luận văn tốt nghiệp một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị - Pdf 24

MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái
sản xuất của mỗi doanh nghiệp.Thế nhưng, một điều thực sự được quan tâm là
số vốn đó được sử dụng như thế nào và đem lại hiệu quả ra sao?
Hiện nay các doanh nghiệp nhà nước có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nước ta. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn
này còn thấp. Theo điều tra trong toàn bộ các doanh nghiệp Nhà nước người ta
nhận thấy là vốn lưu động chu chuyển chậm, hệ số sinh lợi bình quân thấp.
Trong bối cảnh đó, công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị đã có những
cố gắng trong huy động và sử dụng vốn lưu động và đạt được những kết quả
nhất định. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được còn tồn tại một số vấn đề cần
phải giải quyết. Vì vậy, việc đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa
hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết, quan trọng.
Xuất phát từ thực tế trên em xin chọn đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty
cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị”
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề gồm 3 phần:
Chương 1: Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần
đầu tư và xây dựng đô thị.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng đô thị.
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XHCN Xã hội chủ nghĩa
DN Doanh nghiệp
VLĐ Vốn lưu động
DTT Doanh thu thuật

4
năng lực bản thân và các mặt hàng mà mình định kinh doanh, cách thức và
phương thức cung ứng sao cho có hiệu quả nhất Dưới góc độ của nhà quản trị
tài chính thì nó bao gồm ba nhóm quyết định:
-Quyết định đẩu tư
- Quyết định tài trợ
- Quyết định hoạt động hàng ngày
Như vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp là giải quyết một tập hợp đa dạng
và phức tạp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn. Các quyết định tài
chính dài hạn như lập ngân sách vốn, lựa chọn cấu trúc vốn là những quyết
định thường liên quan đến những tài sản hay những khoản nợ dài hạn, các quyết
định này không thể thay đổi một cách dễ dàng và do đó chúng có khả năng làm
cho doanh nghiệp phải theo đuổi một đường hướng hoạt động riêng biệt trong
nhiều năm. Các quyết định tài chính ngắn hạn thường liên quan đến những tài
sản hay những khoản nợ ngắn hạn và thường thì những quyết định này có thể
thay đổi dễ dàng. Trong thực tế, giá trị của tài sản lưu động chiếm một tỷ trọng
không nhỏ trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp và có vị trí quan trọng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một Doanh nghiệp có
thể xác định được cơ hội đầu tư có giá trị, xác định tỷ lệ nợ tối ưu nhưng cũng
có thể bị thất bại nếu không quan tâm đến thanh toán các hoá đơn trong năm
Do vậy, chuyên đề này đi sâu nghiên cứu vốn lưu động và việc nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
1.2. Vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.2.1. Khái nhiệm vốn
Theo quan điểm của K.Marx, vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá trị
mang lại giá trị thặng dư.
Như vậy, hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất được
doanh nghiệp đầu tư để tiến hành sản xuất kinh doanh. Vốn đó có thể là do con
người tạo ra được tích luỹ qua thời gian, có thể là tài nguyên thiên nhiên như đất
đai, khoáng sản

của vốn, nên việc yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng phí
thất thoát được đặt lên cao.
*Phân loại vốn
Tuỳ thuộc vào tiêu thức mà vốn của doanh nghiệp được phân loại như sau:
- Theo hình thái tài sản: Vốn của doanh nghiệp được phân chia thành hai bộ phận
chính là vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động là toàn bộ giá trị của tài sản
lưu động, vốn cố định là toàn bộ giá trị của tài sản cố định.
- Theo nguồn hình thành: vốn của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn
chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ.
1.3. Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.3.1. Khái niệm vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài yếu tố con người, tư liệu lao động,
còn phải có đối tượng lao động. Trong các doanh nghiệp đối tượng lao động đó
bao gồm: Một bộ phận là nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế đang dự trữ chuẩn
bị cho quá trình sản xuất. Một bộ phận là nguyên vật liệu đang trong quá trình
sản xuất (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm). Hai bộ phận này biểu hiện
dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp trong dự trữ
và sản xuất.
Khi kết thúc một chu kỳ sản xuất thì toàn bộ tư liệu lao động đã chuyển
thành thành phẩm. Sau khi được kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng thì sản phẩm
được nhập kho chờ tiêu thụ. Ngoài ra, còn có một bộ phận phải trả lương cho
cán bộ công nhân viên và các khoản phải thu và phải trả khác Toàn bộ khoản
đó được gọi là tài sản lưu động trong lưu thông.
Như vậy ngoài tài sản cố định doanh nghiệp còn phải có tài sản lưu động
trong dự trữ, trong sản xuất và trong lưu thông. Để hình thành các tài sản lưu
động này trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ, thì doanh nghiệp phải bỏ
ra một khoản vốn đầu tư nhất định. Như vậy có thể nói “Vốn lưu động của
Doanh nghiệp là số tiền vốn ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động
trong doanh nghiệp”
7

*Phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Đặc điểm khác biệt
lớn nhất là vốn cố định là chỉ chuyển dần dần giá trị của nó vào sản phẩm theo
mức khấu hao, trong khi giá trị vốn lưu động được chuyển dịch hoàn toàn một
lần vào sản phẩm.
Do đặc điểm vận động, số vòng quay của vốn lưu động lớn hơn rất nhiều
so với vốn cố định.
1.4. Phân loại vốn lưu động
1.4.1. Dựa vào vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh, vốn lưu động được chia thành 3 loại sau:
(1) VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm các khoản sau
- Vốn nguyên vật chính: Là giá trị các loại vật tư dùng trong dự trữ sản xuất mà
khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm.
- Vốn vật liệu phụ: là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất nhưng
chúng không trực tiếp tạo thành thực thể chính của sản phẩm, mà kết hợp với
nguyên vật liệu chính tạo nên sự thay đổi màu sắc, mùi vị … hoặc tạo điều kiện
cho sự hoàn thiện của sản phẩm.
- Vốn nhiên liệu: là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ trong hoạt động kinh
doanh.
- Vốn phụ tùng thay thế: là giá trị các loại vật tư dùng thay thế, sửa chữa các tài
sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn công cụ dụng cụ: là công cụ dụng cụ không đủ điều kiện là tài sản cố định
dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá trình
sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục, thì rất cần loại vốn này.
(2) VLĐ trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản vốn:
9
- Vốn sản phẩm đang chế tạo: là chi phí đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang

Để đảm bảo cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu khách hàng
thì cần dùng loại vốn này để dự trữ sản phẩm.
Việc phân loại vốn theo phương pháp này giúp cho việc xem xét đánh giá
tình trạng phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chu chuyển
vốn. Dựa vào đó, nhà quản lý sẽ có phương hướng thích hợp tạo ra một kết cấu
vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động.
1.4.2. Theo nguồn hình thành, vốn lưu động được chia làm 2 loại sau:
• Vốn chủ sở hữu:
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy
đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình sở
hữu doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn lưu động
được ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước (với doanh
nghiệp nhà nước), do vốn góp của thành viên (với doanh nghiệp công ty) hoặc
do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra, vốn lưu động tăng từ lợi nhuận bổ sung,
hoặc nhận góp vốn, hay huy động từ việc phát hành cổ phiếu.
• Nợ phải trả.
- Nguồn vốn đi vay: là khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương
mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn thông qua phát hành trái phiếu.
- Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp khác
trong quá trình thanh toán.
Việc phân loại này giúp cho ta thấy được kết cấu các nguồn hình thành nên
vốn lưu động của doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có thể chủ động và đưa ra
các biện pháp huy động quản lý vận dụng vốn lưu động hiệu quả hơn.
1.4.3. Theo hình thái biểu hiện: Bao gồm các khoản sau:
• Tiền và các tài sản tương đương tiền:
- Vốn bằng tiền
11
- Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
Việc tách riêng các khoản mục này nhằm mục đích cho doanh nghiệp theo

điều kiện cụ thể.
Ở các doanh nghiệp khác nhau, thì kết cấu vốn lưu động cũng khác nhau,
nên khi phân tích sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu hơn những đặc điểm riêng về
số vốn mà mình đang quản lý và sử dụng. Mặt khác có thể thấy được mặt tích
cực và hạn chế chất lượng trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động.
Có ba nhóm nhân tố chủ yếu sau:
- Các nhân tố về sản xuất: kỹ thuật, công nghệ, mức độ phức tạp của sản
phẩm, trình độ tổ chức, độ dài của chu kỳ sản xuất,….
- Các nhân tố về mặt cung cấp: khoảng cách giữa doanh nghiệp và nơi cung
cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư được
cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp.
- Các nhân tố thanh toán: Phương thức thanh toán theo hợp đồng bán hàng,
thủ tục thanh toán, kỷ luật thanh toán.
2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
2.1. Khái niệm
Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với một mục
đích do con người đề ra. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn là một
phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn vật lực của doanh nghiệp
để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với tổng chi
phí thấp nhất.
Như đã trình bày ở trên, vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng
trong các quá trình từ dự trữ, sản xuất, cho đến lưu thông. Nó vận động liên tục
từ khi còn là nguyên vật liệu đến khi thành sản phẩm và trở thành tiền tệ và quay
trở lại doanh nghiệp với giá trị cao hơn. Doanh nghiệp càng sử dụng tốt vốn đó
13
tốt bao nhiêu thì càng tăng khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy
nhiêu.
Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý và hiệu quả từng đồng
vốn lưu động, đồng nghĩa với việc nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động

kỳ
=
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
14
Đây là chỉ tiêu phản ánh số lần quay (vòng quay) của vốn lưu động trong
một thời kỳ nhất định, nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trên mối quan
hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu) và tổng vốn bình quân bỏ ra
trong kỳ. Số vòng quay này càng cao càng tốt.
Vốn lưu động bình quân trong kỳ (VLĐBQkỳ) được tính như sau:
VLĐ
đầu kỳ
+

VLĐ
cuối kỳ
VLĐBQ
kỳ
=
2
Vốn lưu động bình quân năm:
VLĐđầu năm + VLĐcuối năm
VLĐBQnăm =
2
(2) Thời gian luân chuyển vốn lưu động (K)
VLĐBQ
kỳ
x N
kỳ
K =
M

- Vòng quay của vốn lưu động trong sản xuất

sx
sx
sx
VLÑBQ
M
L =
- Thời gian luân chuyển vốn lưu động trong khâu sản xuất

sx
sx
sx
M
VLÑBQ
K
360×
=



lt
lt
lt
VL ÑBQ
M
L =
- Thời gian luân chuyển của vốn lưu động trong lưu thông

lt

sx
, VLĐBQ
lt
: Vốn lưu động bình quân ở khâu dự trữ, sản
xuất và lưu thông
M
dt
, M
sx
, M
lt
: Mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độ luân
chuyển vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông
Khi tính hiệu suất luân chuyển của từng bộ phận vốn lưu động, cần phải
tính theo đặc điểm luân chuyển vốn của từng khâu để xác định mức luân chuyển
cho phù hợp với từng bộ phận vốn. Ở khâu dự trữ sản xuất, mỗi khi nguyên vật
liệu được đưa vào sản xuất thì vốn lưu động hoàn thành giai đoạn tuần hoàn của
nó nên mức luân chuyển để tính hiệu suất là toàn bộ chi phí tiêu hao nguyên vật
liệu trong kỳ. Ở khâu sản xuất thì đó là tổng giá thành nhập kho, khâu lưu thông
thì là toàn bộ tổng giá thành tiêu thụ sản phẩm.
2.2.2. Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn, là chỉ tiêu phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm
được do tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động ở kỳ này so với kỳ trước.
Mức tiết kiệm này được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu:
(1) Mức tiết kiệm tuyệt đối
Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp có thể tiết
kiệm một lượng vốn để dùng vào công việc khác, tức là khi tăng tốc độ luân
chuyển doanh nghiệp cần ít vốn hơn cho nên doanh nghiệp có thể sử dụng một
lượng vốn lưu động vào công việc khác. Lượng vốn ít hơn đó được gọi là mức
tiết kiệm tuyệt đối.

: Thời gian luân chuyển của vốn lưu động năm kế hoạch.
(2) Mức tiết kiệm tương đối
Thực chất đây là mức tiết kiệm do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động,
nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn lưu động (tạo ra
doanh thu lớn hơn) mà không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô
vốn lưu động.
Mức tiết kiệm tương đối được xác định theo công thức:
M
1
V
tktgđ
= x ( K
1
- K
o
)
360
Trong đó :
- V
tktgđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối do tăng vòng quay vốn lưu động.
- M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.
- K
0
, K
1
: Thời gian luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo, năm kế hoạch.
2.2.3. Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu độn

pháp tồn tại và phát triển. Xuất phát từ vai trò to lớn của vốn lưu động đã làm
cho việc nâng cao và sử dụng hiệu quả vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng
tại các doanh nghiệp trở thành một yêu cầu khách quan, gắn với bản chất của
doanh nghiệp.
2.3.2. Từ vai trò của vốn lưu động đối với doanh nghiệp
Vốn lưu động là một thành phần quan trọng không thể thiếu của mọi
doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản
xuất kinh doanh. Nó đảm bảo cho sản xuất được liên tục, đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ liên tục, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thời gian luân chuyển vốn lưu
động ngắn, số vòng luân chuyển lớn làm cho việc quản lý thường xuyên diễn ra
19
liên tục và hàng ngày. Với vai trò to lớn như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động là một yêu cấu tất yếu.
2.3.3. Từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tức là tăng tốc độ luân
chuyển và rút ngắn thời gian vốn lưu động nằm trong lĩnh vực dự trữ và lưu
thông, từ đó làm giảm số lượng vốn lưu động chiếm dụng, tiết kiệm vốn lưu
động trong luân chuyển. Thông qua việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động,
doanh nghiệp có thể giảm bớt vốn lưu động chiếm dụng mà vẫn đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục với quy mô cũ thậm chí có
thể mở rộng quy mô hơn. Việc này cũng có ảnh hưởng tới việc hạ giá thành sản
phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thoả mãn nhu cầu và hoàn
thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
2.3.4. Từ thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường
Trên thực tế có rất nhiều nguyên nhân làm cho một doanh nghiệp có thể bị
thất bại trên thị trường. Có nguyên nhân chủ quan, có nguyên nhân khách quan.
Nhưng có một nguyên nhân phổ biến đó là sử dụng không hiệu quả vốn khi mua
sắm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Điều này dẫn đến việc lãng phí vốn
lưu động, tốc độ luân chuyển vốn thấp, mức sinh lời kém nếu không muốn nói là

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên chịu sự chi
phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động, doanh nghiệp cần phải có biện
pháp quản lý khoa học để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả. Quản lý tài sản lưu
động được chia thành 3 nội dung quản lý chính như sau:
• Quản lý dự trữ, tồn kho
Đây là bộ phận quan trọng của vốn lưu động trong doanh nghiệp, nó cho
biết qúa trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng tồn kho gồm ba
loại: Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm
dở dang và thành phẩm.
21
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận, nhưng nó có vai trò
rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường. Quản
lý nguyên vật liệu hiệu quả sẽ giúp cho việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động đạt được cao hơn. Do vậy, doanh nghiệp phải tính toán dự
trữ một cách hợp lý nếu không sẽ gây tốn kém chi phí ứ đọng vốn, nếu thiếu dự
trữ sẽ làm tình trạng gián đoạn quá trình sản xuất, gây ra hàng loạt các hậu quả
như mất thị trường và giảm lợi nhuận.
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên liệu nằm trong các giai
đoạn của dây chuyền sản xuất. Đây là bước đệm nhỏ cho quá trình được diễn ra
liên tục và thông suốt.
Hàng hoá dự trữ đối với doanh nghiệp gồm ba bộ phận trên, nhưng thông
thường chúng ta tập trung vào bộ phận thứ nhất là nguyên vật liệu dự trữ cho
hoạt động kinh doanh.
Có nhiều phương thức nhằm quản lý mức dự trữ tối ưu:
- Theo phương pháp cổ điển hay mô hình EOQ – Economic Odering
Quantity
Mô hình này được giả định là lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau. Mức dự
trữ tối ưu là:
2 x D x C
Q* =

• Quản lý tiền mặt và chứng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở
ngân hàng. Tiền mặt bản thân nó không sinh lãi, nhưng việc giữ tiền trong kinh
doanh là điều quan trọng, đảm bảo giao dịch hàng ngày, đáp ứng nhu cầu dự
phòng trong trường hợp biến động không lường trước được của các luồng tiền
vào ra, hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng.
Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý các loại tiền giấy và các loại tiền
gửi ngân hàng. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến quản lý các loại tài sản
gắn liền với tiền mặt, như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Ta có sơ đồ luân chuyển sau:
23
 !!"
#$%&'()*& !+,!"-. !!")/012&3
412&3 (2&3 4(12&3
Nhìn một cách tổng quát thì tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt, có tỉnh
lỏng cao nhất. Trong hoạt động kinh doanh doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt
cần thiết cho thanh toán các hoá đơn,…. Chi phí cho việc giữ tiền mặt là chi phí
cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị mất. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho
việc bán các chứng khoán. Khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng tiền mặt
dự trữ tối ưu là:

2 x M
n
x C
b
M*=
i
Trong đó:
M*: là tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm.
C

b
d = 3x 4 x i
Trong đó:
d: Khoảng dao động tiền mặt (giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của
khoản tiền mặt dự trữ)
C
b
: Chí phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản.
V
b
: Phương sai của thu chi ngân quỹ.
i: Lãi suất.
Trong các doanh nghiệp lớn, luồng tiền vào ra là lớn nên chi phí cho việc
mua bán chứng khoán sẽ trở nên nhỏ hơn so với cơ hội phí mất đi do việc lưu
giữ một lượng tiền mặt nhàn rỗi, nên hoạt động mua bán chứng khoán thường
diễn ra ở những doanh nghiệp lớn, và do vậy chúng ta có thể thấy tại sao các
doanh nghiệp nhỏ thường lưu giữ một lượng tiền mặt đáng kể.
25

Trích đoạn Khỏi quỏt tỡnh hỡnh tài chớnh của cụng ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status