Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Chiến lược xuất khẩu ngành
Ngành Da giày Việt Nam
Cập nhật 2010-2015
Người thực hiện:
Trần Thị Huyền Trang
Hiệp hội Da giày Việt Nam
Theo yêu cầu của Cục Xúc tiến Thương mại (Dự án VIE 61/94)
Dự thảo
Tháng 01-06 năm 2009
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 1
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Mục lục
Tóm tắt ........................................................................................................................................... 5
1 Giới thiệu ...................................................................................................................................... 7
1.1 Cơ sở ..................................................................................................................................... 7
1.2 Các nguyên tắc phân tích ...................................................................................................... 7
1.2.1 Quy mô chiến lược xuất khẩu ngành ................................................................... 7
1.2.2 Khuôn khổ thiết kế và quản lý chiến lược .......................................................... 8
1.2.3 Phân tích chuỗi giá trị trong đánh giá năng lực cạnh tranh ................................ 8
2 Tầm nhìn .................................................................................................................................... 10
3 Đánh giá hiện trạng ngành ........................................................................................................ 12
3.1 Ngành da giày toàn cầu ....................................................................................................... 12
3.1.1 Thị trường toàn cầu ............................................................................................ 12
3.1.2 Năng lực sản xuất ............................................................................................. 12
3.1.3 Xu hướng sản phẩm ........................................................................................ 12
3.2 Phân loại sản phẩm-thị trường ........................................................................................... 13
3.2.1 Phân loại theo nhóm khách hàng ....................................................................... 13
4 Phụ lục 2: Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu ngành da giày 2007-2009 ................................ 48
Viettrade ................................................................................................................................... 48
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 2
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Hiệp hội Lefaso ...................................................................................................................... 49
Phụ lục 4: Ngành da toàn cầu ..................................................................................................... 52
Phụ lục 5: Các trang web tham khảo .......................................................................................... 52
Các trang web thương mại toàn cầu ........................................................................................ 52
Các trang web ngành da giày ................................................................................................... 52
Phụ lục 6: Tài liệu tham khảo ..................................................................................................... 52
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 3
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Các cụm từ viết tắt
SES Chiến lược xuất khẩu ngành
VIETRADE Cục xúc tiến thương mại
TPO Tổ chức xúc tiến thương mại
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
LEFASO Hiệp hội Da giày Việt Nam
SLA Hiệp hội da giày thành phố Hồ Chí Minh
ITC Trung tâm Thương mại quốc tế
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
MOIT Bộ Công thương
MOF Bộ Tài chính
MOLISA Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội
MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
1.1 Cơ sở
Nhằm hỗ trợ chính phủ Việt Nam đạt được mục tiêu về tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu đến năm
2010 định hướng 2020, Dự án VIE 61/94 (Hỗ trợ Xúc tiến thương mại và Phát triển xuất khẩu”
do Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại) và Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) đồng
thực hiện) đã tiến hành xây dựng chiến lược xuất khẩu ngành đối với một số ngành có tiềm
năng tăng trưởng xuất khẩu. Các chiến lược xuất khẩu ngành này dựa trên cơ sở chiến lược
phát triển chung của nhà nước.
Chính phủ Việt Nam đã xác định da giày là một trong những ngành xuất khẩu mục tiêu trong
Chiến lược xuất khẩu quốc gia giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt
trong quyết định 156/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006. Ngành da giày có tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu bình quân 23%/năm từ 2002 đến 2008, với kim ngạch xuất khẩu năm 2008
đạt 4.768 tỉ USD, chiếm 8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế. Cùng với dệt may,
da giày còn là ngành trọng tâm tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động phổ thông
và bán chuyên nghiệp, tận dụng lợi thế tương đối về chi phí nhân công thấp. Ngành công
nghiệp da giày cũng được kỳ vọng là có tiềm năng trong chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo
hướng gia tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng, công nghệ và hàm lượng chất
xám cao so với sản phẩm xuất thô.
Chiến lược xuất khẩu ngành (SES) cập nhật giai đoạn 2010-2015 là cơ sở để tiếp tục thực hiện
các kế hoạch hành động của Chương trình xuất khẩu quốc gia đến năm 2010, tầm nhìn 2020.
1.2 Các nguyên tắc phân tích
1.2.1 Quy mô chiến lược xuất khẩu ngành
Chiến lược xuất khẩu đối với ngành sản xuất da giày (gọi tắt là Ngành) là chiến lược cấp ngành
được xây dựng cho giai đoạn 2006-2010 và cập nhật cho giai đoạn 2010-2015. Đây là chiến
lược xuất khẩu trung hạn nhằm thực hiện các hoạt động mang tính sáng kiến, hỗ trợ ngành
củng cố và tối ưu hóa khả năng xuất khẩu, đồng thời tạo đà phát triển xuất khẩu bền vững theo
tầm nhìn 2020. Những khó khăn ngắn hạn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn
cầu hiện nay không nằm trong phạm vi giải quyết của chiến lược này, tuy rằng tình hình này
cũng được tính đến trong việc đưa ra các lựa chọn chiến lược.
Tại Việt Nam, da là phân ngành chủ yếu cung ứng nguyên liệu trực tiếp cho ngành sản xuất
giày dép, bên cạnh một khối lượng sản phẩm hàng hóa nhỏ (về mặt giá trị) cặp xách và phụ
Thành phần tham dự chính của hai cuộc họp này là các nhà sản xuất và xuất khẩu trong ngành
da giày.
1.2.3 Phân tích chuỗi giá trị trong đánh giá năng lực cạnh tranh
Chuỗi giá trị biểu thị một loạt các hoạt động tạo giá trị và các mối liên kết của chúng với
những sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Một mô hình chuỗi giá trị cơ bản như sau:
Hình 1: Mô hình chuỗi giá trị ngành
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 8
VD
- Dịch vụ khách hàng
VD:
-Nhà cung cấp nguyên
liệu thô
- Nhà cung cấp máy
móc
- Nhà cung cấp vật liệu
phụ trợ
VD:
- SX giày thể thao
- SX giày vải
- SX giày da
Cung ứng
đầu vào
Hoạt động
SX/dịch vụ
Hậu cần
ngoài nước
Marketing và
bán hàng
Dịch vụ
Vie 61/94 9
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
2 Tầm nhìn
Ngành xuất khẩu da giày Việt Nam có tầm nhìn như sau:
Ngành da giày xuất khẩu Việt Nam phấn đấu trở thành một trung tâm có trình độ quốc tế về
sản xuất giày dép giá trị cao, phù hợp xu hướng của các thị trường dẫn đầu toàn cầu EU, Mỹ,
Nhật Bản và châu đại dương với giá cả cạnh tranh thông qua việc xây dựng năng lực sản xuất
toàn diện, nâng cao trình độ quản trị và kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp trong
ngành, củng cố liên kết ngành chặt chẽ và xây dựng một ngành công nghiệp phụ trợ hiệu quả.
Tầm nhìn này phù hợp với mục tiêu tổng quát “nâng cao chất lượng sản phẩm…nâng cao hiệu
quả, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu, chuyển mạnh từ gia công sang tự sản
xuất” đã được đề cập đến trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giày Việt Nam đến
năm 2010, tầm nhìn 2020.
Tầm nhìn này cũng ghi nhận những nỗ lực của các bên liên quan nhằm tập trung xây dựng hình
ảnh quốc tế tích cực của ngành/quốc gia cho các thị trường mục tiêu cao cấp và xây dựng năng
lực sản xuất toàn diện, hướng tới sản phẩm cao cấp, phù hợp xu hướng thị trường, đảm bảo
yêu cầu về môi trường và xã hội. Sản phẩm cần được tập trung vào khâu tạo ra sự khác biệt,
đặc biệt là với các sản phẩm đại trà của Trung Quốc.
Tầm nhìn này đề cập đến sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đáp ứng yêu cầu
chất lượng xuất khẩu, nhằm tối ưu hóa năng lực nội địa, chủ động và giảm chi phí sản xuất,
một trong những yếu tố quan trọng tạo năng lực cạnh tranh bền vững.
Trong giai đoạn phát triển 2010-2015, Hiệp hội Lefaso đề xuất mục tiêu cụ thể cần đạt được là
“chuyển đổi thành công từ phương thức gia công sang sản xuất toàn diện, tập trung vào sản
phẩm thời trang và chất liệu da”. Mục tiêu này đặt trọng tâm vào việc a) tối ưu hoá những
năng lực gia công hiện có và những công nghệ, thiết bị hiện đang sử dụng; và b) gắn kết và xây
dựng các liên kết ngành nhằm mang lại lợi ích thực tế cho tất cả các nhà sản xuất và kinh
doanh trong ngành; ví dụ như các nỗ lực chung trong xúc tiến xuất khẩu, chủ động ứng phó với
các vụ kiện thương mại, các chương trình đào tạo chung về phát triển sản phẩm và đào tạo kỹ
năng quản lý nhằm phát triển kỹ năng của người lao động và năng lực làm việc cao cấp.
- Da thuộc TP Tr.Sqft 15,10
47,00 51,00
80,00 20,00
140,00
15,00
III Lao động sử dụng 1000
người
540 540 820 8,27
1.189,0`
9,00
IV
Tỷ lệ nội địa hoá
% 30,00 40,00 40,00 65,00
-70,00
- 85,00–
90,00
-
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 11
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
3 Đánh giá hiện trạng ngành
3.1 Ngành da giày toàn cầu
3.1.1 Thị trường toàn cầu
Về tổng thể, giày dép được đánh giá là một phụ kiện thời trang quan trọng nhất và tiêu thụ giày
dép vẫn có xu hướng tăng cao, đặc biệt là ở thị trường châu Á và Mỹ la tinh. Tuy nhiên EU vẫn
là thị trường giày dép lớn nhất thế giới, trị giá 50.43 tỉ euro với 2.155 tỉ đôi, chiếm gần 1/3 giá
trị thị trường toàn cầu và có tốc độ tăng trưởng bình quân 1.9%/năm từ 2002-2006. Mỹ là thị
trường lớn thứ 2 với 2.4 tỉ đôi, giá trị 44 tỉ euro năm 2006. Mức tiêu thụ giày bình quân của
người Mỹ lại đứng đầu thế giới với 8 đôi/người/năm trong khi đó ở EU là 4.3 đôi/người/năm.
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
3.2 Phân loại sản phẩm-thị trường
Do tính chất phong phú, đa dạng về sản phẩm-thị trường của Ngành mà có nhiều hình thức
phân loại khác nhau. Mỗi phương thức sẽ cung cấp thông tin về sản phẩm-thị trường ở các góc
độ khác nhau. Phần dưới đây trình bày 3 cách phân loại phổ biến.
3.2.1 Phân loại theo nhóm khách hàng
Phương thức phân loại này dựa trên cơ sở giới tính người sử dụng sản phẩm giày dép: phụ nữ,
nam giới và trẻ em (bao gồm cả lứa tuổi vị thành niên). Cách phân loại này giúp cung cấp
thông tin dưới khía cạnh nhu cầu và xu hướng của người sử dụng sản phẩm trong tương lai, rất
hữu ích cho các hoạt động marketing. Ví dụ, nhóm khách hàng phụ nữ thường chú trọng đến
tính chất thời trang của giày dép bên cạnh tính năng sử dụng, trong khi đó nam giới thường chú
trọng hơn đến tính năng sử dụng. Đối với trẻ em, mối quan tâm hàng đầu là tính năng bảo vệ,
phù hợp tiêu chuẩn sức khỏe của giày dép.
Tuy nhiên khó có thể có số liệu chi tiết về thống kê sản phẩm theo cách phân loại này vì các
đối tượng sử dụng sản phẩm thường sử dụng nhiều loại sản phẩm một lúc, ví dụ một phụ nữ
thường có cả giày cao gót, giày thể thao và giày vải.
3.2.2 Phân loại theo công dụng sản phẩm
Đây là phương thức phân loại phổ biến ở Việt Nam, bao gồm các nhóm sản phẩm thị trường:
• Giày thể thao (sport): dành cho các hoạt động thể thao như chạy, đi bộ, bóng đá, thể
dục thẩm mỹ. Tuy nhiên một số khách hàng cũng mua những loại giày thể thao này
cho các hoạt động đi lại thường ngày.
• Giày thông dụng (casual, leisure, health): dành cho các hoạt động thường ngày. Xu
hướng hiện nay là một số loại giày này cũng được dùng trong môi trường công sở, văn
phòng, ví dụ như giày bệt (ballerina).
• Giày công sở và dạ hội (classic, formal): Đây là các loại giày dùng cho các hoạt động
chính thức, truyền thống trong văn phòng, công sở và tại các sự kiện, dạ hội, ví dụ như
giày nữ cao gót, giày da nam.
• Giày bốt, dã ngoại (outdoor, rugged): Các loại giày thường cao đến mắt cá chân, dùng
cho hoạt động ngoài trời. Phổ biến nhất là các loại ủng, bốt, giày leo núi.
10,000
20,000
30,000
40,000
50,000
60,000
outer sole of
rubber/plastic; upper
leather
outer soles, upper of
plastic and rubber
outer soles of
rubber/plastic; upper
leather coverage ankle
outer soles of rubber,
plastic; upper textile
footwear other sports,
soles of rubber, plastic
outer sole, upper of
plastic, rubber
outer sole, upper of
plastic, rubber
Việt Nam TQ
Bỉ Ý
Braxin Rumani
Ấn Độ Indonesia
Toàn cầu
(nguồn: ITC, 2006)
Các công đoạn hỗ trợ sản xuất toàn diện như cung ứng phụ liệu, thiết kế, kiểm nghiệm,
marketing, phân phối và phát triển thương hiệu hầu như vắng bóng ở Việt Nam. Một số nhà
khẩu được trực tiếp mà đều phải thông qua nhiều đầu mối trung gian ở nước ngoài.
3.3.2 Xuất khẩu giày da nam nữ
Đứng thứ hai về doanh số và số lượng xuất khẩu là giày da nam nữ với 803 triệu USD cho 111
triệu đôi năm 2007. Nhóm hàng này có mức tăng trưởng rất cao về giá trị xuất khẩu, với mức
tăng đơn giá từ 3.93 USD/đôi năm 2002 lên 7.26 USD/đôi năm 2007. Các nhà sản xuất Việt
Nam thường cung ứng các loại giày da nữ cổ điển thông dụng dưới nhãn hiệu của các nhà bán
lẻ lớn ở châu Âu và Mỹ.
Sản lượng xuất khẩu mặt hàng này đã đạt mức tối đa công suất sản xuất (xấp xỉ 100%) năm
2007.
3.3.3 Xuất khẩu giày vải
Nhóm giày vải có doanh thu ít nhất trong các nhóm giày dép xuất khẩu, đạt 207 triệu USD năm
2007 với 38 triệu đôi. Mức tăng trưởng bình quân về số lượng cũng khá thấp, chỉ đạt 6%/năm,
giai đoạn 2002-2007. Đơn giá sản phẩm trung bình tăng đều hàng năm, đạt 5.35USD/đôi năm
2007.
3.3.4 Xuất khẩu xăng đan và dép đi trong nhà
Nhóm mặt hàng này tuy có doanh thu xuất khẩu khá khiêm tốn, đạt 285 triệu USD năm 2007,
nhưng lại là nhóm xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng bình 37%/năm từ
2002-2007. Đơn giá sản phẩm cũng tăng gần gấp đôi, từ 1.52 lên 3.84 USD/đôi trong thời kỳ
này.
Biểu đồ 2: Tăng trưởng giá trị xuất khẩu theo nhóm sản phẩm (2000-2007)
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 15
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
(nguồn: Hiệp hội Lefaso)
3.4 Các thị trường xuất khẩu chủ đạo
3.4.1 Các nền kinh tế phát triển (Mỹ, EU, Nhật Bản)
EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới với giá trị lên tới 26.244 tỉ euro với số
lượng gần 3 tỉ đôi năm 2006, chiếm 52% toàn thị trường giày dép của khối. Trung Quốc và
Việt Nam là hai nhà cung ứng hàng đầu vào thị trường này, tuy nhiên thường ở phân loại sản
Greece 1,264 40 3.5
Austria 1,157 41 2.1
Sweden 1,108 41 4.5
Denmark 732 31 2.1
Romania 610 42 16.3
Finland 523 21 2.9
Czech Republic 496 33 3.8
Ireland 477 26 2.2
Hungary 319 30 3.8
Slovakia 316 15 6.5
Slovenia 212 8 4.9
Lithuania 195 9 6.1
Bulgaria 181 14 8.2
Latvia 128 6 10.1
Luxembourg 108 2 1.7
Estonia 68 4 10.2
Cyprus 53 3 4.8
Malta 26 11 5.5
(nguồn: CBI, 2008)
EU luôn là thị trường xuất khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam, tập trung vào một số nước
Tây Âu: Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan và Pháp, đều là những thị trường có doanh số xuất khẩu trên
100 triệu USD/năm. Tuy vậy từ năm 2002, tỉ trọng xuất khẩu vào khối này ngày càng giảm đi,
từ 73% xuống còn 55% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, một phần do việc đa dạng hóa các
thị trường xuất khẩu và tránh các vụ kiện thương mại về bán phá giá. Từ ngày 06 tháng 10
năm 2006, EU áp đặt thuế chống bán phá giá giày mũ da sản xuất tại Việt Nam xuất khẩu sang
EU là 10%.
Bảng 4: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào EU
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 17
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 sau EU, với doanh số nhập khẩu 18.7 tỉ đô la cho 2.3 tỉ
đôi, chiếm 96% khối lượng giày dép tiêu thụ của cả nước năm 2006. Trung Quốc là nhà cung
ứng lớn nhất với 86.2% thị phần nhập khẩu, tiếp theo là Việt Nam với 3.6% thị phần nhập và
Braxin với 3% thị phần. Tuy nhiên đơn giá xuất khẩu trung bình của Việt Nam cao hơn Trung
Quốc khi Việt Nam chiếm tới 5.1% tổng thị phần nhập khẩu về giá trị trong khi của Trung
Quốc chỉ là 72.8%. Việt Nam đứng đầu về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào Mỹ (33.6%) trong
khi đó Trung Quốc chỉ tăng 6.2% và Braxin thậm chí giảm gần 16% từ 2005-2006. (AAFA).
Sự tăng trưởng xuất khẩu đột biến này của Việt Nam là do việc ký kết các hiệp định thương
mại và qui chế tối huệ quốc giữa hai nước và sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
gần đây. Sản phẩm xuất khẩu chính là giày thể thao và giày da nam nữ.
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 18
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Bảng 6: Gía trị nhập khẩu giày dép vào Mỹ (đơn vị: 1,000 USD)
Nước cung ứng 2005 2006
% tăng trưởng
2005-06
thị phần
2006
Trung Quốc $12,467,866 $13,600,167 9.1% 72.8%
Việt Nam 716,111 950,833 32.8% 5.1%
Braxin 1,017,196 893,488 -12.2% 4.8%
Indonesia 510,098 471,113 -7.6% 2.5%
Ý 1,128,717 1,101,622 -2.4% 5.9%
Thái Lan 291,618 292,940 0.5% 1.6%
Hồng Kông 50,730 70,856 39.7% 0.4%
Mê Hi Cô 203,886 222,156 9.0% 1.2%
Ấn Độ 138,056 153,343 11.1% 0.8%
Đài Loan 56,594 47,370 -16.3% 0.3%
1 UAE 625.5
2 Saudi Arabia 301.2
3 Isarel 256
4 Egypt 89.5
5 Kuwaid 56.5
6 Quatar 49.7
7 Liban 48
8 Iraq 45
9 Oman 37
10 Jordan 36
11 Yemen 22
12 Barain 11.7
13 Syria 5
14 Iran 2.2
Tổng 1,585
(nguồn: ITC)
3.4.3 Các nước châu Đại Dương (Úc & New Zealand)
Đây cũng là nhóm thị trường có thu nhập cao và mức độ tiêu thụ giày dép lớn. Nhập khẩu giày
dép của khối này năm 2006 là 1.062 triệu USD, chủ yếu từ Trung Quốc. Cộng đồng người
Việt Nam nhiều thế hệ sinh sống, kinh doanh và học tập ở Úc sẽ là một lợi thế tiềm năng trong
việc thâm nhập thị trường này.
Tóm lại, từ 2002 đến nay, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ đứng trong tốp 5 nhà sản xuất và
xuất khẩu giày dép hàng đầu thế giới. Sản phẩm của Việt Nam chủ yếu là gia công, không có
thương hiệu và thường nằm ở phân loại sản phẩm giá trị thấp và trung bình. Việt Nam xuất
khẩu chủ yếu giày thể thao và giày da nữ và giày vải. Những năm gần đây, một số nhà sản
xuất thực hiện những đơn đặt hàng lớn dép đi trong nhà. Việc tập trung mạnh vào các thị
trường phát triển EU và Mỹ và còn bỏ ngỏ một số thị trường tiềm năng khác như châu Đại
Dương, Nhật Bản và Trung Đông làm gia tăng nguy cơ sức ép thương mại và chưa tận dụng
được lợi thế đa dạng hóa thị trường.
3.5 Cạnh tranh
trưởng ngành dương (11.8%/năm trong giai đoạn 2002-2006). Giày mũ da là sản phẩm xuất
khẩu chủ yếu, chiếm 2/3 giá trị xuất khẩu (CBI).
Sự phát triển mạnh của ngành giày dép Rumani, ngoài việc dựa trên nền tảng ngành đóng giày
trước kia cung cấp cho Liên Xô cũ còn nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ với Italy, nhà sản xuất giày
dép chất lượng cao hàng đầu thế giới trong việc cung ứng linh kiện giày dép và tận dụng lợi thế
chi phí nhập khẩu thấp giữa hai nước. Năm 2006, Rumani là nước nhập khầu linh kiện giày
dép hàng đầu từ Italia, với giá trị là 526 triệu USD, chiếm 55% tổng giá trị xuất khẩu linh kiện
của Italia. Ngược lại Italia cũng là nhà nhập khẩu linh kiện hàng đầu, chiếm77% tổng giá trị
xuất khẩu linh kiện của Rumani (ITC).
3.5.1.3 Braxin
Braxin là trung tâm sản xuất giày lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ với sản lượng
hàng năm khoảng 755 triệu đôi. Mặc dù phục vụ thị trường trong nước là chủ yếu (72% tổng
giá trị sản lượng, 543 triệu đôi), xuất khẩu của Braxin hiện diện trên 130 nước, với Mỹ là thị
trường lớn nhất (70% tổng giá trị XK). Braxin là nhà cung cấp thứ 3 vào thị trường Mỹ, sau
Trung Quốc và Việt Nam. Gía trị xuất khẩu trung bình của các dòng sản phẩm xuất khẩu chính
thường thấp hơn giá trị xuất khẩu TB toàn cầu (xem thêm biểu đồ 1-trang 12).
Các nhà sản xuất Braxin chủ yếu là các nhà sản xuất nhỏ có dòng sản phẩm và thương hiệu
riêng của mình (7,000 doanh nghiệp). Thống kê hiện tại cho thấy có hơn 3,000 nhãn hiệu sản
phẩm của Braxin đang lưu hành. Ngành công nghiệp phụ trợ của Braxin cũng phát triển đa
dạng, gồm 300 doanh nghiệp linh kiện, 400 doanh nghiệp thuộc và chế biến da và khoàng 100
doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị ngành da giày.
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 21
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
Dù đã phát triển được các dòng sản phẩm của riêng mình, các nhà sản xuất Braxin đang đối
mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của Trung Quốc và các nước đang phát triển khác về chi phí
lao động thấp và qui mô sản xuất khổng lồ. Trình độ quản lý, năng lực sáng tạo, marketing và
tài chính của các DN qui mô nhỏ cũng là một trong những khó khăn hiện thời của Braxin trong
- Mức độ hiển thị của các nhà sản xuất, đặc biệt là ở các trang web mua bán trên
mạng.
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 22
Chiến lược Xuất khẩu Ngành Da giày Việt Nam
Tháng 1-6/2009
3.5.2.1 Qui mô và công suất
Việt Nam là một trong 5 nhà sản xuất giày dép hàng đầu thế giới với công suất 715 triệu
đôi/năm với 90% sản phẩm là cho xuất khẩu. Ngoài ra Việt Nam còn có thể cung ứng 80 triệu
cặp, túi xách hàng năm. Thực tế huy động công suất sản xuất đều ở mức tối đa, 90-100% đối
với giày dép và 80% đối với túi xách.
Theo thống kê của Hiệp hội Lefaso có 507 doanh nghiệp xuất khẩu giày dép, cặp túi xách và
nguyên phụ liệu ngành giày vào cuối năm 2007
2
. Bên cạnh đó còn có rất nhiều cơ sở sản xuất
nhỏ lẻ, hộ gia đình. Các nhà sản xuất trong ngành da giày tại Việt Nam có thể được chia thành
3 nhóm:
Nhóm 235 đơn vị liên doanh và 100% vốn nước ngoài, thường từ Đài Loan và Hàn Quốc.
Nhóm này chủ yếu là các đơn vị gia công giày cho các thương hiệu nổi tiếng Nike, Rebok,
Addidas, Clarks và một vài đơn vị cung ứng nguyên phụ liệu cho ngành. Đây là lực lượng sản
xuất chính, chiếm tới 60% tổng công suất sản xuất giày dép của Việt Nam (429 triệu đôi) và có
hệ thống thiết bị công nghệ ở mức trung bình cao, có khả năng thực hiện tất cả các công đoạn
sản xuất giày. Các đơn vị sản xuất này cũng có tổ chức và trình độ quản lý sản xuất hiện đại,
hưởng lợi thế vốn, thiết bị, thiết kế, marketing và phân phối sản phẩm từ các đối tác mua lớn.
Nhóm 230 nhà sản xuất trong nước trong đó có một số nhà máy cổ phần hóa và 6 doanh
nghiệp nhà nước, còn lại là doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp này chủ yếu gia công
hàng xuất khẩu cho các nhãn hiệu và các nhà bán lẻ lớn trên thế giới, tuy nhiên ở cấp độ nhỏ và
ít ổn định hơn so với các đơn vị có vốn nước ngoài. Hệ thống thiết bị, công nghệ nói chung
vẫn ở mức trung bình bán tự động và cơ khí, mức độ sử dụng lao động phổ thông còn cao, do
đó năng suất lao động chưa được cải thiện. Đặc biệt, trình độ kỹ thuật, quản lý của các đơn vị
nhà hoặc xăng đan thì không qua khâu gò đế bằng máy.
Mức độ gia tăng giá trị là khác nhau ở từng công đoạn sản xuất và đối với từng loại sản phẩm.
Đối với giày thể thao và giày vải, công đoạn gia công nguyên liệu bồi vải và cán luyện cao su
mang tính quyết định trong khi đó đối với giày nữ, công đoạn pha cắt nguyên liệu có thể gia
tăng nhiều giá trị với việc trang trí bán thành phẩm pha cắt như in, thêu. Tương tự như vậy là
công đoạn lắp ráp với nhiều hình thức may ráp mũ giày nữ phong phú tạo ra các sản phẩm hợp
thời trang.
3.5.2.3 Cạnh tranh trên cơ sở chi phí
• Sử dụng nguyên liệu thô
Thông thường, giày dép có tỉ lệ giá trị nguyên liệu khoảng 25% giá xuất khẩu (CIF) hoặc 10%
giá bán lẻ. Nguyên liệu thô chủ yếu là da, vải, chất dẻo và cao su được gia công theo các công
đoạn như thuộc da, bồi vải, cán luyện cao su để làm mũ và đế giày. Bí quyết công nghệ trong
lĩnh vực bồi vải và cán luyện cao su thuộc về từng nhà sản xuất và là nguyên nhân sâu xa dẫn
đến sự khác biệt về chất lượng sản phẩm giữa các nhà sản xuất.
Phân ngành thuộc da đã có bước phát triển vượt bậc, có tốc độ tăng năng lực sản xuất nhanh
nhất, bình quân 34%/năm từ năm 2003. Thực tế sản xuất đạt 73% công suất thiết bị (87 triệu
sq ft so với công suất 120 triệu) vào cuối năm 2007. 10 đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài đã
chiếm 2/3 tổng công suất (72 triệu sq. ft) trong khi đó 32 đơn vị thuộc da trong nước chỉ có
công suất 48 triệu sq ft. Nhiều doanh nghiệp thuộc da đã đầu tư công nghệ thiết bị tiên tiến của
Ý, Hà Lan để cung cấp các loại da thuộc bảo đảm tiêu chuẩn cho sản phẩm xuất khẩu. Tuy
rằng các doanh nghiệp này đã giúp tăng tỉ lệ nội địa hóa và chủ động nguyên liệu cho ngành
giày, nguyên liệu da thô vẫn còn phải nhập khẩu từ nước ngoài là chủ yếu. Tương tự như vậy,
mặc dù Việt Nam có tiềm năng về cao su, chất dẻo nhưng tỉ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước
chỉ đạt 40%; 60% còn lại đều nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc với số lượng và giá cả rất
cạnh tranh, làm ngành sản xuất nguyên phụ liệu da giày trong nước chưa thể phát triển được.
Đơn cử giá trị nhập khẩu da thuộc và phụ liệu ngành giày năm 2004 là 1.153 và 902 triệu đô la
mỹ, chiếm tới 78% tổng giá trị xuất khẩu giày dép năm đó. Tuy nhiên đến nay, năng lực thuộc
da trong nước đã tăng lên, giúp giảm bớt sức ép nhập khẩu nguyên liệu.
• Chi phí nhân công
Bảng 8: Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp
Trình độ Các ngành
chung
Ngành da
giày
Đại học & trên đại học 6-7% 5%
Cao đẳng 2.4%
Trung cấp 5.9%
6%
Công nhân kỹ thuật đào tạo chính qui (có bằng) 24%
Công nhân kỹ thuật đào tạo không chính qui (không có bằng) 28%
34%
Sơ cấp 3.8%
Lao động phổ thông 29.3%
55%
(nguồn: Hiệp hội Lefaso, 2008)
• Thiết bị và trình độ công nghệ
Hầu hết các dây chuyền và thiết bị sản xuất giày hiện nay của Việt Nam đều nhập của Hàn
Quốc và Đài Loan. Một số khách hàng gia công từ Đài Loan cũng chính là nhà cung ứng thiết
bị và công nghệ sản xuất.
Hầu như chưa có các doanh nghiệp trong nước sản xuất các máy móc chuyên phục vụ sản xuất
giày. Công tác nghiên cứu trang thiết bị ngành giày còn tản mạn chưa được tập trung ở các
3
Từ 1/5/2009, mức lương tối thiểu ở Việt Nam đã tăng lên 650,000đ
Dự án Xúc tiến Thương mại và Phát triển Xuất khẩu
Vie 61/94 25