Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Chiến lược xuất khẩu ngành
Ngành Da giày Việt Nam
Cập nhật 2010-2015
Người thực hiện:
Trần Thị Huyền Trang
Hiệp hội Da giày Việt Nam
Theo yêu cầu của Cục Xúc tiến Thương mại (Dự án VIE 61/94)
Dự thảo
Tháng 01-06 năm 2009
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 1
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Mục lục
Tóm tắt...........................................................................................................................................5
1 Giới thiệu......................................................................................................................................7
1.1 Cơ sở.....................................................................................................................................7
1.2 Các nguyên tắc phân tích......................................................................................................7
1.2.1 Quy mô chiến lược xuất khẩu ngành...................................................................7
1.2.2 Khuôn khổ thiết kế và quản lý chiến lược..........................................................8
1.2.3 Phân tích chuỗi giá trị trong đánh giá năng lực cạnh tranh................................8
2 Tầm nhìn....................................................................................................................................10
3 Đánh giá hiện trạng ngành ........................................................................................................12
3.1 Ngành da giày toàn cầu.......................................................................................................12
3.1.1 Thị trường toàn cầu............................................................................................12
3.1.2 Năng lực sản xuất.............................................................................................12
3.1.3 Xu hướng sản phẩm ........................................................................................12
3.2 Phân loại sản phẩm-thị trường...........................................................................................13
3.2.1 Phân loại theo nhóm khách hàng.......................................................................13
4 Phụ lục 2: Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu ngành da giày 2007-2009 ................................51
Viettrade...................................................................................................................................51
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 2
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Hiệp hội Lefaso......................................................................................................................53
Phụ lục 4: Ngành da toàn cầu.....................................................................................................54
Phụ lục 5: Các trang web tham khảo..........................................................................................55
Các trang web thương mại toàn cầu........................................................................................55
Các trang web ngành da giày...................................................................................................55
Phụ lục 6: Tài liệu tham khảo.....................................................................................................55
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 3
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Các cụm từ viết tắt
SES Chiến lược xuất khẩu ngành
VIETRADE Cục xúc tiến thương mại
TPO Tổ chức xúc tiến thương mại
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
LEFASO Hiệp hội Da giày Việt Nam
SLA Hiệp hội da giày thành phố Hồ Chí Minh
ITC Trung tâm Thương mại quốc tế
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
MOIT Bộ Công thương
MOF Bộ Tài chính
MOLISA Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội
MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
1.1 Cơ sở
Nhằm hỗ trợ chính phủ Việt Nam đạt được mục tiêu về tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu đến năm
2010 định hướng 2020, Dự án VIE 61/94 (Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và Phát triển xuất khẩu”
do Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại) và Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) đồng
thực hiện) đã tiến hành xây dựng chiến lược xuất khẩu ngành đối với một số ngành có tiềm
năng tăng trưởng xuất khẩu. Các chiến lược xuất khẩu ngành này dựa trên cơ sở chiến lược
phát triển chung của nhà nước.
Chính phủ Việt Nam đã xác định da giày là một trong những ngành xuất khẩu mục tiêu trong
Chiến lược xuất khẩu quốc gia giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt
trong quyết định 156/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006. Ngành da giày có tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu bình quân 23%/năm từ 2002 đến 2008, với kim ngạch xuất khẩu năm 2008
đạt 4.768 tỉ USD, chiếm 8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế. Cùng với dệt may,
da giày còn là ngành trọng tâm tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động phổ thông
và bán chuyên nghiệp, tận dụng lợi thế tương đối về chi phí nhân công thấp. Ngành công
nghiệp da giày cũng được kỳ vọng là có tiềm năng trong chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo
hướng gia tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng, công nghệ và hàm lượng chất
xám cao so với sản phẩm xuất thô.
Chiến lược xuất khẩu ngành (SES) cập nhật giai đoạn 2010-2015 là cơ sở để tiếp tục thực hiện
các kế hoạch hành động của Chương trình xuất khẩu quốc gia đến năm 2010, tầm nhìn 2020.
1.2 Các nguyên tắc phân tích
1.2.1 Quy mô chiến lược xuất khẩu ngành
Chiến lược xuất khẩu đối với ngành sản xuất da giày (gọi tắt là Ngành) là chiến lược cấp ngành
được xây dựng cho giai đoạn 2006-2010 và cập nhật cho giai đoạn 2010-2015. Đây là chiến
lược xuất khẩu trung hạn nhằm thực hiện các hoạt động mang tính sáng kiến, hỗ trợ ngành
củng cố và tối ưu hóa khả năng xuất khẩu, đồng thời tạo đà phát triển xuất khẩu bền vững theo
tầm nhìn 2020. Những khó khăn ngắn hạn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn
cầu hiện nay không nằm trong phạm vi giải quyết của chiến lược này, tuy rằng tình hình này
cũng được tính đến trong việc đưa ra các lựa chọn chiến lược.
Tại Việt Nam, da là phân ngành chủ yếu cung ứng nguyên liệu trực tiếp cho ngành sản xuất
giày dép, bên cạnh một khối lượng sản phẩm hàng hóa nhỏ (về mặt giá trị) cặp xách và phụ
Thành phần tham dự chính của hai cuộc họp này là các nhà sản xuất và xuất khẩu trong ngành
da giày.
1.2.3 Phân tích chuỗi giá trị trong đánh giá năng lực cạnh tranh
Chuỗi giá trị biểu thị một loạt các hoạt động tạo giá trị và các mối liên kết của chúng với
những sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Một mô hình chuỗi giá trị cơ bản như sau:
Hình 1: Mô hình chuỗi giá trị ngành
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 8
VD
- Dịch vụ khách hàng
VD:
-Nhà cung cấp nguyên
liệu thô
- Nhà cung cấp máy
móc
- Nhà cung cấp vật liệu
phụ trợ
VD:
- SX giày thể thao
- SX giày vải
- SX giày da
Cung ứng
đầu vào
Hoạt động
SX/dịch vụ
Hậu cần
ngoài nước
Marketing và
bán hàng
Dịch vụ
Khái niệm chuỗi giá trị- />Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 9
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
2 Tầm nhìn
Ngành xuất khẩu da giày Việt Nam có tầm nhìn như sau:
Ngành da giày xuất khẩu Việt Nam phấn đấu trở thành một trung tâm có trình độ quốc tế về
sản xuất giày dép giá trị cao, phù hợp xu hướng của các thị trường dẫn đầu toàn cầu EU, Mỹ,
Nhật Bản và châu đại dương với giá cả cạnh tranh thông qua việc xây dựng năng lực sản xuất
toàn diện, nâng cao trình độ quản trị và kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp trong
ngành, củng cố liên kết ngành chặt chẽ và xây dựng một ngành công nghiệp phụ trợ hiệu quả.
Tầm nhìn này phù hợp với mục tiêu tổng quát “nâng cao chất lượng sản phẩm…nâng cao hiệu
quả, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu, chuyển mạnh từ gia công sang tự sản
xuất” đã được đề cập đến trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giày Việt Nam đến
năm 2010, tầm nhìn 2020.
Tầm nhìn này cũng ghi nhận những nỗ lực của các bên liên quan nhằm tập trung xây dựng hình
ảnh quốc tế tích cực của ngành/quốc gia cho các thị trường mục tiêu cao cấp và xây dựng năng
lực sản xuất toàn diện, hướng tới sản phẩm cao cấp, phù hợp xu hướng thị trường, đảm bảo
yêu cầu về môi trường và xã hội. Sản phẩm cần được tập trung vào khâu tạo ra sự khác biệt,
đặc biệt là với các sản phẩm đại trà của Trung Quốc.
Tầm nhìn này đề cập đến sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đáp ứng yêu cầu
chất lượng xuất khẩu, nhằm tối ưu hóa năng lực nội địa, chủ động và giảm chi phí sản xuất,
một trong những yếu tố quan trọng tạo năng lực cạnh tranh bền vững.
Trong giai đoạn phát triển 2010-2015, Hiệp hội Lefaso đề xuất mục tiêu cụ thể cần đạt được là
“chuyển đổi thành công từ phương thức gia công sang sản xuất toàn diện, tập trung vào sản
phẩm thời trang và chất liệu da”. Mục tiêu này đặt trọng tâm vào việc a) tối ưu hoá những
năng lực gia công hiện có và những công nghệ, thiết bị hiện đang sử dụng; và b) gắn kết và xây
dựng các liên kết ngành nhằm mang lại lợi ích thực tế cho tất cả các nhà sản xuất và kinh
doanh trong ngành; ví dụ như các nỗ lực chung trong xúc tiến xuất khẩu, chủ động ứng phó với
các vụ kiện thương mại, các chương trình đào tạo chung về phát triển sản phẩm và đào tạo kỹ
80,70 11,22 129,12 12,00
- Da thuộc TP Tr.Sqft 15,10
47,00 51,00
80,00 20,00
140,00
15,00
III Lao động sử dụng 1000
người
540 540 820 8,27
1.189,0`
9,00
IV
Tỷ lệ nội địa hoá
% 30,00 40,00 40,00 65,00
-70,00
- 85,00–
90,00
-
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 11
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
3 Đánh giá hiện trạng ngành
3.1 Ngành da giày toàn cầu
3.1.1 Thị trường toàn cầu
Về tổng thể, giày dép được đánh giá là một phụ kiện thời trang quan trọng nhất và tiêu thụ giày
dép vẫn có xu hướng tăng cao, đặc biệt là ở thị trường châu Á và Mỹ la tinh. Tuy nhiên EU vẫn
là thị trường giày dép lớn nhất thế giới, trị giá 50.43 tỉ euro với 2.155 tỉ đôi, chiếm gần 1/3 giá
trị thị trường toàn cầu và có tốc độ tăng trưởng bình quân 1.9%/năm từ 2002-2006. Mỹ là thị
trường lớn thứ 2 với 2.4 tỉ đôi, giá trị 44 tỉ euro năm 2006. Mức tiêu thụ giày bình quân của
Vie 61/94 12
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
3.2 Phân loại sản phẩm-thị trường
Do tính chất phong phú, đa dạng về sản phẩm-thị trường của Ngành mà có nhiều hình thức
phân loại khác nhau. Mỗi phương thức sẽ cung cấp thông tin về sản phẩm-thị trường ở các góc
độ khác nhau. Phần dưới đây trình bày 3 cách phân loại phổ biến.
3.2.1 Phân loại theo nhóm khách hàng
Phương thức phân loại này dựa trên cơ sở giới tính người sử dụng sản phẩm giày dép: phụ nữ,
nam giới và trẻ em (bao gồm cả lứa tuổi vị thành niên). Cách phân loại này giúp cung cấp
thông tin dưới khía cạnh nhu cầu và xu hướng của người sử dụng sản phẩm trong tương lai, rất
hữu ích cho các hoạt động marketing. Ví dụ, nhóm khách hàng phụ nữ thường chú trọng đến
tính chất thời trang của giày dép bên cạnh tính năng sử dụng, trong khi đó nam giới thường chú
trọng hơn đến tính năng sử dụng. Đối với trẻ em, mối quan tâm hàng đầu là tính năng bảo vệ,
phù hợp tiêu chuẩn sức khỏe của giày dép.
Tuy nhiên khó có thể có số liệu chi tiết về thống kê sản phẩm theo cách phân loại này vì các
đối tượng sử dụng sản phẩm thường sử dụng nhiều loại sản phẩm một lúc, ví dụ một phụ nữ
thường có cả giày cao gót, giày thể thao và giày vải.
3.2.2 Phân loại theo công dụng sản phẩm
Đây là phương thức phân loại phổ biến ở Việt Nam, bao gồm các nhóm sản phẩm thị trường:
• Giày thể thao (sport): dành cho các hoạt động thể thao như chạy, đi bộ, bóng đá, thể
dục thẩm mỹ. Tuy nhiên một số khách hàng cũng mua những loại giày thể thao này
cho các hoạt động đi lại thường ngày.
• Giày thông dụng (casual, leisure, health): dành cho các hoạt động thường ngày. Xu
hướng hiện nay là một số loại giày này cũng được dùng trong môi trường công sở, văn
phòng, ví dụ như giày bệt (ballerina).
• Giày công sở và dạ hội (classic, formal): Đây là các loại giày dùng cho các hoạt động
chính thức, truyền thống trong văn phòng, công sở và tại các sự kiện, dạ hội, ví dụ như
giày nữ cao gót, giày da nam.
• Giày bốt, dã ngoại (outdoor, rugged): Các loại giày thường cao đến mắt cá chân, dùng
(nguồn: ITC, 2006)
Các công đoạn hỗ trợ sản xuất toàn diện như cung ứng phụ liệu, thiết kế, kiểm nghiệm,
marketing, phân phối và phát triển thương hiệu hầu như vắng bóng ở Việt Nam. Một số nhà
sản xuất trong nước đã có khả năng nhân dưỡng mẫu và kiểm nghiệm chất lượng nội bộ, tuy
nhiên chỉ một số ít cơ sở sản xuất liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là có
thể tiếp cận với các công đoạn hỗ trợ sản xuất một cách liên tục và đầy đủ từ phía công ty mẹ
hoặc từ đối tác “ruột”. Liên kết trong ngành giữa các nhà sản xuất với nhau, với các nhà cung
ứng, phân phối và hậu cần cũng hầu như không có.
Do chuyên làm gia công nên sản phẩm giày của Việt Nam cũng không mang thương hiệu
riêng. Tuy là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới, người tiêu dùng quốc tế vẫn không biết đến
các thương hiệu giày dép Việt Nam.
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 14
GT TB toàn cầu
USD
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Đi cùng với sự tăng trưởng vượt bậc của mình, Việt Nam cũng đang ngày càng phải đối mặt
với các vụ kiện bán phá giá ở các thị trường chính. Hiện tại giày mũ da của Việt Nam phải
chịu thuế suất bán phá giá ở EU là 10% và Canada đã chính thức điều tra chống bán phá giá
giày chống thấm nước của Việt Nam 2/2009.
Dưới đây là trình bày về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam theo các phân loại sản phẩm-thị
trường chính (theo công dụng sản phẩm).
3.3.1 Xuất khẩu giày thể thao
Đây là mặt hàng giày xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 68% tổng doanh thu xuất
khẩu giày năm 2007 (2.7 tỉ USD) và có mức tăng trưởng bình quân hàng năm cao hơn toàn
ngành (20%) về số lượng. Tuy nhiên giá trị xuất khẩu lại tăng ít hơn trong cùng kỳ 2002-2007,
chỉ đạt 16%, với đơn giá xuất khẩu trung bình giảm còn 6.9 USD/đôi năm 2007 từ 7.74 USD
năm 2002.
Các nhà xuất khẩu chính là các nhà máy 100% vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu từ Đài Loan,
EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới với giá trị lên tới 26.244 tỉ euro với số
lượng gần 3 tỉ đôi năm 2006, chiếm 52% toàn thị trường giày dép của khối. Trung Quốc và
Việt Nam là hai nhà cung ứng hàng đầu vào thị trường này, tuy nhiên thường ở phân loại sản
phẩm giá trị thấp và trung bình. Trong khi đó xuất khẩu nội khối đang trên đà tăng lên, dẫn
đầu là Ý, Đức và Bỉ và các nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu như Rumani và thường nằm ở
phân loại sản phẩm cao cấp và giày dép thời trang giá trị cao. Năm 2006, xuất khẩu nội khối
EU chiếm 50% tổng giá trị nhập khẩu nhưng chỉ chiếm 25% về số lượng. Trong khi đó, các
nước đang phát triển dẫn đầu là Trung Quốc và Việt Nam chỉ chiếm 42% tổng giá trị nhập
khẩu cho 71% tổng số lượng. Giày dép mũ da là thị trường nhập khẩu lớn nhất EU, chiếm tới
60% tổng giá trị nhập khẩu, tiếp theo là các loại giày dép mũ cao su, chất dẻo, và giày vải.
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 16
Triệu USD
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Bảng 3: Tiêu thụ giày dép của các nước EU năm 2006
Nước
Gía trị
(triệu euro)
Số lượng (triệu
đôi)
Tăng trưởng giá trị bình
quân/năm từ 2002-2006
Toàn EU 50,430 2,155 1.9
Germany 8,455 323 -0.3
France 8,354 381 1
United Kingdom 8,176 338 1.9
Italy 6,321 250 1.5
Spain 4,224 212 3.3
Netherlands 2,413 70 1.3
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 17
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Nhóm sản phẩm SL 2006
tăng trưởng
TB/năm giá trị tăng trưởng TB/năm
xuất khẩu (triệu đôi) (2002-2006) (triệu Euro) (2002-2006)
giày mũ da 105 5% 1,110 2%
giày giả da, đế nhựa
cao su 84 -3% 517 -5%
giày mũ vải 65 3% 426 3%
Bảng 5: Xuất khẩu giày dép của Trung Quốc vào EU
Nhóm sản phẩm SL 2006
tăng trưởng
TB/năm giá trị
tăng trưởng
TB/năm
xuất khẩu (triệu đôi) (2002-2006) (triệu Euro) (2002-2006)
giày mũ da 202 46% 1,893 36%
giày giả da, đế nhựa
cao su 691 44% 1,769 27%
giày mũ vải 525 29% 1,406 21%
(Nguồn: CBI)
EU cũng còn là một trung tâm sản xuất giày dép dẫn đầu của thế giới với các thương hiệu
truyền thống và sáng tạo nổi tiếng từ Ý, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, đặc biệt là ở phân loại thị
trường sản phẩm cao cấp giày da. Các trung tâm thời trang và thiết kế ở EU thường định hình
xu hướng giày dép trên toàn thế giới. Ý là nước xuất khẩu hàng đầu, chiếm 1/3 tổng giá trị
xuất khẩu của khối, theo sau là Bỉ thường đứng ngay sau Việt Nam trong các phân loại hàng
xuất khẩu chính của Việt Nam, chủ yếu là tái xuất sản phẩm giá trị rất cao. Bỉ là một đầu mối
Mê Hi Cô 203,886 222,156 9.0% 1.2%
Ấn Độ 138,056 153,343 11.1% 0.8%
Đài Loan 56,594 47,370 -16.3% 0.3%
Các nước khác 912,778 889,883 -2.5% 4.8%
Tổng giá trị NK $17,493,650 $18,693,771 6.9% 100.0%
(nguồn: ShoeStats 2007)
Nhật Bản là thị trường có những phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam và có mức tiêu
thụ giày dép bình quân theo đầu người cao trên 3 đôi/người/năm. Tuy nhiên xuất khẩu của Việt
Nam còn rất khiêm tốn, đạt 3% tổng giá trị nhập khẩu giày dép của Nhật (3.8 tỉ USD) năm
2006. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu giày thể thao, giày da nam nữ và dép đi trong nhà sang
Nhật. Trung Quốc, Ý, Campuchia, Indonesia là những nhà cung ứng chính cho thị trường này.
Người Nhật thường được coi là khó tính, tiêu dùng ở mức cao, chất lượng và mẫu mốt thời
trang đối với người Nhật quan trọng hơn giá cả, nhiều người Nhật mua hàng đánh giá vì chất l-
ượng và mẫu mốt thời trang.
3.4.2 Các nước Trung Cận Đông và châu Phi
Trung Cận Đông là một thị trường tiềm năng cho sản phẩm giày dép cao cấp do thu nhập bình
quân đầu người rất cao từ dầu mỏ. Tổng giá trị nhập khẩu của khối này là 1.6 tỉ USD năm
2006. Các Tiểu vương quốc Ả rập, Ả rập Xê út và Ixaren là 3 nước nhập khẩu giày dép lớn
trong khối này. Trung Quốc là nhà cung ứng chủ yếu, bên cạnh đó là Ý, Braxin và các nước
tây âu. Tuy nhiên một trong những rào cản chính vào thị trường khối này là tình hình chính trị,
xã hội không ổn định và tôn giáo đặc thù.
Châu Phi cũng là một thị trường tiềm năng cho các sản phẩm giày dép thông dụng giá trị thấp.
Tuy nhiên tình hình chính trị phức tạp và rủi ro thanh toán là những rào cản hàng đầu vào thị
trường này. Sự có mặt rộng khắp của người Trung Quốc ở lục địa này cũng là một rào cản rất
lớn đối với những nhà xuất khẩu giày dép giá rẻ vào thị trường này.
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 19
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Bảng 7: Gía trị thị trường nhập khẩu giày dép Trung Cận Đông (2006)
Dương, Nhật Bản và Trung Đông làm gia tăng nguy cơ sức ép thương mại và chưa tận dụng
được lợi thế đa dạng hóa thị trường.
3.5 Cạnh tranh
3.5.1 Đối thủ cạnh tranh
3.5.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nhà sản xuất và xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới, chiếm lĩnh thị trường xuất
khẩu giày dép toàn cầu với thị phần 29% và giá trị xuất khẩu 21.8 tỉ USD năm 2006. Mỹ là thị
trường xuất khẩu chủ yếu với gần 2.04 tỉ đôi năm, giá trị 13.6 tỉ USD (73% thị phần), theo sau
là EU với 1.446 tỉ đôi với giá trị xuất khẩu là 5.3 tỉ Euro (6.8 tỉ USD) (20.2% thị phần) năm
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 20
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
2006. Tăng trưởng giá trị xuất khẩu hàng năm vẫn ở mức cao 18% so với 10% trung bình thế
giới. (ITC, USstat, CBI)
Lợi thế của Trung Quốc về nguồn lao động giá thấp khổng lồ, chi phí cơ sở hạ tầng thấp,
ngành công nghiệp nguyên liệu phụ trợ sẵn có, trung tâm phát triển mẫu, cung ứng công nghệ
và thiết bị sản xuất của Đài Loan và dịch vụ xuất nhập khẩu của Hồng Kông đã giúp cho nước
này có vị trí thống lĩnh trong xuất khẩu giày dép, đặc biệt là đối với các loại sản phẩm thông
dụng giá trị thấp và trung bình và có số lượng rất lớn.
Tuy nhiên sự phát triển của ngành giày dép Trung Quốc dựa trên các yếu tố truyền thống này
được dự đoán là đã gần tới điểm cực đại của chu kỳ kinh doanh, những vấn đề mới nảy sinh
như sự gia tăng chi phí nhân công và nguyên liệu, nguy cơ kiện bán phá giá và các rào cản phi
thương mại, các vấn đề môi trường và quyền con người và sự đa dạng hóa nguồn cung của các
nhà mua lớn sẽ khiến Trung Quốc gặp khó khăn trong việc duy trì vị trí thống lĩnh này trong
trung hạn.
3.5.1.2 Các nước Đông Âu
Xuất khẩu giữa các nước trong khối EU có chiều hướng gia tăng, trong đó các nước đông âu
hiện đang nổi lên là một lực lượng cung ứng giày dép cho thị trường này (chủ yếu là các nước
Tây Âu), làm đối trọng với các nước đang phát triển. Rumani và Ba Lan là những nước xuất
mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của Trung Quốc và các nước đang phát triển khác về chi phí lao
động thấp và qui mô sản xuất khổng lồ. Trình độ quản lý, năng lực sáng tạo, marketing và tài
chính của các DN qui mô nhỏ cũng là một trong những khó khăn hiện thời của Braxin trong
việc tăng năng lực cạnh tranh của ngành.
3.5.1.4 Ấn Độ và các nước Đông Nam Á
Ấn độ là nước sản xuất giày dép lớn thứ 2 hai thế giới với hơn 2 tỉ đôi mỗi năm, chỉ sau Trung
Quốc. Thị trường trong nước với hơn 1 tỉ dân là trọng tâm của ngành giày dép nước này.
Xuất khẩu chỉ đứng thứ 14 với doanh thu 1.23 tỉ USD năm 2006, chủ yếu sang thị trường tây
Âu (Đức, Anh, Ý, Pháp) và Mỹ . Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là giày mũ da và giày thể thao.
Gía trị xuất khẩu trung bình của các dòng sản phẩm chính thấp hơn khá nhiều giá trị xuất khẩu
trung bình toàn cầu (xem thêm biểu đồ 1-trang 12). Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm là 19%
về giá trị.
Ngành da giày Ấn độ cũng có bước phát triển tương tự như ở Trung Quốc và Việt Nam, chủ
yếu là gia công cho các hãng giày nổi tiếng thế giới, tận dụng lợi thế lao động và cơ sở hạ tầng
về công nghệ thông tin. CNTT sẽ giúp ngành da giày từng bước thiết lập năng lực quản trị và
thiết kế để sẵn sàng đón nhận chuyển giao công nghệ cao về giày thể thao cho vận động viên.
Ấn độ hiện đang nổi lên là một địa chủ thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển dịch sản xuất từ
Trung Quốc sang. Các hãng giày lớn bắt đầu chuyển dần các cơ sở sản xuất lớn từ Trung Quốc
sang Ấn độ, kể cả các nhà sản xuất lớn Trung Quốc như APACHE.
Trong số các nước Đông nam á, Indonesia là nước gia công giày lớn, với giá trị xuất khẩu gần
1.6 tỉ USD năm 2006. Tuy nhiên giá trị đơn vị xuất khẩu của Indonesia cũng rất thấp so với
trung bình thế giới. Ngành giày dép Indonesia chủ yếu dựa vào gia công hàng giá trị thấp, tận
dụng lợi thế lao động phổ thông giá rẻ. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Mỹ, chiếm 28% tổng
giá trị XK, tiếp theo là các nước Tây Âu Đức, Anh, Bỉ và Hà Lan, mỗi nước chiếm khoảng 8%
tổng giá trị XK. Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm chỉ khoảng 9% về giá trị.
3.5.2 Vị thế cạnh tranh của các nhà xuất khẩu Việt Nam
Năng lực cạnh tranh của ngành có thể được đánh giá từ nhiều góc độ:
- Qui mô và công suất sản xuất
- Sản phẩm và quy trình sản xuất;
- Cơ sở chi phí,
ít ổn định hơn so với các đơn vị có vốn nước ngoài. Hệ thống thiết bị, công nghệ nói chung
vẫn ở mức trung bình bán tự động và cơ khí, mức độ sử dụng lao động phổ thông còn cao, do
đó năng suất lao động chưa được cải thiện. Đặc biệt, trình độ kỹ thuật, quản lý của các đơn vị
này còn yếu kém do thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, chủ yếu được học hỏi qua kinh
nghiệm vừa làm vừa học. Năng lực marketing của nhóm này hầu như không có do bị quá phụ
thuộc vào các trung gian xuất khẩu và chỉ tập trung vào gia công các đơn hàng xuất khẩu. Hầu
như không có sự hiện diện của các doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ kiện cho ngành da
giày.
Nhóm các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, thủ công có công nghệ sản xuất đơn giản, chủ yếu cung ứng
cho thị trường nội địa các sản phẩm có mẫu mã nghèo nàn. Nhóm này chưa có khả năng xuất
khẩu.
3.5.2.2 Sản phẩm và quy trình sản xuất
Chất liệu giày dép quyết định chất lượng và đẳng cấp sản phẩm. Hiện nay chất liệu da vẫn
được đánh giá là cao cấp nhất, tiếp theo là chất dẻo và cao su và các chất liệu khác. Các tính
năng đặc thù của giày dép cũng được đánh giá cao, ví dụ như giày dép không thấm nước, giày
thể thao có bánh xe, giày dép thời trang hoặc giày dép có chất liệu hoàn toàn từ tự nhiên
(vegan & vegetarian shoes-không dùng da và không sử dụng keo dán có nguồn gốc từ động
vật).
Qui trình sản xuất giày dép bao gồm các công đoạn chính sau:
gia công nguyên liệu
2
Gồm cả 42 doanh nghiệp thuộc da, trong đó có 10 doanh nghiệp có vốn của nước ngoài (Nghiên cứu xây dựng
chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành da giày Việt Nam đến 20105, tầm nhìn 2020-Lefaso-2008)
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 23
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
pha cắt nguyên liệu
lắp ráp mũ giày
tiền chế đế giày
mỹ, chiếm tới 78% tổng giá trị xuất khẩu giày dép năm đó. Tuy nhiên đến nay, năng lực thuộc
da trong nước đã tăng lên, giúp giảm bớt sức ép nhập khẩu nguyên liệu.
• Chi phí nhân công
Chi phí nhân công là một trong các yếu tố xem xét hàng đầu khi các hãng và nhà bán lẻ nước
ngoài tìm đối tác gia công giày dép vì ngành này cần một lượng lớn lao động thủ công, nhất là
trong các khâu sản xuất giày. Mức lương thấp và phụ cấp khiêm tốn phổ biến ở Việt Nam đã
tạo ra lợi thế cạnh tranh, thậm chí cả với Trung Quốc là quốc gia gia công giày dép lớn nhất thế
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 24
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
giới. Mức tiền lương tối thiểu ở Việt nam là 620,000 đ/tháng
3
(39 USD) so với 112 USD ở
miền nam và 50 USD ở miền trung Trung Quốc (PwC, 2008).
Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ, khéo léo, kiên nhẫn, đặc biệt là lao động nữ. Đến
năm 2007, số lao động trong ngành da giày là 610,000 người, chỉ đứng sau ngành dệt may
trong số các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động nhất. Tuy vậy, tay nghề của người lao
động Việt Nam chưa cao, phần lớn chỉ được đào tạo kèm cặp trong thời gian ngắn và thực
hành trên dây truyền sản xuất. Đội ngũ kỹ thuật viên, quản trị doanh nghiệp, điều hành sản
xuất kinh doanh còn rất thiếu và ít kinh nghiệm. Việc thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao đã
đẩy mức lương lên cao, làm chi phí lao động trình độ cao cao hơn so với Trung Quốc. Một
nghiên cứu của hãng tư vấn PwC năm 2008 cho thấy đối với cấp quản lý, chi phí lao động ở
Bình Dương cao hơn từ 20-70% so với miền nam Trung Quốc và 200% so với miền trung
Trung Quốc. Chi phí bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp của Việt Nam (26% lương) cũng cao
hơn vùng nam Trung Quốc (22.5%) (PwC, 2008).
Ngành da giày có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, đặc biệt cho nhóm các lao động
phổ thông nông thôn, trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng hiện nay, tuy nhiên lao động
trong ngành giày chỉ phát triển về lượng chứ chưa về chất, chủ yếu là lao động thủ công đơn
giản, năng suất và giá trị gia tăng thấp. Dù rằng Việt Nam còn có thể kỳ vọng vào lợi thế này