NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT VÀ XÁC ĐỊNH TÁC DỤNG
KHÁNG OXY HOÁ CỦA POLYPHENOL TỪ LÁ CHÈ XANH VIỆT NAM
Mai Tuyên,Vũ Bích Lan, Ngô Đại Quang
Summary
The extraction ofpolyphenolsfrom Vietnam green tea has ben studied. It was demonstrated
that the extraction yiels of polyphenol using mixed solvent consisting of water and ethanol with
volume ratio of 50/50 may reach the range of 7-8% in comparison with dried green tea mass.
Antioxidative activity of green tea polyphenols toward vegetable oil is considerably higher than
that of ascobic acid or tocopherol.
Chè xanh có tên khoa học là Camellia sinensis. Đó là loại đồ uống quen thuộc ở Việt nam
và nhiều nước châu Á từ hàng ngàn năm. Về sau , nước chè cũng là thức uống phổ biến ở các
nước khác trên khắp thế giới. Sự thích dụng đó đối với nước chè nói lên sự công nhận tác dụng
của nó đối với sức khoẻ con người.
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại,
đã tìm thấy tác dụng sinh học của nước chiết lá chè chủ yếu !à do các polyphenol, trong đó,
quan trọng là các dẫn xuất của catechin [1], có công thức như sau:
trong đó, khi R
1
=R
2
= H ta có epicatechin (EC); khi R
1
=OH, R
2
= H ta có epigallocatechin
(EGC). Khi R
2
là gốc gallat:
Lá chè xanh được sấy khô và nghiền vụn. Hàm lượng chất khô được xác định bằng lượng cân
còn lại sau khi sấy ở 100
o
C cho đến trọng lượng không đổi (bảng 1)
Nhìn chung, lá chè càng già, hàm lượng chất khô càng cao.
Việc chiết xuất polyphenol từ lá chè xanh thường được tiến hành trong dung môi nước ở
nhiệt độ sôi [8], hỗn hợp nước-metanol [5] hay nước- etanol [8]. Sau khi xử lý lá chè bằng dung
môi chiết, thì trong dịch chiết, ngoài polyphenol,còn có mặt cafein, pigment và polysacarit. Để
tách cafein và các tạp chất, dịch chiết được xử lý với clorofom. Sau khi tách ra tướng clorofom thì
trong dịch chiết còn lại polyphenol. Đem xử lý dịch chiết bằng dung môi hữu cơ, như etylaxetat,
thì polyphenol chuyển vào tướng etylaxetat. Tách lấy dịch chiết etylaxetat, đem cất loại
etylaxetat,thu được polyphenol.
Bảng 1. Hàm lượng chất khô của chè xanh Việt nam
Số T.T Mẫu chè Mẫu tươi (g) Mẫu khô (g) Hàm lượng chất
khô(%)
1
2
3
4
Lá chè non
Lá chè bánh tẻ
Lá chè già
Hỗn hợp
Trung bình
700
210
100
480
139,9
45,5
C [9]) và trên phổ tử ngoại đặc trưng bằng vạch 272 nm (hình 1). Kết quả cho thấy hàm
lượng cafein có thể thu được từ lá chè Việt Nam dao động trong khoảng 2 - 2,1% so với lượng
mẫu khô.
Đã tiến hành chiết lá chè xanh khô bằng nước sôi (mẫu A) và bằng kỗn hợp nước - etanol
với tỉ lệ thể tích 50/50 (mẫu B). Sau khi tách cafein và các tạp chất khác, đã tiến hành chiết lỏng
- lỏng bằng etylaxetat. Sau khi cất loại etylaxetat, đã thu được polyphenol kết tủa mầu nâu sáng.
Đã xác định hàm lượng catechin theo phương pháp chuẩn tanin bằng dung dịch pemanganat ka
li [10]. Kết quả thu được nêu trong bảng 3. .
Hình1 : Phổ tử ngoại của mẫu chứa cafein từ chè xanh Việt nam
Bảng 3. Kết quả chiết polyphenol từ 100 g lá chè xanh khô
Số T.T Mẫu thí nghiệm Dung môi Lượng
polyphenol
thu được (g)
Hàm lượng catachin
(%)
1
2
Mẫu A
Mẫu B
Nước
Nước - etanol
7,18
8,68
73
83
Từ kết quả thu được có thể nhận thấy rằng khi dùng dung môi hỗn hợp nước - etanol thì
thu được hiệu suất cao hơn và hàm lượng catachin cũng lớn hơn.
73(3),375(1996).
7. J.N.Mai, US.Pat. 4,839,187 (1989).
8. Y.S Hara, US.Pat., 4,673,530 (1987).
9. Merck Index, loth Edition, 1606
10. Thực hành dược khoa, tập I, Vũ Công Thuyết, Trương Công Quyền chủ biên, NXB Y
học , Hà nội, 1971 ,tr. 157.