Nghiên cứu sản xuất ethanol nhiên liệu từ bã mía - Pdf 24

CBHD:
TS. LÊ ĐỨC TRUNG
KS. LÊ THỊ QUỲNH TRÂM
SVTH:
NGUYỄN ĐÌNH TIẾN
MSSV:
60604423
TP HỒ CHÍ MINH, 1/2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HOÁ HỌC
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT ETHANOL NHIÊN LIỆU
TỪ BÃ MÍA
iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của:
TS. Lê Đức Trung - Trưởng phòng Công nghệ Môi trường, Viện Môi Trường và
Tài Nguyên Tp HCM; KS. Lê Thị Quỳnh Trâm - Cán bộ phòng Công nghệ Môi trường,
Viện Môi Trường và Tài Nguyên Tp HCM - đã gợi ý đề tài, hướng dẫn tận tình về các
vấn đề liên quan, cung cấp hóa chất và một số tài liệu có ích trong suốt thời gian tôi thực
hiện luận văn.
TS. Huỳnh Ngọc Oanh - Bộ môn Công nghệ Sinh học, Đại học Bách Khoa Tp
HCM - đã tạo một không gian làm việc hết sức thuận lợi trong suốt thời gian tôi thực hiện
luận văn.
PGS TS. Nguyễn Thúy Hương - Bộ môn Công nghệ Sinh học, Đại học Bách Khoa
Tp HCM - đã cung cấp giống vi sinh vật và một số tài liệu có ích trong suốt thời gian tôi
thực hiện luận văn.
Các cán bộ phòng thí nghiệm 102, 108, 117 của Bộ môn Công nghệ Sinh Học, Đại
học Bách Khoa Tp HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể sử dụng các trang

In Viet Nam, bagasse composes the main portion in agricultural byproducts.
Containing above 45% of cellulose, bagasse is such a potential feedstock for ethanol
production. This thesis does research on producing ethanol form bagasse and can be
divided into 2 parts. The first part: studies the saccharification. The second part: explores
the simultaneous saccharification and fermentation (SSF) process.
Bagasse was pretreated by NaOH in order to be more accessible to enzyme. Then,
the residue was introduced to hydrolyzed step or to SSF step. The former utilize d enzyme
cellulase to hydrolyze cellulose in bagasse. In the latter, both the yeast saccharomyces
cerevisiae and enzyme cellulase were employed.
The result indicated that the optimized condition for saccharification is 10% of dry
solid, 5% of enzyme, pH 4.8 and samples were shaken at 100 rpm for 28 hours at 50
0
C.
With this condition, 62.32 g/l glucose was formed and the yield of 83.72% was obtained.
The experiments in SSF showed that the best condition for this process includes
10% of dry solid, 5% of enzyme, 10% of yeast, pH 4.8, and samples were shaken at 100
rpm for 48 hours at 37
0
C. 32.7 g/l ethanol was formed with the yield of 87.13%. This
result indicates that SSF is such a suitable process for producing ethanol from bagasse.
vi
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH xi
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu cần đạt 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình sản xuất bioethanol trên thế giới và trong nước 3

3.3.3 Phương pháp định lượng đường khử 39
3.3.4 Phương pháp xác định độ cồn 42
3.3.5 Phương pháp nuôi cấy và đếm nấm men 43
3.4 Trình tự nghiên cứu 46
3.4.1 Sơ đồ quy trình 46
3.4.2 Quá trình tiền xử lý bằng NaOH 47
3.4.3 Quá trình thủy phân bằng enzyme 47
3.4.4 Quá trình thủy phân và lên men đồng thời bằng enzyme và nấm men 50
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 53
4.1 Quá trình tiền xử lý 53
4.1.1 Tiền xử lý bã mía bằng NaOH 53
4.1.2 Thành phần xơ sợi trong bã mía trước tiền xử lý 55
4.1.3 Thành phần xơ sợi trong bã mía sau tiền xử lý 56
4.1.4 So sánh bã mía trước và sau tiền xử lý 58
4.2 Quá trình thủy phân 59
4.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của % bã rắn đến quá trình thủy phân 59
4.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của % enzyme đến quá trình thủy phân 61
4.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của giá trị pH đến quá trình thủy phân 63
viii
4.2.4 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình thủy phân 65
4.2.5 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến quá trình thủy phân 67
4.3 Quá trình thủy phân và lên men đồng thời 69
4.3.1 Đường cong sinh trưởng của tế bào nấm men 69
4.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme đến nồng độ ethanol 71
4.3.3 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ giống nấm men đến nồng độ ethanol 73
4.3.4 Khảo sát ảnh hưởng của pH đến nồng độ ethanol 76
4.3.5 Hiệu suất toàn quá trình thủy phân và lên men đồng thời theo thời gian 78
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83

đồng thời 72
Bảng 4.16 Số liệu thu được ở thí nghiệm khảo sát tỷ lệ giống. 74
Bảng 4.17 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của % giống đến quá trình thủy phân và lên men
đồng thời 74
Bảng 4.18 Số liệu thu được ở thí nghiệm khảo sát pH. 76
Bảng 4.19 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH đến quá trình thủy phân và lên men đồng
thời 76
Bảng 4.20 Số liệu thu được ở thí nghiệm khảo sát thời gian 79
Bảng 4.21 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến quá trình thủy phân và lên men
đồng thời 79
xi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cấu trúc của lignocellulose 7
Hình 2.2 Mối quan hệ cellulose - hemicellulose trong cấu trúc lignocellulose 8
Hình 2.3 Công thức hóa học của cellulose 9
Hình 2.4 Các đơn vị cơ bản của lignin 11
Hình 2.5 Cấu trúc lignin trong gỗ mềm với các nhóm chức chính 12
Hình 2.6 Một số ví dụ về chất trích ly 14
Hình 2.7 Phân bố các vùng trồng mía ở Việt Nam 15
Hình 2.8 Sơ đồ chuyển hóa bã mía thành ethanol. 17
Hình 2.9 Ảnh hưởng của quá trình tiền xử lý đến quy trình biến đổi lignocellulose thành
ethanol. 19
Hình 2.10 Tác dụng của từng enzyme. 25
Hình 2.11 Sơ đồ hình thành ethanol từ glucose 27
Hình 2.12 Giống nấm men Pichia stiptis và Saccharomyces cerevisiae 28
Hình 3.1 Bã mía lấy từ công ty Cổ phần NILV, tỉnh Long An. 31
Hình 3.2 Saccharomyces serevisiae chủng Turbo yeast extra nhìn dưới kính hiển vi 32
Hình 3.3 Bã mía sau khi qua máy nghiền 35
Hình 3.4 Hệ thống phân tích NDS và ADS 36
Hình 3.5 Bộ dụng cụ soxhlet…………………………………………………………… 36

Hình 4.21 Đồ thị biểu diễn hiệu suất quá trình TP và LM đồng thời theo % giống 75
Hình 4.22 Đồ thị biểu diễn nồng độ glucose và ethanol trong dung dịch theo pH. 77
Hình 4.23 Đồ thị biểu diễn hiệu suất quá trình TP và LM đồng thời theo pH. 77
Hình 4.24 Đồ thị biểu diễn nồng độ glucose và ethanol trong dung dịch theo thời gian. .80
Hình 4.25 Đồ thị biểu diễn hiệu suất quá trình TP và LM đồng thời theo thời gian 80
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay sức ép từ khủng hoảng dầu mỏ và nhu cầu năng lượng luôn là vấn đề nan
giải của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Mỹ và Brazil đã thành công trong việc sản xuất
ethanol từ nguồn sinh học là bắp và mía. Điều này đã khích lệ các nước khác đầu tư
nghiên cứu lĩnh vực nhiên liệu sinh học.
Bên cạnh sản xuất ethanol từ nguồn tinh bột (bắp) và đường (mía), ethanol có thể
được sản xuất từ lignocellulose là loại biomass phổ biến nhất trên thế giới. Vì vậy sản
xuất ethanol từ biomass cụ thể là nguồn lignocellulose là một giải pháp thích hợp đặc biệt
là các quốc gia nông nghiệp như Việt Nam. Một mặt mang lại hiệu quả kinh tế, mặt khác
giải quyết các vấn đề về ô nhiễm môi trường.
Việt Nam hằng năm tạo ra một lượng lớn phế phẩm nông nghiệp, chủ yếu là
lignocellulose từ các vụ mùa và ngành công nghiệp sản xuất mía đường. Tận dụng nguồn
nguyên liệu này, cụ thể là bã mía để sản xuất bioethanol là một phương pháp sử dụng bã
mía một cách hiệu quả đồng thời góp phần giải quyết vấn đề năng lượng cho nước ta.
1.2 Mục tiêu cần đạt
 Mục đích chung của đề tài: nghiên cứu khả năng xử lý bã mía để lên men ethanol.
 Mục tiêu chính trong đề tài là:
 Nghiên cứu quá trình thủy phân bã mía bằng enzyme cellulase, tạo ra dịch
đường.
 Nghiên cứu quá trình thủy phân và lên men đồng thời để chuyển hóa
cellulose trong nguồn bã mía ban đầu thành ethanol.
 So sánh hiệu suất chuyển hóa quá trình thủy phân với quá trình thủy phân

2.1.2 Trên thế giới
Trong những thập niên gần đây, có rất nhiều nghiên cứu về quá trình sản xuất
bioethanol từ biomass ở nhiều nơi trên thế giới và đã thu được những thành công nhất
định, tạo cơ sở khoa học cần thiết cho sự phát triển của công nghệ sản xuất bioethanol.
Tại Rio de Janeriro (Brazil), Elba P.S. Bon và Maria Antonieta Ferrara đã tiến
hành nghiên cứu quá trình sản xuất bioethanol từ biomass bằng thủy phân bởi enzyme
[10]. Đặc biệt gần đây tại Sao Paulo (Brazil), nhóm nghiên cứu gồm Marcia A.
Ribeiro, Vanessa M. Cardoso, Manoel N. Mori, Jaime Finguerut, Celia M. A. Galvao
và Celina L. Duarte đã tiến hành nghiên tận dụng nguồn bã mía để sản xuất bioethanol
dùng phương pháp tiền xử lý bằng chiếu xạ điện tử [14].
Tại Malaysia, A.B.M.S. Hossain, A.A. Saleh, S. Aishah, A.N. Boyce, P.P.
Chowdhury và M. Naquiddin cũng đã tiến hành nghiên cứu sản xuất bioethanol từ các
loại phế phẩm nông nghiệp của tảo, cây ăn quả, cá, gà. Kết quả nghiên cứu cho thấy
quá trình hiệu quả hơn khi dùng phụ phẩm của cây dứa so với phụ phẩm của tảo và cá
[12].
Tại trường đại học Michigan (Mỹ), quy trình thủy phân amoni (AFEX) đã được
cấp bằng sáng chế về xử lý sơ bộ phế thải của ngô trước khi chuyển hóa thành
bioethanol có thể giúp làm giảm chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học này từ cellulose.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
Quy trình dựa trên cơ sở sử dụng amoni để phân hủy cellulose và hemicellulose trong
thực vật với hiệu quả cao hơn 75% so với khi chỉ sử dụng các enzyme truyền thống.
Nghiên cứu cho biết, ta có thể sử dụng quy trình thủy phân amoni để xử lý sơ bộ phế
thải của cây ngô (lõi bắp, thân cây và lá ngô), sau đó thủy phân và lên men để tạo ra
ethanol mà không cần bổ sung các thành phần dinh dưỡng vào phối liệu lên men [36].
Các nhà khoa học của Mỹ vừa tuyên bố đã nghiên cứu thành công quy trình kỹ
thuật sản xuất bioethanol với khối lượng lớn nhưng không cần dùng nguyên liệu là
những loại cây lương thực mà là từ cỏ, thậm chí từ những bãi phế liệu. Nữ giáo sư
trường đại học Georgia, Joy Peterson, đồng thời là Trưởng khoa Năng lượng sinh học
cho biết: “Sản xuất bioethanol từ nguồn năng lượng sinh học tái sinh biomass là vô

sắp ban hành đạo luật bắt buộc sử dụng xăng E10 (pha 10% bioethanol). Chính phủ
Canada nhắm đến việc 45% xăng trong cả nước có pha 10% bioethanol vào năm 2010
[32].
Tại Trung Quốc, đầu năm 2003, xăng E10 (10% bioethanol và 90% xăng) đã
chính thức được sử dụng ở 5 thành phố lớn và sắp tới sẽ mở rộng thêm tại 9 tỉnh đông
dân cư khác. Dự kiến, bioethanol nhiêu liệu sẽ tăng trên 2 tỷ lít vào năm 2010, khoảng
10 tỷ lít vào năm 2020 (năm 2005 là 1.2 tỷ lít) [33]. Ở Đông Nam Á, Thái Lan đã ban
hành luật cho việc sử dụng xăng pha 10% bioethanol bắt đầu từ 2007. Ở Ấn Độ, một
chương trình bioethanol đã kêu gọi người dân sử dụng xăng E5 trên cả nước, tiến tới
việc sử dụng xăng E10 và E20 [6].
2.1.3 Trong nước
Ngày 6/4/2005, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã đồng ý hỗ trợ 30,000
USD như là kinh phí ban đầu cho nhóm nghiên cứu đề tài nghiên cứu khoa học trong
lĩnh vực Biomass giai đoạn 2005 - 2007.
Nhóm nghiên cứu đề tài Biomass, xử lý phế phẩm nông nghiệp, do TS. Phan
Đình Tuấn, trường đại học Bách khoa TP.HCM phụ trách. Biomass là đề tài của nghiên
cứu công nghệ xử lý các phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp như rơm, rạ, trấu…
nhằm sản xuất bioethanol (cồn nguyên liệu), tiến tới xây dựng mô hình “Thị trấn
Biomass” tại xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, Tp.HCM [25].
Trung tâm khuyến nông tỉnh Đồng Nai phối hợp với Đại học Nông Lâm Tp.
HCM vừa chuyển giao công nghệ sản xuất bioethanol từ trái điều phế phẩm cho 120 hộ
trồng điều ở huyện Cẩm Mỹ để sản xuất bioethanol. Theo công nghệ này, mỗi tấn trái
điều sau khi lấy hạt đưa vào xử lý chưng cất sẽ thu được 80 lít bioethanol 80
0
[34].
Trong khoảng thời gian tháng 04/2007 - 12/2009, PGS.TS Vũ Nguyên Thành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị sản xuất bioethanol nhiên
liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp (biomass)” với mục tiêu thiết kế được quy trình
công nghệ sản xuất bioethanol nhiên liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, lõi
ngô, thân gỗ, bã mía…) và mô hình hệ thống thiết bị sản xuất bioethanol nhiên liệu từ

5
m
3
bioethanol/năm. Nguồn nguyên liệu nhà máy chủ yếu là từ sắn lát và cây mía. Dự án
mong chờ đi vào hoạt động khoảng giữa năm 2011 [32].
Công ty cổ phần Đồng Xanh (GFC) đã đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất
bioethanol tại xã Đại Tân, huyện Đại Lộc, Quảng Nam từ nguồn nguyên liệu chủ yếu
từ củ khoai mì (sắn) và tinh bột. Nhà máy sản xuất bioethanol với độ tinh khiết 99.8%
(thể tích), có công suất chạy thử khoảng 50 triệu lít/năm. Sau đó, tiến hành mở rộng và
dự kiến công suất đạt khoảng 100 triệu lít/năm. Sau hơn hai năm thi công, ngày
02/9/2009 Công ty cổ phần Đồng Xanh đã đi vào hoạt động [35].
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
7
2.1.4 Triển vọng phát triển của bioethanol
Hiện nay vấn đề sử dụng bioethanol vào đời sống còn nhiều hạn chế do chưa hạ
được giá thành sản xuất xuống thấp hơn so với nhiên liệu truyền thống. Nhưng vượt
lên trên hết, rõ ràng bioethanol vẫn mang lại những lợi ích to lớn, không thể tranh cãi
nhằm đảm bảo an ninh năng lượng của mỗi quốc gia, xoá đói, giảm nghèo cho người
dân và góp phần chung vào công cuộc giữ gìn, bảo vệ môi trường chung trên thế giới.
Vì vậy, mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về sản xuất bioethanol giữa các nhà kinh tế,
hoạch định chính sách, khoa học, bảo vệ môi trường xung quanh vấn đề giải pháp
phòng ngừa, hạn chế, khắc phục những nhược điểm, nhưng tất cả đều đồng ý kết luận:
“Phát triển sản xuất bioethanol là tất yếu, nhưng cần nhận thức rõ được cả hai mặt
của quá trình này và tiến hành hết sức cẩn trọng, nếu không những lợi ích hứa hẹn gặt
hái từ bioethanol sẽ không còn”.
2.2 Nguyên liệu lignocellulose
Lignocellulose là vật liệu biomass phổ biến nhất trên trái đất. Lignocellulose có
trong phế phẩm nông nghiệp, chủ yếu ở dạng phế phẩm của các vụ mùa; trong sản phẩm
phụ của công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy; có trong rác thải rắn của thành phố Với
thành phần chính là cellulose, lignocellulose là một nguồn nguyên liệu to lớn cho việc sản

7.0
-
-
27.5
10.8
Gỗ cây
bulô
38.2
18.5
1.2
-
-
22.8
4.8
Gỗ dương
49.9
17.4
4.7
1.2
1.8
18.1
-
Phế phẩm
cây bắp
36.4
18.0
0.6
1.0
3.0
16.6

Hình 2.3 Công thức hóa học của cellulose
Các mạch cellulose được liên kết với nhau nhờ liên kết hydro và liên kết
Van Der Waals, hình thành hai vùng cấu trúc chính là vùng kết tinh và vùng vô
định hình. Trong vùng kết tinh, các phân tử cellulose liên kết chặt chẽ với nhau,
vùng này khó bị tấn công bởi enzyme cũng như hóa chất. Ngược lại, trong vùng
vô định hình, cellulose liên kết không chặt với nhau nên dễ bị tấn công [7]. Có hai
kiểu cấu trúc của cellulose đã được đưa ra nhằm mô tả vùng kết tinh và vô định
hình: [11]
a. Kiểu Fringed Fibrillar: phân tử cellulose được kéo thẳng và định
hướng theo chiều sợi. Vùng tinh thể có chiều dài 500 Å và xếp xen kẽ
với vùng vô định hình.
b. Kiểu Folding chain: phân tử cellulose gấp khúc theo chiều sợi. Mỗi đơn vị
lặp lại có độ trùng hợp khoảng 1000. Các đơn vị đó được sắp xếp thành
chuỗi nhờ vào các mạch glucose nhỏ, các vị trí này rất dễ bị thủy phân.
Đối với các đơn vị lặp lại, hai đầu là vùng vô định hình, càng vào giữa, tính
chất kết tinh càng cao. Trong vùng vô định hình, các liên kết β-glucoside
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
10
giữa các monomer bị thay đổi góc liên kết, ngay tại cuối các đoạn gấp, 3
phân tử monomer sắp xếp tạo sự thay đổi 180
0
cho toàn mạch. Vùng vô
định hình sẽ dễ bị tấn công bởi các tác nhân thủy phân hơn vùng tinh thể vì
sự thay đổi góc liên kết của các liên kết cộng hóa trị (β-glucoside) sẽ làm
giảm độ bền nhiệt động của liên kết, đồng thời vị trí này không tạo được
liên kết hydro.[2]
Cellulose được bao bọc bởi hemicellulose và lignin, điều này làm cho cellulose
khá bền vững với tác động của enzyme cũng như hóa chất.
2.2.3 Hemicellulose
Hemicellulose là một loại polymer phức tạp và phân nhánh, độ trùng hợp

này thay đổi tùy theo loại gỗ.[7]
 Arabino-4-O-methylglucuronoxylan, cấu tạo từ các D-xylopyranose,
các monomer này bị thế ở vị trí 2 bằng acid 4-O-methyl-glucuronic, ở vị
trí 3 bằng α-L-arabinofuranose.[7]
 Đối với cỏ, 20-40% hemicellulose là arabinoxylan. Polysaccharide này
cấu tạo từ các D-xylopyranose, OH ở C2 bị thế bởi acid 4-O-
methylglucuronic. OH ở vị trí C3 sẽ tạo mạch nhánh với α-L-
arabinofuranose.[7]
Cấu tạo phức tạp của hemicellulose tạo nên nhiều tính chất hóa sinh và lý sinh
cho cây.
2.2.4 Lignin
Lignin là một polyphenol có cấu trúc mở. Trong tự nhiên, lignin chủ yếu đóng
vai trò chất liên kết trong thành tế bào thực vật, liên kết chặt chẽ với mạng cellulose
và hemicellulose. Rất khó để có thể tách lignin ra hoàn toàn.
Hình 2.4 Các đơn vị cơ bản của lignin
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
12
Lignin là polymer, được cấu thành từ các đơn vị phenylpropene, vài đơn vị cấu
trúc điển hình được đề nghị là: guaiacyl (G), chất gốc là rượu trans-coniferyl;
syringly (S), chất gốc là rượu trans-sinapyl; p-hydroxylphenyl (H), chất gốc là rượu
trans-p-courmary.
Cấu trúc của lignin đa dạng, tùy thuộc vào loại gỗ, tuổi của cây hoặc cấu trúc
của nó trong gỗ. Ngoài việc được phân loại theo lignin của gỗ cứng, gỗ mềm và cỏ,
lignin có thể được phân thành hai loại chính: guaicyl lignin và guaicyl-syringly lignin.
Gỗ mềm chứa chủ yếu là guaiacyl, gỗ cứng chứa chủ yếu syringyl. Nghiên
cứu chỉ ra rằng guaiacyl lignin hạn chế sự trương nở của xơ sợi và vì vậy loại
nguyên liệu đó sẽ khó bị tấn công bởi enzyme hơn syringyl lignin.[11]
Hình 2.5 Cấu trúc lignin trong gỗ mềm với các nhóm chức chính
Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng lignin hoàn toàn không đồng nhất
trong cấu trúc. Lignin dường như bao gồm vùng vô định hình và các vùng có cấu

2.2.5 Các chất trích ly
Có rất nhiều chất thuộc nhóm thành phần này, chủ yếu là các chất dễ hòa tan.
Theo định nghĩa khái quát trong sách “Kĩ thuật cellulose và giấy” ở trang 64, các chất
trích ly là những chất hoặc có khả năng hòa tan trong những dung môi hữu cơ
(như dietyl ether, methyl terbutyl ether, ether dầu hỏa, diclormethene, acetone,
ethanol, methanol, hexan, toluen, terahydrofuran) hoặc trong nước. Chính vì thế
phương pháp thông dụng nhất để tách nhóm chất này trong việc phân tích thành
phần sơ xợi lignocellulose là dùng trích ly với dung môi ethanol-benzene tỉ lệ 1:2.
Những chất này có thể có cả tính ưa dầu và ưa nước và không được xem là thành
phần cấu trúc của gỗ. Chất nhựa là những chất ưa dầu, có lẽ thường chiếm tỉ lệ ưu thế
trong chất trích ly, nên thường chất trích ly hay được gọi là nhựa (resin).

Trích đoạn Phương pháp phân tích thành phần xơ sợi trong biomas s bã mía Phương pháp xác định độ cồn Phương pháp nuôi cấy và đếm nấm men Quá trình thủy phân bằng enzyme Quá trình thủy phân và lên men đồng thời bằng enzyme và nấm men
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status