Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động tại Việt Nam - Pdf 24

Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
lao động tại Việt Nam
Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông,
đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao
động khá dồi dào. Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước
ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày
16/2/2011. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn
còn thấp và cần phải được cải thiện càng sớm càng tốt.
1. Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam.
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có
gần 87 triệu người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam
đang phát triển dồi dào. Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành
chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và
1
nhân lực của các ngành, nghề. Trong đó, nguồn nhân lực nông dân
có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn nhân lực công
nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức,
tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm
khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2
triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu
người…. Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một
nhân tố mới trong nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử
dụng tốt sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội.
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực:
nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông
hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng
cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không
phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao. Theo số
liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo

dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực
để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Báo chí nước ngoài thường bình luận người Việt Nam thông
minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới. Tiếc
rằng nguồn nhân lực này lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo
chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam.
Theo các chuyên gia, để phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
trước mắt và lâu dài cần phải tính đến yếu tố chất lượng sinh đẻ và
yếu tố bồi dưỡng sức dân. Không thể nói đến phát triển nguồn nhân
lực khi sinh ra những đứa trẻ còi cọc, ốm yếu. Không thể nói đến
phát triển nguồn nhân lực khi sức dân không được bồi dưỡng. Vấn
đề này liên quan đến hàng loạt các yếu tố khác như chính sách xã
hội, chính sách y tế, chính sách tiền lương, chính sách xây dựng cơ sở
hạ tầng…. Các vấn đề này hiện vẫn chưa được giải quyết một cách cơ
bản. Không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo
dục đại học còn thấp; kết cấu hạ tầng còn rất thấp kém; tỷ lệ lao
động mới qua đào tạo mới chỉ có từ 30 đến 40%; trình độ ngoại ngữ,
khả năng sử dụng máy tính, công nghệ thông tin kém….
4
2. Kinh nghiệm một số nước về đào tạo nguồn nhân
lực:
Tại Mỹ, với một chiến lược dài hạn, kinh phí cho giáo dục đại
học của Mỹ đến từ các nguồn khác nhau, như các công ty, tổ chức
nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, nhà từ thiện
Nguồn kinh phí dồi dào mang lại cho các trường khả năng xây dựng
cơ sở vật chất hiện đại, thuê giảng viên giỏi cũng như xây dựng quỹ
hỗ trợ sinh viên. Trong giáo dục đại học ở Mỹ, tính cạnh tranh giữa
các trường rất khốc liệt. Nếu sinh viên vào được các trường đại học

lương và tăng thưởng theo thâm niên. Nếu như ở nhiều nước
phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá
nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi,
ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm.
6
Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với
đòi hỏi của nền kinh tế. Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương
xóa mù chữ cho toàn dân. Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần
được đẩy mạnh như: phát triển giáo dục hướng nghiệp trong các
trường trung học (năm 1960); các trường dạy nghề kỹ thuật (năm
1970); đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực
khoa học cơ bản và công nghệ, nâng cao chất lượng giáo dục và học
suốt đời. Năm 1992, Hàn Quốc thực hiện cải cách giáo dục với mục
tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục hiện có thành một hệ thống giáo
dục mới, bảo đảm cho người dân được học suốt đời. Tháng 12-2001,
Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về
phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005. Tiếp đó, Chiến lược
quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010
được xây dựng và thực hiện hiệu quả. Nội dung chính của các chiến
lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp,
trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng
và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn
nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý
kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin
cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri
thức
Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào
7
tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm
nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri

điều kiện thực tế của nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng và cũng
là yêu cầu bức thiết hiện nay. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
2011-2020 cũng nêu rõ cần tập trung tạo đột phá “phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung
vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ
phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công
nghệ”. Để xây dựng đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, Việt Nam
cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:
9
Thứ nhất: xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn
với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 19/4/2011, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến
lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 trong đó nêu
rõ mỗi bộ, ngành và địa phương phải xây dựng quy hoạch phát triển
nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của
mình. Vấn đề hiện nay là cần hiện thực hóa Chiến lược bằng các biện
pháp, hành động cụ thể. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rõ,
coi trọng và quyết tâm thực thi chính sách giáo dục - đào tạo phù
hợp là nhân tố quyết định tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho
sự phát triển nhanh và bền vững.
Thứ hai, song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng
nhân tài, phát triển nguồn nhân lực cần đi đôi với xây dựng và hoàn
thiện hệ thống giá trị của con người trong thời đại hiện nay như
trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri thức; có ý thức
và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có
văn hóa, có lý tưởng. Đây cũng là những giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam, rất cần được tiếp tục phát huy trong bối cảnh
hội nhập quốc tế, nhất là đối với thế hệ trẻ.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status