LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn mười năm thực hiện đường lối mới của Đảng và Nhà nước sản
xuất cũng như xuất khẩu gạo đã từng bước phát triển. Từ một nước thiếu
lương thực nay đã là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, sản lượng xuất gạo
của Việt Nam hàng năm tăng lên liên tục, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang
chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh của các sản phẩm ở từng
vùng, từng địa phương trong cả nước. Kim ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên
đều đặn, thị trường được mở rộng liên tục. Hiện nay, lúa gạo của Việt Nam đã
có mặt ở trên 80 quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên điều đó không có nghĩa xuất khẩu gạo của nước ta đã phát
triển vững chắc và đạt hiệu quả cao. Mặc dù đã tham gia xuất khẩu gạo được
13 năm nhưng hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn còn thấp. Có nhiều
vấn đề nổi cộm trong xuất khẩu gạo như: chất lượng gạo còn thấp, chênh lệch
giá xuất khẩu của Việt Nam và thế giới còn lớn. Khả năng cạnh tranh của
Việt Nam trên thị trường thế giới chủ yếu dựa vào giá thấp, thị trường không
ổn định. Hệ thống thu gom xuất khẩu còn yếu kém, đơn lẻ nên chưa phù hợp
và đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu. Quản lý điều hành của các Bộ, ngành liên
quan còn chậm, thiếu linh hoạt, chính vì thế việc xuất khẩu gạo của Việt Nam
còn kém hiệu quả và thua thiệt nhiều.
Hiện nay, số lượng xuất khẩu của ta nhiều song lại phải bán với giá thấp
vì chưa hấp dẫn với khách hàng quốc tế. Nguyên nhân của vấn đề này vẫn là
mối quan tâm của tất cả các nhà lãnh đạo, các ngành liên quan bởi họ vẫn
chưa tìm ra lối thoát thực sự cho sản phẩm gạo Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhận thức được lợi ích to lớn và những khó khăn mà xuất khẩu gạo
nước ta đang gặp phải, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Lợi thế trong sản xuất
và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam ”.
1
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU
THỤ LÚA GẠO
Nền kinh tế mỗi nước đều có những nguồn lực nhất định ( đất đai, tiền
2
lực và khả năng sản xuất giới hạn. Trao đổi buôn bán quốc tế cho phép quốc
gia mở rộng khả năng tiêu dùng vượt quá khả năng sản xuất, vấn đề đặt ra cho
mỗi quốc gia là phải chọn mặt hàng, phân bổ nguồn lực một cách hợp lý để sử
dụng một cách hợp lý.
Lý thuyết lợi thế tương đối được hình thành dựa vào việc xem xét chi
phí so sánh để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm ở các nước. Ví dụ ở Việt
Nam sản xuất một máy kéo phải hi sinh 10 tấn lúa, Nhật Bản phải hi sinh 5 tấn
lúa nên chi phí sản xuất lúa của Việt Nam bằng 1/10 máy kéo, của Nhật Bản
bằng 1/5 máy kéo. Theo lý thuyết lợi thế tương đối của Ricacdo: Việt Nam có
chi phí sản xuất lúa thấp hơn Nhật Bản nên Việt NAm chuyên môn hoá sản
xuất lúa, còn Nhật có chi phí sản xuất máy kéo thấp hơn thì Nhật chuyên môn
hoá sản xuất máy kéo và hai nước tiến hành trao đổi cho nhau. Sau trao đổi
tiêu dùng của hai nước nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF).
Lợi thế tương đối được thực hiên trên nguyêntắc chuyên môn hoá sản phẩm có
chi phí thấp hơn sau đó trao đổi lấy sản phẩm có chi phí so sánh cao hơn nhằm
thu lợi từ giá tương đối rẻ hơn so với sản xuất trong nước.
Như vậy, thương mại dựa trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm
có lợi thế tương đối cũng làm tăng thêm lợi ích xã hội. Lý thuyết đã được xây
dựng trên một loạt giả thiết được đơn giản hoá như chỉ có 2 nước sản xuất
hàng hoá, nhân tố sản xuất duy nhất là lao động có thể di chuyển tự do trong
nước, chi phí sản xuất không đổi, công nghệ không đổi, thương mại hoàn tự
do. Do vậy, mặc dù quy luật của lợi thế so sánh là nguyên lý cơ bản quan
trọng của kinh tế học nhưng vẫn hạn chế vì nó chủ yếu dựa vào lý luận giá trị
lao động cho rằng lao động là yếu tố đầu vào duy nhất. Trong thực tế lao động
không phải là đồng nhất, những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác
nhau, hơn nữa đầu vào của sản xuất còn bao gồm: đất đai, vốn, khoa học công
nghệ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường đang diễn ra mạnh mẽ chỉ khai thác
lợi thế so sánh chưa đủ mà phải khai thác lợi thế cạnh tranh.
mình để tạo thành ưu thế hàng hoá trong cạnh tranh.
4. Điều kiện vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh
tranh.
Thuyết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh có ý nghĩa hết sức thiết thực
đối với sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, muốn lợi dụng các thuyết lợi thế cần
phải có những điều kiện nhất định:
Một là: Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh được vận dụng trong điều
kiên ngoại thương vì vậy các nước muốn khai thác lợi thế so sánh và lợi thế
cạnh tranh trước tiên phải có nền sản xuất hàng hoá theo hướng xuất khẩu.
Đây là điều kiện cơ bản vận dụng nguyên lý về lợi thế cạnh tranh.
Hai là: Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh luôn gắn với yêu cầu
mang tính xã hội, trong đó vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước mang tính
quyết định. Vì vậy, để điều vận các lý thuyết về lợi thế là có cơ chế quản lý
năng động, các chính sách kinh tế mở tạo khả năng khai thác các tiềm năng tự
nhiên tạo ra sức cạnh tranh.
Ba là: Muốn khai thác được lợi thế cần đánh giá đầy đủ chúng, muốn
vậy phải có các chuyên gia kinh tế sử dụng thành thạo các phương pháp đánh
giá gắn liền với các hoạt động kinh tế thị trường.
4
Bốn là: Để đánh giá được các lợi thế phải có hệ thống thông tin với
mức độ tin cậy cao, phản ánh chính xác số lượng, chất lượng các yếu tố để đáp
ứng yêu cầu đó phải điều tra, khảo sát các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
trong nước, nắm chắc các thông tin về thị trường thế giới.
5. Lợi thế của Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Vấn đề tích cực trong hội nhập là chủ động tham gia các quan hệ hợp
tác thương mại, tham gia vào phân công lao động quốc tế mà biểu hiện tập
trung và chủ yếu nhất là thực hiện chiến lược đẩy mạnh sản xuất – xuất khẩu
hàng hoá.
Qua phân tích nghiên cứu, các nhà kinh tế cho rằng Việt Nam có đủ 4
yếu tố rất cơ bản về lợi thế trong hoạt động xuất khẩu nông sản đặc biệt là
áp có tổng bức xạ mặt trời lên tới 140 – 200 kilo calo/1cm2/năm, số giờ nắng
trong năm đạt trung bình 1200giờ/năm và tập trung mạnh vào thời kỳ làm hạt
của lúa, góp phần cho năng suất cao. Lượng mưa hàng năm của nước ta rất
lớn, trung bình 1500 – 2000mm, hệ thống nước ngầm có trữ lượng lớn, chỉ
tính dưới lớp đất dày 1m lượng nước dự trữ đã là 100 –150mm, hệ thống sông
ngòi dày dặc...là điều kiện tiên quyết cho sản xuất lúa nước phát triển vì nó
đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho hàng triệu ha lúa. Ngoài ra hệ thống sông
ngòi dày đặc cũng đem lại cho Việt Nam nhiều đồng bằng thung lũng, tạo nền
tảng cho ruộng lúa nước ra đời ở nước ta.
Ngoài ra, nước ta có điều kiện và sinh thái khá phong phú và đa dạng.
Với sự hình thành 7 vùng sinh thái khác nhau mỗi vùng có đặc thù và thế
mạnh riêng trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Với việc bố trí cây trồng,
vật nuôi... mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta, đặc biệt có nhiều tiểu
vùng “sinh thái – khí hậu đặc thù” cho phép phát triển một số cây đặc sản có
giá trị xuất khẩu cao mà ít nơi có được tạo cho nông sản Việt Nam có năng
suất sinh học cao và có những đặc trưng về “hương vi - chất lượng” tự nhiên
được thế giới ưa thích, là những lợi thế trong cạnh tranh về tính độc đáo của
nông sản Việt Nam. Mà ở một số vùng đã hội tụ được nhiều điều kiện thuận
lợi cho việc bố trí vật nuôi cây trồng có giá trị xuất khẩu lớn mang tính đặc
sản có giá trị của nền nông nghiệp Việt Nam như: Vùng Tây Nguyên có cây
cà phê, vùng Đông Nam Bộ phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản,
vùng trung du miền núi phía Bắc là vùng có tiềm năng kinh tế đa dạng cho
phép bố trí cây trồng vật nuôi có hiệu quả như cây chè, chăn nuôi đại gia súc.
5.3 Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa
lớn của cả nước.
Đồng bằng sông Hồng(ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL)
là hai vựa lúa lớn nhất của cả nước, được đánh giá vào loại phì nhiêu trên thế
giới.
Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng lớn có diện tích 1,5 triệu ha được
bồi đắp do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, đây cũng là đồng bằng cổ
tiêu dùng ngày càng đa dạng hiện nay trên thế giới.
Với đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng lúa
nước dã có nhiều thuận lợi cơ bản, chứa đựng những “tiềm năng” về lợi thế
cạnh tranh của ngành nông sản trên thị trường. Đó là: năng suất, chất lượng và
chi phí sản xuất thấp...Nhờ lợi thế vốn có mà trong nhiều năm qua tuy xuất
khẩu ở nước ta chỉ ở dạng nguyên liệu thô hoặc có sơ chế nhưng vẫn có lãi.
Song đó cũng chỉ là tiền đề trong quá trình cạnh tranh, vấn đề phải biết phát
huy tốt các lợi thế đó để không ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của nông sản xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu gạo trong thời gian tới, bằng
những giải pháp hữu hiệu về khoa học công nghệ, chính sách, tạo sự biến đỏi
thực sự trong chất lượng và năng suất lao động xã hội. Với sự thay đổi mục
tiêu chiến lược của cạnh tranh chuyển trọng tâm từ lợi thế so sánh dựa vào
7
điều kiên tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và giá nhân công rẻ
sang lợi thế cạnh tranh mạnh hơn dựa trên tiềm lực khoa học với chi phí thấp
cũng như nhiều sản phẩm và quy trình độc đáo hơn.
5.4. Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào.
Hiện nay với 37 triệu người đang ở trong độ tuổi lao động ( chiếm 50 %
dân số ), hàng năm có khoảng 1 - 1,2 triệu người đến tuổi lao động. Lao động
Việt Nam hơn 60 % hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với các ưu thế đặc
trưng là cần cù, thông minh và có khả năng tiếp thu nhanh chóng khoa học
công nghệ...Hơn nữa, giá nhân công lại rẻ và thấp hơn nhiều các nước trong
khu vực: giá công lao động của Việt Nam chỉ bàng 1/3 của Thái Lan, bằng
1/30 của Đài Loan, 1/26 của Singapo. Đây là lợi thế rất lớn cần khai thác có
hiệu quả. Bên cạnh đó còn không ít hạn chế về lao động của Việt nam như:
trình độ lao động còn thấp, hầu hết chưa qua đào tạo, ý thức tổ chức kỷ luật
chưa cao. Do đó chúng ta cần phải không ngừng khắc phục những hạn chế đó
để đáp ứng được yêu cầu của phân công lao động quốc tế.
5.5 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
Kể từ khi thực hiện đường lối của Đảng ( từ đại hội VI – 1981 ) đến nay
xuất khẩu trên toàn thế giới, phần còn lại các nước phát triển chiếm 20%.
Theo phạm vi châu lục thì Châu Á trung bình xuất khẩu lớn nhất chiếm 75%,
thứ đến là Mỹ xuất khẩu khoảng 20%, cả 3 châu Châu Âu, châu Đại Dương,
Châu Phi chỉ chiếm 5% tổng xuất khẩu gạo thế giới.
Theo kinh tế học, độ co giãn của cung đối với giá cả thường lớn hơn độ
co giãn của cầu. Khi giá tăng người ta có thể đầu tư cho xuất khẩu gạo nhiều
hơn như thông qua mở rộng diện tích canh tác, cải tiến giống, công nghệ chế
biến...Song điều này diễn ra chậm chạp và cần có thời gian để điều chỉnh.
Tổng cung gạo biến động phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như thời
tiết, thiên tai, bão lũ, hạn hán,sâu bệnh...
2.Cầu:
Khi giá tăng, người ta cũng có thể thay thế việc tiêu dùng gạo bằng các
loại lương thực khác như: lúa mỳ, ngô...song sự thay đổi này bị hạn chế bởi
thói quen và tập quán tiêu dùng. Trong ngắn hạn tổng cầu về gạo (AS) là
tương đối ổn định.
Trước khi do thiếu lương thực triền miên nhu cầu lương thực của con
người rất đơn giản chỉ cần có gạo là đủ ăn. Trước nhu cầu đó, việc sản xuất
lúa gạo cũng đơn giản, những loại giống lúa nào ngắn ngày cho năng suất cao
đều được coi là giống tốt và được áp dung rộng rãi. Đối với những giống lúa
đặc trưng truyền thống mặc dù có hương vị nhưng năng suất thấp nên việc bảo
tồn gần như được coi nhẹ. Cùng với văn minh xã hội hiện đại ngày nay thì nhu
cầu của con người cũng không ngừng tăng lên. Nhu cầu của con người không
chỉ dừng lại ở mức đủ gạo để ăn mà đòi hỏi những loại gạo có chất lương cao
- đặc sản, những loại gạo tự nhiên. Sở dĩ có gạo “tự nhiên” bởi lẽ cùng với
những thành tựu của KHCN là tác hại của lượng hoá chất tồn đọng trong sản
phẩm. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu đã phát hiện ra rằng: tiêu dùng
những loại gạo còn lưu lượng hoá chất là vô cùng tác hại. Hơn nữa, những loại
9
gạo còn thâm canh theo phương thức cổ truyền, tự nhiên bao giờ cũng có
hương vị đậm đà hơn các sản phẩm cùng loại mà sử dụng quá nhiều hoá chất.
dùng những sản phẩm được chế biến từ gạo tăng lên. Đồng thời nhu cầu gạo
tăng lên do dân số tăng lên. Vì vậy vhúng ta thực hiện chiến lược xuất khẩu
sản phẩm, ta phỉa lấy cơ sở xuất khẩu là do nhu cầu khi có nhu cầu mới xuất
10
hiện. Đánh giá tương đối dung lượng thế giới sẽ cho phép xác định nhu cầu và
khả năng cung cấp gạo cho thị trường.
Thứ hai: Sự biến động của giá gạo.
Giá gạo xuất khẩu gạo được coi là giá tổng hợp trong đó bao gồm: chi
phí sản xuất, bao bì, vận chuyển, thu mua, thuế xuất nhập khẩu ... Cũng như
các mặt hàng khác, giá gạo biến động rất phức tạp bởi nó bị chi phối bởi nhiều
yếu tố như: cung, cầu, cạnh tranh. Hơn nữa gạo là sản phẩm thiết yếu nên một
sự biến động nhỏ của cung hoặc cầu đều làm thay đổi giá.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cầu về gạo tương đối bão hoà,
cung về gạo ngày càng tăng dẫn đến giá gạo trên thị trường thế giới rất thấp -
ảnh hưởng lớn đến đời sống nông dân nhất là những vùng chuyên canh cây
lúa. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến những
biện pháp hỗ trợ nông dân trồng lúa và những doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
2. Thị hiếu người tiêu dùng.
Tuỳ theo mức sống, tập quán, việc tiêu thụ gạo của các nước, của các
khu vực trong những thời gian nhất định có những yêu cầu khác nhau thông
thường, gạo đánh bóng và sát trắng được ưa chuộng hơn. Tuy vậy, có những
vùng nông thôn người ta lại ưa loại gạo sát không kỹ chứa nhiều Vitamin và
này nay thế giới thiên về gạo ngon hạt dài. Từ những khác nhau về thị hiếu đó,
ta thấy rằng khi thâm nhập vào một thị trường nào đó trước hết ta phải tìm
hiểu thị hiếu của họ, xem họ cần loại gạo nào từ đó cung ứng phù hợp, có như
vậy mới nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo.
3.Chất lượng gạo xuất khẩu.
Chất lượng gạo là một trong những yếu tố quyết định tới sự cạnh tranh
trên thị truờng, đồng thời nó cải thiện được hiệu quả xuất khẩu. Chất lượng
gạo xuất khẩu cần được hiểu một cách rộng hơn với ý nghĩa là một chỉ tiêu
đảm bảo của hạt thóc là 14% thì khi cho vào kho bảo quản loại thóc này
thường dễ bị nảy mầm điều này cũng đồng nghĩa với hạt gạo làm ra dễ biến
màng và bạc bụng không đảm bảo tiêu chuẩn cho xuất khẩu gạo. Hơn nữa,
bản thân quá trình sấy khô lúa gạo nếu không đúng quy trình tức là cho vào
máy sấy một khối lượng lúa gạo quá lớn hoặc một lượng nhiệt quá cao sẽ dẫn
đến việc tạo ra một lượng lúa gạo có độ ẩm không đồng đều và gạo sẽ nhiều
hạt vỡ.
Với kho bảo quản:
Bất kể quốc gia nào có lúa gạo thì đều có kho bảo quản. Kho bảo quản
là một hệ thống các kho từ kho bảo quản ở các chợ thu mua, kho bảo quản tập
trung ở nơi xay xát và kho bảo quản ở các cảng giao hàng. Việc xây dựng các
kho một cách hiện đại đảm bảo là yêu cầu cần thiết đặt ra với mọi quốc gia
xuất khẩu lúa gạo.
Với chế biến:
Kỹ thuật xay sát được đánh giá theo chất lượng hạt gạo nguyên. Tuy
nhiên, lượng gạo nguyên cao hay thấp còn phụ thuộc kỹ thuật xay xát và
giống lúa. Thị hiếu tiêu dùng quyết định tới cách chế biến như thế nào. Có
12
nước ưa gạo sát trắng, không còn phôi và lớp cám ngoài cùng. Có nhiều nước
ưa gạo hấp chứa nhiều Vitamin và có giá trị dinh dưỡng cao. Việc chế biến
sao cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với chất lượng gạo
được nâng lên để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.
4. Cơ chế chính sách của Nhà nước đối với việc xuất khẩu gạo.
Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và quan hệ đối ngoại là yếu tố rất
nhạy cảm, tác động trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.
Sự tác động của cơ chế chính sách đến xuất khẩu gạo theo hai hướng:
kìm hãm xuất khẩu nếu chính sách đó không phù hợp và thúc đảy mạnh mẽ
xuát khẩu đạt hiệu quả cao nếu chính sách đó phù hợp.
Đối với xuất khảu gạo, chính sách tác động mạnh mẽ nhất là:
Chính sách đầu tư.