. Cơ chế điều hòa của VDTX dị ứng
Tế bào T điều hòa (Treg) có thể có vai trò quan trọng trong giai đoạn nhạy cảm và
giai đoạn khám phá của VDTX dị ứng và trong sự điều chỉnh lại của đáp ứng viêm để có
thể bắt đầu sự giải phóng hapten khỏi da. Tregs là dân số tế bào không đồng nhất để tạo
ra Tregs tự nhiên (CD4 + CD25 + Foxp3 + tế bào) và có thể tạo ra Tregs cảm ứng (Tr1
và Th3). Da chứa nhiều tế bào Tregs cảm ứng, điều này có thể làm kích hoạt tế bào
Langerhans và tế bào có tua. Phối hợp với sự tiếp xúc với dị ứng nguyên, Tregs có thể
làm giảm hoặc ức chế quá trình nhạy cảm. Trong giai đoạn hoàn thành chúng có thể ức
chế tế bào T trong hạch lympho và ức chế dòng bạch cầu từ IL1-10 hoặc cơ chế CD39.
Tregs cũng có thể liên quan đến sự kiểm soát trong giai đoạn tận cùng của đáp ứng viêm
trong VDTX dị ứng.
7

4.6. Cơ chế tổn thương mô trong VDTX
Trong giai đoạn sớm của VDTX, mô bị tổn thương chủ yếu do CD8 +
Sự thiếu kết dính tế bào và sự tẩm nhuận lympho ở thượng bì dẫn đến sự phù gian
bào và tạo mụn nước cũng như sự xốp bào trong thượng bì của VDTX dị ứng.
5. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Triệu chứng thường gặp là phản ứng dạng chàm, các triệu chứng khác cũng có thể
gặp như trầy xước, loét, mày đay, hồng ban đa dạng, xuất huyết, đỏ da, viêm da tiếp xúc
tăng sắc tố, thương tổn dạng nốt và phản ứng nhạy cảm ánh sáng.
5.1. Tiền sử của bệnh nhân:
- Tiền sử bệnh di truyền và bệnh tổng quát: tiền sử bệnh di truyền và bệnh tổng quát
đều quan trọng trong chẩn đoán VDTX. Phát ban gặp trong bệnh chuyển hóa và

+ Viêm da tiếp xúc trong không khí (airborne contact dermatitis) có thể lầm với
VDTX ánh sáng. VDTX trong không khí thường gặp ở vùng da phơi bày,
ngay tại chỗ bụi dễ đọng lại (cổ áo sơ mi, tay áo sơ mi, ống quần).
+ Viêm da cơ học: viêm da cơ học là do chấn thương lặp lại nhiều lần ở vùng
tiếp xúc. Hay gặp ở người chơi một số môn thể thao.
+ Phản ứng nang lông: phản ứng nang lông hoặc mụn mủ thường do phản ứng
kích thích với dầu hoặc một số thuốc diệt côn trùng.
- Hình ảnh lâm sàng đặc trưng của viêm da do một số chất đặc biệt hoặc cách tiếp xúc.
+ Loét do xi măng
+ Viêm da tiếp xúc sắc tố
+ Viêm da do sâu bướm hoặc viêm da kích thích do thực vật và thú vật, phát ban
mụn nước, sẩn, ngứa kéo dài có thể do tiếp xúc với các gai nhỏ của một số loài
sâu bướm. Trẻ con tiếp xúc với sâu bướm có thể gặp phát ban ở bàn tay trong
khi công nhân lâm trường phát ban có thể lan rộng hơn.
5.4. Viêm da tiếp xúc theo vùng:
- Viêm da tiếp xúc ở da đầu: vùng da đầu có thể gặp VDTX kích thích hoặc dị ứng,
vị trí phát ban ở vùng trán, tai và cổ. Thuốc nhuộm tóc và dung dịch tạo nếp tóc
thường là nguyên nhân hơn là dầu gội.
- Vùng mặt, cổ: do chất sesquiterpene lactone từ thực vật, dầu thơm và chất bảo quản
trong mỹ phẩm là các nguyên nhân thường gặp. Methyl dibromoglutaranitrils là dị
ứng nguyên hay gặp trong mỹ phẩm. Chất bảo quản này không được sử dụng
trong các mỹ phẩm bày bán ở Liên minh Châu Âu.
9

- Vùng mi mắt: VDTX kích thích ở mi mắt thường gặp ở người cơ địa dị ứng. Các
chất gây kích thích có thể là: phấn trang điểm mi mắt, bụi và các chất đến mắt từ
bàn tay. Dị ứng nguyên tiếp xúc là dầu thơm và thuốc bôi tại chỗ. Viêm da ở mi
mắt có thể là biểu hiện của viêm da tiếp xúc toàn thân.
- Vùng tai: tai là chỗ VDTX dị ứng do thuốc điều trị viêm tai ngoài hoặc là nickel
từ nữ trang đeo.

+ Phát ban dạng chàm dai dẳng khi VDTX được nghi ngờ.
+ Bất kỳ viêm da mạn tính, đặc biệt liên quan đến bàn tay, chân, mặt, mi mắt.
+ Viêm da dạng chàm ở những cá nhân mà nghề nghiệp có nguy cơ cao của
VDTX (vd: nhân viên chăm sóc sức khỏe, kỹ thuật viên răng, nhân viên bán
mỹ phẩm, thợ máy, công nhân cao su hoặc nhựa tổng hợp).
+ Chàm đồng tiền
+ Chàm ứ đọng
- Chọn lựa dị ứng nguyên:
Có hơn 4.350 hóa chất có thể gây VDTX:
+ Ở Nam Mỹ: test phát hiện 70 dị ứng nguyên
+ Châu Âu: test phát hiện 35 dị ứng nguyên.
- Tiến trình thực hiện patch test:
+ Chuẩn bị bệnh nhân:
* Thông báo cho bệnh nhân
* Thực hiện ở vùng lưng: nếu nhiều lông nên cạo 1-2 ngày trước.
* Corticoides bôi tại chỗ thực hiện test hoặc corticoid uống phải ngưng 2 tuần
trước khi thực hiện.
* Kháng histamin (u) có thể dùng.
+ Vị trí thực hiện test:
* Vùng lưng trên
* Da nhờn nhiều có thể dùng ethanol
* Phải thực hiện test trên vùng da không viêm
+ Các loại test:
* Test đóng (closed test): thử nghiệm được áp dụng trên da dưới dạng băng
kín trong 2 ngày.
* Test mở (open test): dị ứng nguyên tiếp xúc trên da, sau 30 phút chất dị ứng
được mang đi và kết quả được đọc giống như test đóng. Nếu phản ứng âm
tính nhưng VDTX vẫn nghi ngờ test đóng có thể thực hiện.
11


7.1. Nhận diện nguyên nhân gây dị ứng hoặc tác nhân kích thích
Dựa vào tiền sử, patch test, lâm sàng để nhận diện nguyên nhân dị ứng nhưng
thường VDTX có thể kết hợp với bệnh nội sinh (vd: chàm thể tạng), nên mặc dù đã loại
bỏ nguyên nhân bệnh vẫn khó lành hoặc trong một số trường hợp khác nguyên nhân dị
ứng hoặc kích thích không tìm thấy. Do đó cách tiếp cận triệu chứng có định hướng một
cách kỹ lưỡng rất cần thiết trong điều trị.
7.2. Loại bỏ chất kích thích hoặc dị ứng nguyên:
Chìa khóa của việc điều trị thành công là loại bỏ chất kích thích hoặc dị ứng nguyên.
Các phương pháp ngăn ngừa: có 3 mức độ:
- Phòng ngừa cấp 1: để giảm tỷ lệ mắc bệnh bằng cách giới hạn sự tiếp xúc với các
yếu tố nguy cơ.
- Phòng ngừa cấp 2: nhằm giảm sự lưu hành của bệnh bằng cách chẩn đoán nhanh
và điều trị đủ theo thứ tự để ngăn ngừa biến chứng.
- Phòng ngừa cấp 3: mục đích là làm giảm sự tàn tật do bệnh gây nên và làm cho
bệnh nhân thích nghi nhanh trong các trường hợp không chữa đươc. Điều này bao
gồm điều trị các trường hợp mạn tính và các phương pháp phục hồi để bệnh nhân
có thể sống bình thường và ngăn ngừa mất việc làm.
Các phương pháp:
- Dán nhãn trên sản phẩm có nguy cơ gây kích thích hoặc dị ứng.
- Thông báo các biện pháp bảo vệ cá nhân: găng, kem bảo vệ, chất giữ ẩm, quần áo.
- Sử dụng thích hợp các sản phẩm rửa: xà phòng và các sản phẩm rửa nhẹ không
hương liệu nên được chỉ định. Chất giữ ẩm có thể dùng ngay sau khi rửa.
- Trong VDTX do nghề nghiệp, cần chú ý đến các phương pháp hạn chế tiếp xúc
chất dị ứng như: thông khí tốt, tự động hóa hoặc thay thế dây chuyền nguyên liệu
tránh tiếp xúc với bàn tay.
- Các phương pháp giáo dục: trong nhiều trường hợp bệnh nhân cần được giáo dục
bằng cách nào để tránh tiếp xúc với chất kích thích hoặc dị ứng. Có thể dựa vào
thông tin trên internet, thiết lập danh sách các sản phẩm không dị ứng nguyên,
giáo dục sức khỏe trong trường học.
13

Chế phẩm chứa than đá, urê
Chế phẩm làm ẩm 'nước trong dầu' hoặc
nhũ tương 'dầu trong nước'
Mạn tính
Tiêu sừng
Chống tăng sinh
Làm ẩm da
Tiêu sừng (Pde-Sali 20%, urê 10-20%)
Chế phẩm làm ẩm 'nước trong dầu' hoặc
nhũ tương 'dầu trong nước'

14

- Điều trị đặc hiệu:
+ Corticoides tại chỗ
+ Ức chế calcineurin tại chỗ
+ Retinoids: Alitretinoin (9-cis retinoic acid) có tác động chống viêm và điều hòa
miễn dịch, uống 30mg/ngày, cho hiệu quả cao trong điều trị chàm mạn ở bàn tay.
+ Điều trị ánh sáng
+ Điều trị bằng bức xạ ion hóa: tia Grenz và tia X nông có hiệu quả trong điều trị
chàm mạn ở bàn tay khó đáp ứng đem lại.
+ Corticoides uống và thuốc ức chế miễn dịch
- Phục hồi hàng rào bảo vệ da
Việc điều trị VDTX sẽ không hoàn chỉnh nếu không có biện pháp phục hồi hàng rào
bảo vệ da.
Sự phục hồi hoàn toàn trong VDTX kích thích yêu cầu không chỉ phục hồi về mặt
lâm sàng mà còn phải về mặt chức năng bao gồm đem lại sinh lý bình thường và giảm
khả năng kích thích.
Sau giai đoạn viêm da, sự phục hồi hàng rào bảo vệ da cần nhiều tuần hoặc nhiều
tháng. Nếu da viêm mạn tính, thời gian phục hồi cần lâu hơn.

lợi ích của sản phẩm bảo vệ da đơn độc hoặc sản phẩm chăm sóc da đơn độc.
8.3. Giáo dục công nhân:
- Tạo cho công nhân có ý thức về nguy cơ đối với sức khỏe.
- Nhận diện các nguy cơ đặc biệt trong công việc.
- Có chiến lược bảo vệ để tránh các nguy cơ
- Cần tư vấn BS chuyên khoa da để có thể nhận diện cá nhân có yếu tố nguy cơ để
có thể hướng dẫn, bảo vệ.
- Hướng dẫn trước và trong khi làm việc.
- Hướng dẫn sử dụng các phương pháp bảo vệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status