ĐỊNH HưỚNG QUI HOẠCH bảo tồn và PHÁT TRIỂN đầm ĐÔNG hồ VIỆT NAM - Pdf 24

Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

1
ĐỀ DẪN HỘI THẢO:
"ĐỊNH HƢỚNG QUI HOẠCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
ĐẦM ĐÔNG HỒ - VIỆT NAM"
- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Hoàng Sa-

Kính thưa ….
……………………………………………………………………….

Tỉnh Kiên Giang được Chính phủ chọn là một trong 4 tỉnh trọng điểm
phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với
tiềm năng lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di sản văn
hóa đã có hơn 300 năm, thị xã Hà Tiên đã trở thành khu kinh tế trọng điểm của
tỉnh Kiên Giang và được quy hoạch là khu
kinh tế cửa khẩu vào năm 2000. Định hướng phát triển của Hà Tiên là kinh tế
cửa khẩu, dịch vụ thương mại và du lịch, đặc biệt chú trọng đến việc quy
hoạch khai thác tài nguyên để phát triển bền vững. Là một vùng lõi thuộc Khu
dự trữ sinh quyển thế giới tại Kiên Giang - Việt Nam, hệ sinh thái núi đá vôi và
đất ngập mặn vùng Hà Tiên được đánh giá là hệ sinh thái đặc biệt, trong đó
đầm nước mặn Đông Hồ - Việt Nam là một điểm nhấn quan trọng trong hệ
thống đầm phá ven biển của Việt Nam. Đầm Đông Hồ đã gắn liền với đời sống
lịch sử xã hội của vùng đất Hà Tiên. Giá trị về tài nguyên thiên nhiên của đầm
Đông Hồ đã góp phần rất lớn phục vụ việc phát triển kinh tế xã hội của Hà
Tiên hơn 300 năm qua.
Cùng với sự thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy qua chương trình thoát lũ
biển Tây và tình trạng khai thác tài nguyên, lấn chiếm lòng đầm để phát triển
hạ tầng quá mức cho phép đã làm suy thoái, xuống cấp hệ sinh thái đầm Đông
Hồ. Để khắc phục, bảo tồn và khai thác bền vững giá trị đa dạng sinh học của
đầm đồng thời ứng phó với tình trạng nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp đến

cuộc hội thảo với chủ đề: “Định hướng qui bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ,
Việt Nam”. Hôm nay, Ban Tổ chức Hội thảo rất vui mừng được đón tiếp toàn
thể quí vị khách quí, các tổ chức quốc tế, cơ quan Trung ương, đại diện lãnh
đạo các Khu dự trữ sinh quyển ở các tỉnh, các nhà nghiên cứu khoa học quốc tế
và Việt Nam đến tham dự Hội thảo. Cho phép tôi thay mặt Ban Tổ chức Hội
thảo gởi lời chào mừng nhiệt liệt và kính gửi tới quý đại biểu những tình cảm
trìu mến nhất.
Kính thưa…
Hội thảo “Định hướng qui bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt
Nam” đặt ra mục tiêu:
- Đánh giá tiềm năng, giá trị, hiện trạng và nâng cao chất lượng qui hoạch
đầm Đông Hồ; đánh giá đúng số lượng và chất lượng giá trị của đầm Đông Hồ
trong đời sống xã hội từ đó đề ra chương trình bảo tồn, khai thác và phát huy
trong điều kiện mới.
- Nâng tầm ảnh hưởng giá trị về môi trường sinh thái, đa dạng sinh học,
tác động đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đầm Đông Hồ đối với Việt
Nam và các nước trong khu vực.
- Các thông tin, ý kiến đóng góp, nghiên cứu mang tính khoa học của các
nhà khoa học, các nhà quản lý, các chuyên gia Việt Nam và quốc tế trình bày
tại Hội thảo là tài liệu cơ sở cho các ngành, các cấp thực hiện việc xây dựng
qui hoạch và triển khai các chương trình, kế hoạch bảo tồn và phát triển bền
vững đầm Đông Hồ trong bối cảnh biến đổi của khí hậu và nước biển dâng,
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

3
đồng thời góp thực hiện kế hoạch xây dựng thị xã Hà Tiên trở thành Thành phố
văn hóa – du lịch trong tương lai.
Nội dung Hội thảo “Định hướng qui bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ -
Việt Nam” hướng đến 03 vấn đề chính sau:
1. Bảo tồn giá trị của đất ngập nước, rừng ngập mặn và tính đa dạng

nhiệt tình của quý đại biểu để giúp cho Hội thảo của chúng ta có thể thành
công tốt đẹp !

Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

4

NHÓM CHUYÊN ĐỀ 1
Bảo tồn giá trị đất ngập nước, rừng ngập mặn và tính đa dạng sinh học của
đầm Đông Hồ - Việt Nam
TT
Tên tham luận
/tác giả
Nội dung tóm tắt
01
Giá trị bảo tồn đất
ngập nước, rừng ngập
mặn và tính đa dạng
sinh học đầm Đông Hồ
- (TS. Lê Đức Tuấn)

02
Đặc điểm tự nhiên về
môi trường sinh thái
của vùng đất ngập
nước "Đầm Đông Hồ -
Hà Tiên" tỉnh Kiên
Giang – (TS. Trương
Minh Chuẩn)

Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

5

GIÁ TRỊ BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƢỚC, RỪNG NGẬP MẶN
VÀ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC ĐẦM ĐÔNG HỒ

TS. Lê Đức Tuấn (Giám đốc TT Nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ)
TS. Trương Minh Chuẩn (Giám đốc Phân hiệu Đại học Thủy sản KG)

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời kỳ phải ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu ở nước ta hiện nay, việc
bảo tồn đất ngập nước và rừng ngập mặn vùng ven biển là cực kỳ cấp thiết vì bờ biển
Việt Nam có chiều dài trên 3.260 km.
Do điều kiện địa lý, vùng ven biển nước ta có nhiều các đầm, phá, và các khu
rừng ngập mặn có giá trị cả về mặt môi trường, cảnh quan tự nhiên lẫn kinh tế xã
hội; là nguồn cung cấp thức ăn cho xã hội con người và có các vai trò chức năng như
môi trường sống cho con người cùng nhiều loài sinh vật khác. Đặc biệt, vai trò phòng
hộ môi trường của các đầm, phá, rừng ngập mặn vùng ven biển là điều mà mọi người
chúng ta đều biết.
Đầm Đông Hồ ở thị xã Hà Tiên, vùng ven biển tỉnh Kiên Giang là một trong
những địa điểm mang đầy đủ các đặc tính của một vùng đất ngập nước có rừng ngập
mặn. Do đó, việc bảo tồn các giá trị của vùng đất ngập nước có rừng ngập mặn và
tính đa dạng sinh học của đầm Đông Hồ là việc cần phải quan tâm, không chỉ của
nhân dân và chính quyền địa phương mà còn là trách nhiệm của các nhà khoa học,
nhà quản lý hoạch định chính sách và chính quyền cấp tỉnh cũng như cấp trung ương.

II. VAI TRÕ CHỨC NĂNG CỦA CÁC VÙNG ĐẤT NGẬP NƢỚC VÀ RỪNG

ước Ramsar mở rộng khái niệm về đất ngập nước tại điều 1.1: Đất ngập nước được
định nghĩa bởi:
"các vùng đầm lầy, miền đầm lầy, đất than bùn hoặc nước, tự nhiên hay nhân
tạo, thường xuyên hoặc thỉnh thoảng có nước tù đọng hoặc nước chảy, ngọt, lợ hoặc
mặn, bao gồm cả các vùng biển có độ sâu không quá 6m khi triều kém"
Và thêm nữa ở điều 2.1:
" có thể sát nhập cả các vùng ven sông và ven biển tiếp giáp với vùng đất
ngập nước, và các đảo hoặc các bộ phận của vùng biển sâu hơn 6m khi triều kém
nhưng nằm bên trong vùng đất ngập nước".
Như thế theo phạm vi công ước Ramsar này mở rộng ra đến rất nhiều loại
hình môi trường sống (habitat), bao gồm các sông và hồ, đầm phá ven biển, rừng
ngập mặn, bãi than bùn, và luôn cả các rạn san hô.
Thêm vào đó còn phải kể đến các vùng đất ướt nhân tạo như các ao đầm nuôi
tôm cá, đất nông nghiệp có hệ thống thủy lợi, ruộng muối, hồ chứa nước, các mỏ sỏi,
cống nước thải của các trại nuôi thủy sản, và các kênh đào.
2.2. Phân bố - Phân loại đất ngập nƣớc – Chế độ nƣớc
2.2.1 Phân bố
Đất ngập nước có ở khắp nơi trên thế giới, từ vùng cực có lớp băng tuyết vĩnh
viễn đến các vùng nhiệt đới. Hiện nay người ta chưa biết chính xác diện tích được
coi là đất ngập nước, nhưng theo Trung Tâm Giám sát bảo tồn thế giới (World
Conservation Monitoring Centre) thì con số ước tính khoảng 570 triệu ha (5,7 triệu
km
2
) chiếm 6% diện tích bề mặt trái đất; trong đó 2% là ao hồ, 30% là bãi lầy, 26%
là các miền đất lầy, 20% đầm lầy, và 15% đồng bằng ngập nước. Rừng ngập mặn
chiếm khoảng 240.000km
2
vùng ven biển, và khoảng 600.000km
2
rạn san hô.

thú khác lại bơi đến các bãi này để tìm thức ăn.
d) Đầm lầy rừng ngập mặn
Đầm lầy rừng ngập mặn là bản sao đối chiếu ở vùng nhiệt đới của đầm lầy cỏ
ngập mặn vùng ôn đới. Cũng như đầm lầy cỏ ngập mặn, quần xã đầm lầy rừng ngập
mặn là một nhóm các loài thực vật liên quan nhau cung cấp một lượng lớn thức ăn và
là nơi trú ẩn cho nhiều loài thú. Nhưng thực vật chiếm ưu thế của đầm lầy rừng ngập
mặn là cây rừng ngập mặn chứ không phải cỏ và các loài cây thân thảo điển hình của
đầm lầy ngập mặn. Sương giá có thể làm chết cây rừng ngập mặn, vì thế quần xã
rừng ngập mặn chỉ xuất hiện ở các vùng nhiệt đới.
2.2.2 Đất ngập nước ngọt
a) Đầm lầy cỏ (Marshes)
Đầm lầy ngập ngọt là một loại cảnh quan phổ biến ở khu vực Bắc Mỹ, tạo
thành đến 90% diện tích đất ướt. Nước trong vùng đầm lầy dao động lên xuống theo
mùa, lên cao trong suốt mùa mưa nhiều và thường biến mất trong mùa khô. Có thể
phân biệt đầm lầy với các loại đất ướt ngập ngọt khác bằng các loại thực vật mọc tại
vùng này. Các bụi dầy thực vật có cọng mềm như cỏ, lau lách, cói rất phong phú. Và
các loại thực vật không phải thân gỗ như cỏ đuôi mèo, huệ nước, cỏ dại mọc
nhanh…. cũng rất phổ biến.
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

8
b) Bãi lầy (Bogs)
Ba từ nêu lên đặc trưng của các bãi lầy trên thế giới là: than bùn, acid và
nước. Bãi lầy là đất ngập nước ngọt thường chứa một khối lượng lớn than bùn giàu
chất hữu cơ tạo thành bởi nguyên liệu là thực vật mục rã. Than bùn thành hình khi
thực vật chết và lá-thân-cành-rễ của chúng rơi vào trong nước. Sau thời gian dài vật
chất giàu acid này bị nén lại, tạo thành các lớp than bùn dày. Ở nhiều bãi lầy, than
bùn có thể dày trên 12m. Các bãi lầy thường được tìm thấy ở các vùng lạnh hơn trên
thế giới. Chúng thành hình ở các vùng đất ngập nước nơi có rất ít nước chảy vào và
chảy ra.

2.3.2. Sự đa dạng sinh học của đất ngập nước
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

9
Đất ngập nước là một trong những môi trường có năng suất cao nhất, là cái
nôi của sự đa dạng sinh học; chúng cung cấp nước và sản phẩm sơ cấp cho vô số loài
động thực vật tạo điều kiện tồn tại và sinh sống cho các loài này. Các vùng đất ngập
nước là nơi tập trung đông đảo các loài chim, động vật có vú, bò sát, lưỡng thê, cá và
động vật không xương sống.
Đất ngập nước cũng là nơi tồn trữ các gen thực vật quan trọng, ví dụ như lúa
là loài thực vật phổ biến của vùng đất ướt là thức ăn của một nữa loài người.
Có nhiều kiểu đất ngập nước nên mức độ đa dạng sinh học cũng khác nhau.
Theo thứ tự từ thấp đến cao về mức độ đa dạng sinh học, ta có thể liệt kê như sau:
a) Đa dạng sinh học thấp nhất
Đa dạng sinh học thấp nhất của các vùng đất ngập nước là đầm lầy than bùn vì
năng suất thấp và nước mang tính acid cao. Tuy nhiên đây lại là môi trường sống cho
loài nai sừng tấm Bắc Mỹ, nai, gấu đen, hải ly, mèo rừng, chim bói cá, thỏ chân
trắng, rái cá, chồn Vizon. Các loài chim di trú cũng hường ghé lại các vùng này trên
đường bay của chúng; có một số ít loài chim làm tổ, đẻ trứng và sinh sống tại đây
như le le, sếu, cú xám to, cú tai ngắn, gà nước Sora, sẻ đuôi nhọn (Mitsch &
Gosselink 1993).
Nơi có độ pH > 4,5 là môi trường sống cho các loài cá như cá chó (răng
nhọn), cá vược miệng nhỏ (Camp, Dresser & Mc Kee 1981; Novotony & Olem
1995).
b) Đa dạng sinh học cao
Là các đầm lầy nước ngọt đồng cỏ - rừng, đây là môi trường sống cho nhiều
chu kỳ sống của nhiều loài động vật có vú, bò sát, lưỡng thê và chim nước.
Đánh giá chung về đa dạng các loài chim thì có thể nói có đến 50 - 75% các
loài chim nước sống trọn chu kỳ sống ở loại đất ngập nước này, chúng làm tổ - đẻ
trứng - tìm thức ăn tại đây.

tích tự nhiên của thị xã Hà Tiên. Hồ có chiều dài theo hướng Bắc - Nam khoảng 4,6
km, chiều rộng theo hướng Đông - Tây khoảng 3,5km.
Đầm Đông Hồ rất nổi tiếng cả trong và ngoài nước, được xem như một trong
Hà Tiên thập cảnh, là một danh lam thắng cảnh hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên
Hà Tiên, có tên trong nhiều bài thơ của Tao đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tứ
làm chủ soái.
3.1.2. Địa hình
Đầm Đông Hồ có dạng hình lòng chảo chứa phù sa, có nơi rất dày lên đến 1,3
– 1,5m. Do tác động của chế độ thủy văn tự nhiên từ dòng chảy của sông Giang
Thành, kênh Rạch Giá – Hà Tiên và chế độ nhật triều của thủy triều vùng biển Tây
tạo nên các khu vực có các luồng lạch và vùng bồi lắng khác nhau.
Đặc điểm địa hình khu vực đầm Đông Hồ

STT
KHU VỰC
RỘNG
(m)
SÂU
(m)
GHI CHÚ
01
Cửa sông Giang Thành
250
6 – 7

02
Kênh Rạch Giá – Hà Tiên
60
4 – 7


09
Khu vực dân cư phía Đông Nam

+1,15
Mặt đường
10
Khu vực dân cư phía Tây Nam

+(1,13 – 1,45)
Mặt đường
11
Cồn nổi khu vực phía Tây Nam

0,2 – (+0,5)
13 ha
Nguồn: Nguyễn Xuân Viên (2004)
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

11
3.1.3. Khí tượng thủy văn
- Nhiệt độ trung bình: 27,4
o
C. Dưới nước trung bình: 28
o
C
- Lượng mưa trung bình: 2.089mm/năm
- Mùa mưa: Từ tháng 5 đến 10
- Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
- Chế độ gió: Mùa mưa có gió Tây và Tây Nam, mùa khô có gió Đông Bắc và
Bắc.

Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

12
3.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội
3.2.1. Hiện trạng dân cƣ và hạ tầng xã hội
Từ nhiều năm nay, con người đã làm ăn sinh sống ở phía Tây Nam và phía
Nam của Hồ (Khu vực phường Đông Hồ và phường Tô Châu). Đặc biệt số dân cư ra
định cư sinh sống trên dãy cồn nổi giữa hồ (trước kia là ấp Cừ Đức, nay là khu phố
V, phường Đông Hồ) với: 198 hộ, 1.256 nhân khẩu, nghề nghiệp chủ yếu của hộ là
khai thác hải sản, mua bán củi, lá dừa nước… cuộc sống rất khó khăn. Người dân
trồng tràm, mấm, đước, dừa nước… họ tự ý lấn chiếm ra lòng hồ trồng cây, giăng
đáy, gây nên sự phức tạp trong công tác quản lý và khai thác sử dụng đầm Đông Hồ,
ảnh hưởng đến môi trường và cảnh quan khu vực, ảnh hưởng đến thoát lũ.
Nhà cửa của dân đa số là nhà cấp III, IV, và nhà tạm cây lá. Cơ sở giáo dục
còn rất hạn chế, tại ấp chỉ có một điểm trường tiểu học 3 phòng.
Khu vực xung quanh hồ thuộc phường Tô Châu, đời sống dân sinh có khá
hơn, có nhiều nhà trường cấp II, III. Các công trình hạ tầng xã hội như trường học,
trạm y tế, bến xe ở ngay địa bàn phường, đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
3.2.2. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
a) Hệ thống giao thông
- Từ Cầu Nổi đến Công an thị xã có đường tráng nhựa, vừa qua đã được đầu
tư nâng cấp đường, mở rộng vỉa hè, kè và công viên, tạo ra cảnh quan rất đẹp, nhất là
về ban đêm.
- Từ Công an thị xã đến Mương Đào – Rạch Ụ có đường đất đỏ rộng 5m. Đã
xây dựng cầu Mương Đào Rạch Ụ bằng bê tông cốt thép, rộng 3m, tải trọng 8 tấn ra
khu bãi rác theo qui hoạch tổng thể của thị xã.
- Từ Cầu Nổi đến Tháp Cao Đài phường Tô Châu có đường đất đỏ rộng 5m.
- Hai bên cồn khu phố V – phường Đông Hồ có cầu đường mới đổ bê tông
rộng 2m, nền đường 3 đến 5m.
- Còn lại toàn bộ xung quanh hồ phía Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc chưa có đường

35,54
2,57
04
Đất dân dụng, vườn tạp
15,56
1,10

Tổng cộng:
1.384,36
100
Nguồn: Nguyễn Xuân Viên (2004)

3.3. Đa dạng sinh học khu vực đầm Đông Hồ
3.3.1. Thực vật
Thảm thực vật rừng ngập mặn chiếm ưu thế ở khu vực nước nông và ven bờ:
STT
TÊN KHOA HỌC
TÊN VIỆT NAM Các loài ngập mặn chủ yếu (True mangrove species)

Acanthaceae
Họ Ô rô
01
Acanthus ebracteatus Vahl.
Ô rô trắng
02
Acanthus ilicifolius L.
Ô rô

09
Dolichandrone spathacea (L. f.) K. Schum.
Quao nước

Combretaceae
Họ Bàng
10
Lumnitzera littorea (Jack) Voigt
Cóc đỏ
11
Lumnitzera racemosa Willd.
Cóc vàng, Cóc trắng

Euphorbiaceae
Họ Ba mảnh vỏ
12
Excoecaria agallocha L.
Giá

Meliaceae
Họ Xoan
13
Xylocarpus granatum Koen.
Xu ổi
14
Xylocarpus moluccensis (Lam.) Roem.
Xu sung

Myrsinaceae
Họ Đơn nem

22
Ceriops decandra (Griff.) Ding Hou
Dà quánh, Dà đen
23
Ceriops tagal (Perr) C.B. Rob.
Dà vôi, Dà đỏ
24
Kandelia candel (L.) Druce
Trang
25
Rhizophora apiculata Bl.
Đước đôi
26
Rhizophora mucronata Poir. in Lamk.
Đưng, Đước xanh
27
Rhizophora stylosa Griff.
Đước chằng, Đước vòi

Rubiaceae
Họ Cà phê
28
Scyphiphora hydrophyllacea Gaertn. f.
Côi

Sonneraticeae
Họ Bần
29
Sonneratia alba Bl. J. E. Smith
Bần trắng

Lỏa hùng, Thiên lý dại

Asteraceae
Họ Cúc
36
Pluchea indica (L.) Lees.
Lức, Cúc tần
37
Wedelia biflora (L.) DC.
Sơn cúc hai hoa

Caesalpiniaceae
Họ Vang
38
Intsia bijuga (Colebr.) O. Ktze
Gõ biển, Gõ nước

Convolvulaceae
Họ Bìm bìm
39
Ipomoea pes-caprae (L.) Sw. subsp. brasiliense
(L.) Ooststr.
Muống biển

Fabaceae
Họ Đậu
40
Canavalia cathartica Du Petit-Thouars
Đậu cộ biển
41

Verbenaceae
Họ Cỏ roi ngựa
47
Clerodendrum inerme (L.) Gaertn.
Ngọc nữ biển
48
Premna serratifolia L.
Cách, Vọng cách
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

15
3.3.2. Động vật
Một số loài động vật thường thấy ở khu vực đầm Đông Hồ:

STT
TÊN KHOA HỌC
TÊN VIỆT NAM

Squillidae

01
Squilla mantis (oratoria)
Tôm tích, Tôm bọ ngựa

Portindae

02
Scylla serrata
Cua biển


Arcacea

09
Arca granosa
Sò huyết

Corbiculidae

10
Cyrena sumatrensis
Vọp

Veneridae
Họ Ngao
11
Meretrix lyrata (Sowerby)
Nghêu

Portamididae

12
Cerithidea cingulata Gmelin
Ốc leng, Ốc mút

Octopodidae
Họ Bạch tuộc
13
Octopus sp
Mực tua


Serranidae
Họ Cá mú
19
Epinephelus arcolatus (Forskal)
Cá mú chấm

Periophthalmidae
Họ Cá thòi lòi
20
Periophthalmus schlosseri (Pallas)
Cá thòi lòi

Apocrypteidae
Họ Cá bống kèo
21
Boleophthalmus boddarti (Pallas)
Cá bống sao

Varanidae
Họ Kỳ đà
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

16
22
Varanus salvator (Laurenti, 1786)
Kỳ đà nước

Boidae
Họ Trăn
23

Ardea cinerea (Gould)
Diệc xám
32
Egretta garzetta (Linnaeus)
Cò trắng, Cò cá
33
Nycticorax nycticorax (Linnaeus)
Vạc

Ciconiidae
Họ Hạc
34
Leptoptilos javanica
Già đẫy
35
Mycteria leucocephala
Giang sen

Anatidae
Họ vịt
36
Dendrocygna javanica (Horsfield)
Le nâu, Le le

Rallidae
Họ Gà nƣớc
37
Amaurornis phoenicurus
Quốc


thực vật phù du trong vùng. Vào mùa khô sinh khối thực vật khá cao dao động từ
2.160 – 6.300 tế bào/lít; sang thời điểm màu mưa sinh khối đã giảm đi rõ rệt chỉ còn
dao động từ 613 – 1.581 tế bào/lít; sự khác biệt này được xác định do vào mùa khô
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

17
khối nước biển chi phối toàn bộ chất lượng nước trong hồ, nước hồ thường trong nên
thực vật trong nước có điều kiện phát triển trong khi sang thời điểm mùa mưa nước
từ trong phía nội đồng đổ ra nhiều mang theo nhiều cặn, bùn đất làm cho nước bị
đục, thực vật phát triển kém dẫn đến giảm nhiều số lượng so với mùa khô.
Thực vật phù du có thành phần loài khá phong phú (142 loài), mật độ cao hơn
so với ven biển Đông Nam Bộ, vào mùa khô là 4.200.000 tế bào/m
3
và vào mùa mưa
là 1.097.000 tế bào/m
3
, chứng tỏ năng suất sinh học sơ cấp của vùng nghiên cứu khá
cao, hoàn toàn thích hợp cho nuôi các loài thủy sản sử dụng thực vật phù du làm thức
ăn. Tảo silic không chỉ chiếm đa số về thành phần loài mà còn có mật độ cao nhất.
Các loài tảo độc không nhiều, chưa thấy hiện tượng “triều đỏ”.
b) Phiêu sinh động vật
Theo kết quả nghiên cứu trên, phân tích các mẫu thu tại các điểm nghiên cứu
đã thu được 66 loài động vật phù du, trong đó số loài tập trung nhiều nhất ở nhóm
Copepoda 35 loài, Cladocera 15 loài, Chaetognata 4 loài và nhóm Decapoda 3 loài.
Ngoài ra còn phát hiện được 7 dạng ấu trùng của các dạng chưa trưởng thành.
Động vật phù du có thành phần loài ở mức độ trung bình (41 loài), mật độ
động vật phù du trung bình là 260 con/m
3
, thấp hơn nhiều so với vùng biển ven bờ
Cà Mau – Rạch Giá (1.542 con/m

giác Long Xuyên và một hướng từ sông Giang Thành chảy về làm môi trường nước
có nhiều thay đổi vì vậy có thể nói động vật đáy trong vùng này thường chịu các biến
đổi rất đột ngột về điều kiện môi trường có khi diễn ra theo ngày, theo giờ.
Nhận xét chung về đa dạng sinh học của đầm Đông Hồ
Nhìn chung, đầm Đông Hồ là một vùng đất ngập nước mặn, vì thế mức độ đa
dạng sinh học của vùng này thuộc loại cao so với các loại đất ngập nước khác của
Kiên Giang.

IV. CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN GIÁ TRỊ ĐẤT NGẬP NƢỚC, RỪNG NGẬP
MẶN VÀ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA ĐẦM ĐÔNG HỒ
4.1. Các giải pháp về cơ chế chính sách
4.1.1. Xác định đầm Đông Hồ là khu vực cần phải bảo tồn cảnh quan và đa dạng
sinh học
Quy hoạch cụ thể các khu vực chức năng để đầm Đông Hồ phát huy tốt nhất
các chức năng tự nhiên vốn có từ ngàn xưa đến giờ. Đảm bảo giữ gìn được giá trị
cảnh quan hùng vĩ và thơ mộng cùng giá trị đa dạng sinh học của đầm Đông Hồ,
đồng thời phát huy được việc phát triển kinh tế xã hội cho người dân địa phương.
4.1.2. Thành lập Ban Quản lý Khu Bảo tồn đầm Đông Hồ
Sau khi được công nhận là Khu Bảo tồn, cần phải thành lập Ban Quản lý Khu
Bảo tồn đầm Đông Hồ, nhằm mục đích quản lý tổng hợp các giá trị cảnh quan và đa
dạng sinh học của khu vực này.
4.1.3. Xây dựng quy chế hoạt động của Ban Quản Lý Khu Bảo tồn đầm Đông Hồ
Phải xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Quản lý Khu Bảo tồn
đầm Đông Hồ. Trong quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Quản lý cần thể hiện rõ
quy chế về mặt tổ chức và phương thức quản lý, đồng thời cần nhấn mạnh đến tính
hệ thống của các khu vực đầm Đông Hồ nằm trong mạng lưới các khu bảo tồn của
Kiên Giang, Việt Nam, khu vực Đông Nam Á, châu Á và toàn cầu.
4.2. Các giải pháp về kỹ thuật
4.2.1. Xây dựng các biện pháp quản lý tổng hợp có sự tham gia của cộng đồng
trong việc quản lý Khu Bảo tồn đầm Đông Hồ



n
n
g
gcác biện pháp quản lý tổng hợp có sự tham gia của cộng
đồng trong việc quản lý Khu Bảo tồn đầm Đông Hồ là cần thiết để thực sự phát huy
được hiệu quả trong công tác bảo tồn Hệ Sinh thái đất ngập nước này.
4.2.2. Đầu tư xây dựng mạng lưới quan trắc diễn biến tài nguyên thiên nhiên và
môi trường trên địa bàn Khu Bảo tồn đầm Đông Hồ
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

19
Để làm tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Hệ Sinh
thái đất ngập nước đầm Đông Hồ, cần thiết phải có mạng lưới quan trắc theo dõi diễn
biến tài nguyên thiên nhiên và môi trường trên địa bàn. Qua việc thu thập và phân
tích số liệu thường xuyên liên tục, công tác quản lý sẽ bén nhạy hơn trong việc suy
đoán diễn biến tài nguyên thiên nhiên và môi trường nhằm điều chỉnh hoặc đưa ra
các quyết định quản lý chính xác và kịp thời hơn.
4.2.3. Xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường Khu Bảo
tồn đầm Đông Hồ bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Trong quá trình xây dựng quy hoạch các khu chức năng cho Khu Bảo tồn đầm
Đông Hồ cần thiết lập được bản đồ số về hiện trạng đất đai và thảm thực vật tự
nhiên, đây là cơ sở tốt để thực hiện bước tiếp theo là viết các phần mềm cần thiết cho
việc quản lý hệ sinh thái đất ngập nước đầm Đông Hồ bằng hệ thống thông tin địa lý.
Điều này sẽ tránh được việc trùng lấp trong công tác quy hoạch cũng như trong việc
thiết lập các dự án phát triển trong tương lai cho vùng đầm Đông Hồ.

giao kỹ thuật nuôi trồng thủy sản sạch cho cư dân địa phương. Tổ chức nuôi trồng
thủy sản sạch và đăng ký nhãn hiệu thủy sản sạch cho người dân địa phương phải
được xem là công tác trọng tâm của ngành thủy sản tỉnh Kiên Giang hiện nay.
4.3.3. Chú trọng đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng
Để phát triển kinh tế xã hội, cần phải phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ
cho các ngành kinh tế, đặc biệt đối với du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy hải sản
sạch.
Tuy nhiên, chúng ta cần định hướng rõ rằng việc xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng kỹ thuật không được làm phá vỡ cảnh quan thiên nhiên của hệ sinh thái đất
ngập nước đầm Đông Hồ. Trong quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, phải chú trọng
đến sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, nên nhớ rằng phát triển để bảo tồn và bảo
tồn để phát triển.
4.4. Các giải pháp về nghiên cứu và giáo dục môi trƣờng
4.4.1. Đối với đội ngũ cán bộ công chức các ban ngành có liên quan đến công tác
quản lý trực tiếp Khu Dự Trữ Sinh Quyển Kiên Giang.
Đây là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo tồn và phát triển bền vững hệ
sinh thái đất ngập nước đầm Đông Hồ, họ cần được tạo điều kiện để nâng cao năng
lực về khả năng nghiên cứu và tham gia nghiên cứu để trở thành những người làm tốt
công tác giáo dục môi trường.
Để thực hiện được điều này, cần thiết phải có các chương trình gắn kết giữa
các trường Đại học, các Viện nghiên cứu và Ban quản lý Khu Bảo tồn đầm Đông Hồ
để tổ chức các hội thảo khoa học, các khóa đào tạo và đào tạo lại có liên quan đến
việc nghiên cứu và giáo dục môi trường cho đội ngũ cán bộ công chức nói trên.
4.4.2. Đối với cư dân địa phương
Cần có các chương trình lồng ghép về phổ biến thông tin và giáo dục về môi
trường trong các cuộc họp tổ dân phố của cư dân địa phương. Một khi người dân địa
phương nhận thức rõ về ý nghĩa và giá trị của hệ sinh thái đất ngập nước đầm Đông
Hồ, họ sẽ trở thành các tuyên truyền viên đắc lực cho sự nghiệp bảo tồn và phát triển
hệ sinh thái này.
4.4.3. Đối với khách du lịch

Đầm Đông Hồ ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là một vùng sinh thái đất
ngập nước có giá trị cảnh quan cũng như giá trị đa dạng sinh học cao. Việc bảo tồn
các giá trị này là điều cấp thiết để góp phần vào sự nghiệp bảo tồng diện tích đất
ngập nước của thế giới hiện còn quá ít.
Các việc cần thiết phải làm ngay, theo chúng tôi gồm:
1. Lập hồ sơ quy hoạch và xây dựng Khu Bảo tồn đất ngập nước đầm Đông
Hồ tiến đến trình công nhận là một khu Ramsar site.
2. Thành lập Ban Quản lý Khu Bảo tồn đất ngập nước đầm Đông Hồ - Hà
Tiên để có kế hoạch và các giải pháp quản lý cụ thể nhằm phát huy tối đa mọi tiềm
năng hiện có về mặt đa dạng sinh học và cảnh quan.
3. Ủy ban nhân dân Tỉnh Kiên Giang chủ trì và phối hợp với các nhà khoa
học, các nhà quản lý, các nhà ra chính sách để hỗ trợ cho Ban Quản lý Khu bảo tồn
đất ngập nước đầm Đông Hồ - Hà Tiên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Tài liệu tham khảo
1. The Ramsar Info Pack. What are wetlands. Internet: Wetlands.
2. Types of Wetlands and Their Roles in the Watershed. Internet: Wetlands.
3. Nguyễn Xuân Quý (2004). Giới thiệu quy hoạch chung khai thác, sử dụng đầm
Đông Hồ - Hà Tiên.
4. Viện Khoa Học Thủy Lợi miền Nam (2006). Nghiên cứu Hiện Trạng Môi Trường
Đầm Đông Hồ, Hà Tiên – Kiên Giang.
Hội thảo “Định hướng qui hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam”

22
ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƢỜNG SINH THÁI
CỦA VÙNG ĐẤT NGẬP NƢỚC “ĐẦM ĐÔNG HỒ - HÀ TIÊN”
TỈNH KIÊN GIANG

- TS. Trƣơng Minh Chuẩn -

23
I. Sơ lƣợc về tình hình nghiên cứu
Đầm Đông Hồ là địa danh nổi tiếng của vùng đất Hà Tiên, có những điểm đặc
thù so với hệ đầm phá trong nước và khu vực ĐBSCL; chịu ảnh hưởng và có tác
động đến vùng biển Tây Nam. Nhìn lại quá khứ cho thấy vị trí địa lý và vai trò chức
năng của đầm Đông Hồ đã được phát hiện, vì là vị trí an toàn để tránh mùa giông bão
của biển Tây Nam, cung cấp nước ngọt cho vùng, cho tàu thuyền trên đường hàng
hải về Đông Nam Á. Thời Mạc Cửu làm Tổng trấn Hà Tiên (1708) đã mở mang khá
toàn diện vùng đất này và đầm Đông Hồ trở thành thương cảng và là căn cứ của thủy
quân thời đó; Đông Hồ cũng được đánh giá là một thắng cảnh trong “Thập cảnh Hà
Tiên” thời bấy giờ. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, vị trí địa lý và những chức năng tự
nhiên của đầm đều được khai thác và đã thực sự phục vụ đời sống và sự phát triển
của vùng đất Hà Tiên, đặc biệt trong giai đoạn trước đây khi đường bộ đến Hà Tiên
rất khó khăn thì Đông Hồ đã trở thành cửa ngõ của đường thủy tạo sự nhộn nhịp cho
vùng.
Tuy vậy việc nghiên cứu về đầm Đông Hồ từ thời Mạc Cửu đến 1975 rất hạn
chế và hầu như chỉ được biết đến là một thắng cảnh lớn của đất Hà Tiên; điều này đã
thể hiện qua các bài thơ Nôm xướng họa của Mạc Thiên Tích và các thành viên
nhóm Tao đàn Chiêu Anh Các (1736); được mô tả trong “Địa phương chí Hà Tiên”
của Trần Trung Thiêm (1971) và “Việt Nam hình thể đồng bằng”, “Vịnh Thái Lan”
của Sơn Hồng Đức (1973). Trong tài liệu “Tìm hiểu Kiên Giang” của Ban Nghiên
cứu lịch sử Đảng Kiên Giang (1986) cũng đã đề cập đến vai trò của đầm Đông Hồ-
Hà Tiên; tháng 7-2000 Công ty Tư vấn cổ phần xây dựng Kiên Giang đã lập quy
hoạch khai thác sử dụng đầm Đông Hồ; UBND tỉnh Kiên Giang ra Quyết định số
712/UB-QĐ ngày 11-4-2001 phê duyệt đề án quy hoạch chung khai thác sử dụng
đầm Đông Hồ - Thị xã Hà Tiên; vào tháng 11-2004, thị xã Hà Tiên đã tổ chức hội
thảo khoa học (“Phát triển du lịch sinh thái Đông Hồ - Hà Tiên”; tháng 10-2006 Viện
Khoa học Thủy lợi miền Nam - Bộ NN&PTNT) đã lập báo cáo đề tài “Nghiên cứu
hiện trạng môi trường đầm Đông Hồ - Hà Tiên - Kiên Giang”.
Đề tài 48-06-14 (1983-1985) cấp Nhà nước lần đầu tiên đã xác định: đầm phá

4,6
3,5
0,7 - 1,5
Tam Giang – Cầu
Hai
Thừa Thiên Huế
216
6,1
4
1,6 - 4
Lăng Cô
Thừa Thiên Huế
16
6,1
4
12 - 2
Trường Giang
Quảng Ngãi
36.9
14,7
4
1,1 - 2
An Khê
Quảng Ngãi
3,5
2,9
1,1
1,3 - 2
Nước Mặn
Quảng Ngãi

18
9,3
1,9
1,2 - 2
Thủy Triều
Khánh Hòa
25,5
17,5
3
1,2 - 2
Đầm Nại
Ninh Thuận
8
6
3,5
2,8 - 3,2

II. Các đặc điểm tự nhiên và môi trƣờng sinh thái của đầm Đông Hồ
Đầm Đông Hồ nằm ở phía Đông của thị xã Hà Tiên, có diện tích tự nhiên
1.384ha và diện tích mặt nước là 936 ha. Đông Hồ là đầm điển hình cho loại thủy
vực ven bờ thuộc vùng biển Tây Nam, phía Bắc tiếp giáp với sông Giang Thành và
phía Nam có cửa Trần Hầu đổ ra biển. Đầm có địa hình lòng chảo nên khi tiếp nhận
nguồn nước có mang phù sa từ sông Giang Thành với dòng chảy giảm nhỏ và do ảnh
hưởng của thủy triều biển phía Tây Nam, đã tạo ra hiện tượng lắng đọng phù sa trong
lòng chảo với độ dày phù sa từ 1,3 đến 1,5m, động lực dòng chảy từ lâu đời cũng đã
tạo cho địa hình của đầm có nhiều luồng lạch và những vùng bồi lắng; đặc biệt với 2
cồn nỗi chia lòng đầm thành 2 vùng khác biệt(i) phía Đông có độ bồi lắng lớn hơn(ii)
phía Tây độ bồi lắng nhỏ hơn; trên cồn dân cư đã tập trung sinh sống và canh tác.
Khu hệ sinh vật có mức độ đa dạng sinh học khá cao vì nhiều yếu tố(i) Đầm nằm
trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa cao, có 2 mùa mưa, nắng rõ rệt;

khô (ii) luồng cá nước ngọt từ sông Mê Kông tràn về trong giai đoạn mùa mưa, cho
khả năng đánh bắt sản lượng cao trong thời gian cả năm. Ở cửa ra đầm Đông Hồ và
các cửa kênh thoát lũ có mặt các nhóm cá nước mặn, nước ngọt thùy thuộc sự thay
đổi độ mặn theo mùa trong năm.
Nhìn chung sự tồn tại của chuỗi thức ăn ngắn tạo ra năng suất đầu ra của HST
trong vùng khá cao.
III. Giá trị của đầm Đông Hồ đối với khu vực Hà Tiên và TGLX
1) Giá trị cảnh quan và vị thế: Đầm Đông Hồ là cửa ngõ ra biển Tây Nam,
là một trong 4 đơn vị cảnh quan của vùng Hà Tiên. Cảnh quan của đầm tạo ra danh
thắng hấp dẫn du khách, đồng thời vị trí địa lý của đầm đã tạo cho Đầm một “tài
nguyên vị thế”. Cảnh quan của đầm có thể ứng dụng vào phục vụ phát triển kinh tế
xã hội của vùng; cảnh quan đầm sẽ góp phần tạo ra cho Hà Tiên một “cấu trúc du
lịch bền vững” đó là (i) tài nguyên, sản phẩm du lịch (ii) khách du lịch (iii) và dịch
vụ du lịch, nghĩa là cảnh quan sẽ thu hút khác du lịch và từ đó dịch vụ du lịch phát
triển.
2) Giá trị sinh cƣ: giá trị tài nguyên đầu tiên của đầm phải kể đến là mang lại
môi trường sống và nguồn sống cho khoảng 4 vạn dân cư trong vùng, trong đó có
trên 2000 cư dân khu phố V – phường Đông Hồ có cuộc sống gắn liền với đầm từ lâu
đời, họ sống nhờ nguồn lợi tài nguyên của đầm như là khai thác thủy hải sản, khai
thác dừa nước. Nhờ có sự điều hòa của đầm mới có nguồn nước ngọt cung ứng cho
nông nghiệp và sinh hoạt; trên đầm có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, làm đường giao
thông quanh hồ, đầm có giá trị giao thông đường thủy nếu được nạo vét luồng lạch,
xây dựng “làng sinh thái” phục vụ du lịch. Đầm cũng là nơi neo đậu tránh gió bão
cho khoảng 1000 phương tiện tàu thuyền vùng Hà Tiên. Đầm còn đóng vai trò điều
tiết nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp vùng Hà Tiên và TGLX với gần
100.000ha đất canh tác.

Trích đoạn Thông tin chung về đề tài: Mục tiêu, đối tượng quy hoạch: Phạm vi quy hoạch: Các giá trị văn hóa – lịch sử du lịch của đầm Đông Hồ và vùng Hà Tiên: Thực trạng môi trường, khả năng và nguyên nhân suy thoái môi trường đầm Đông Hồ và vùng lân cận – vài đánh giá nhanh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status