Hội nghị KHCN lần 2 “Tài nguyên, Năng lượng và Môi trường vì sự Phát triển bền vững”
1
NGUYÊN LÍ BẤT ĐỊNH VÀ LÍ THUYẾT VỊ THẾ - CHẤT LƯỢNG:
Triển vọng ứng dụng trong nghiên cứu quản lí đất đai
Trần Thanh Hùng
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Tp.HCM, 236B Lê Văn Sỹ, Q. Tân Bình, Tp.HCM
Email: [email protected]
Đến Tòa soạn: 11/08/2014; Chấp nhận đăng: 25/09/2014
TÓM TẮT
Tại Việt Nam lí thuyết quản lí đất đai chính thống hiện nay chưa đề cập giải quyết một số
vấn đề mới phát sinh liên quan đến tính chất xã hội vô hình của đất đai và cách thức hành xử
mang tính ngẫu nhiên, phi lí trí của người sử dụng đất, mà chỉ xem xét đất đai ở góc độ vật chất
hữu hình và các hành vi ứng xử liên quan đến đất đai là những hành vi tất định có lí trí, theo
đuổi các lợi ích vật chất mang tính ích kỉ cá nhân. Bài viết này đề xuất một hướng tiếp cận mới
trong nghiên cứu quản lí đất đai từ thế giới quan của nguyên lí Bất định và lí thuyết Vị thế -
Chất lượng để giải quyết những vấn đề nêu trên.
Từ khóa: vị thế, chất lượng, bất định, tất định, ngẫu nhiên, hỗn độn, hợp trội, đất đai, đất và
người, giá trị, sở hữu, vô hình, hữu hình, hành vi, duy lí, có lí trí, phi duy lí, phi lí trí.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, lí thuyết quản lí đất đai tại Việt Nam được phát triển dựa trên các quan điểm
nhận thức về đất đai và giá trị đất đai, về hành vi ứng xử của con người dựa trên quyền sở hữu
và tự do trong khuôn khổ thế giới quan của nguyên lí Tất định, cụ thể như sau:
- Quan điểm về đất đai và giá trị đất đai: Đất đai là vật thể tự nhiên không phải là do con
người tạo ra, chỉ có các tính chất vật lí hữu hình và vì vậy, đất đai không có giá trị, được hiểu là
sức lao động của con người kết tinh vào đất đai [1].
- Quan điểm về hành vi ứng xử của con người dựa trên quyền sở hữu và tự do: Quyền sở hữu
là điều kiện và phương tiện đảm bảo cho quyền tự do của con người được tồn tại và phát triển.
Có nghĩa là con người dựa vào quyền sở hữu này thực hiện các hành động theo ý mình muốn,
thì lại càng không chính xác. Ngược lại để xác định càng chính xác vị trí thì bước sóng phải
càng ngắn, nhưng xung lượng tương ứng lại càng lớn, vì vậy vận tốc lại càng không chính xác.
Tóm lại, nguyên lí Bất định phát biểu rằng ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí
lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc.
Nguyên lí Bất định được phát biểu bởi Werner Heisenberg cũng ngầm ý là một hạt lượng tử
cũng đã có vị trí và vận tốc xác định, sự bất định của vị trí và vận tốc là do hành động quan sát
của con người gây ra. Điều này không được Niels Bohr chấp nhận, theo ông nguyên lí Bất định
phải phản ánh sự bất định của thế giới tự nhiên. Tức là các hạt lượng tử tự bản thân nó cũng
không có vị trí và vận tốc xác định trước khi có người quan sát. Vì vậy nguyên lí Bất định được
phát biểu theo cách khác bởi Niels Bohr: “Tính chất của các hạt “không tồn tại” trước khi các
tính chất đó được quan sát bởi một thiết bị đo đạc” [3]. Có nghĩa là bản chất của sự vật chỉ tồn
tại trong mối quan hệ giữa người quan sát với sự vật đó.
Những điều nêu trên thực sự là khó hiểu, ngay cả Einstein cũng đã phát biểu: “Mặt trăng
còn đó hay không nếu chẳng ai nhìn nó?”. Vậy ai đúng? Bohr đúng hay Einstein đúng? Điều này
đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Nhưng lời giải bài toán 3 vật thể của Henry Poincare cho thấy
quỹ đạo của n vật thể tương tác với nhau trong không gian không phải là nhất quán, mà hỗn loạn
ngẫu nhiên. Có thể nói rằng, vào thời điểm hiện nay tại vị trí trái đất chúng ta nhìn thấy mặt
trăng xoay quanh trái đất theo quy luật trật tự, nhưng vào một thời điểm khác thì có thể không có
mặt trăng.
Tính bất định không chỉ tồn tại trong thế giới tự nhiên, mà còn xuất hiện trong các quan hệ
xã hội, cách cư xử của mỗi một con người thì thường tùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội cụ thể
của người đó. Sự bất định cũng được phát hiện trong những sản phẩm tư duy trừu tượng của
chính con người, trong toán học, ngôn ngữ, văn chương và mĩ thuật [3].
- Trong toán học, tính bất định được khẳng định bởi Định lí Bất toàn của Kurt Godel, trong
đó chỉ ra rằng toán học chứa đựng những chân lí không thể quyết định được (không thể chứng
minh và cũng không thể phủ nhận). Nguyên lí Bất định và lí thuyết Vị thế - Chất lượng: Triển vọng ứng dụng trong nghiên cứu QLĐĐ
Những quan hệ xã hội hình thành từ các tương tác phi thị trường và thị trường được hiểu
như thế nào? Cơ chế tác động của chúng đến sự lựa chọn của người dân về nơi ở diễn ra như thế
nào? Điều này sẽ được làm rõ trong lí thuyết Vị thế - Chất lượng.
Theo lí thuyết Vị thế - Chất lượng, động học dân cư đô thị được hiểu là một sự dịch chuyển
đồng thời dọc theo hai chiều vị thế nơi ở và chất lượng nhà ở từ đó tạo thành một đường ngưỡng
mong muốn [7].
Để hiểu được lí thuyết này phải làm rõ ba khái niệm: Chất lượng nhà ở, Vị thế nơi ở và
Đường ngưỡng mong muốn.
- Chất lượng nhà ở: Là những đại lượng vật lí hữu hình đo đếm được như diện tích thửa đất,
diện tích xây dựng, số tầng cao, số phòng, số toilet, kết cấu công trình, nguyên vật liệu xây dựng,…
Các đại lượng này tồn tại độc lập với thành phần vị thế của nhà ở. Trần Thanh Hùng
4
- Vị thế nơi ở: Là một hình thức đo sự mong muốn về mặt xã hội gắn với nhà ở tại một vị trí
xác định. Có nghĩa đấy là sự mong muốn của con người về con người với các đặc điểm văn hóa -
xã hội và kinh tế tương ứng. Từ sự mong muốn này tiến tới thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa
con người với con người khi có sự phù hợp về mặt văn hóa - xã hội và kinh tế. Vị thế hình thành
bắt đầu từ sự mong muốn bên trong con người và biểu hiện ra bên ngoài là các quan hệ xã hội.
Vì vậy, vị thế được hiểu là tổng hòa các quan hệ xã hội được hình thành từ các tương tác
thị trường và phi thị trường. Người có vị thế cao hay thấp thì có nhiều hay ít quan hệ xã hội, điều
này đồng nghĩa với có nhiều hay ít người mong muốn thiết lập quan hệ.
Hình 1. Mô hình về động học dân cư đô thị theo vị thế và chất lượng nhà ở.
Vị thế nơi ở khác với chất lượng nhà ở. Vị thế nơi ở có bản chất vô hình vì nó tồn tại trong
tâm tư, nguyện vọng, ước muốn của con người [8]. Do bản chất vô hình của vị thế làm cho vị thế
rất khó định hình, thường chỉ đo đếm được thông qua các yếu tố vật thể hữu hình trung gian là
biểu tượng của vị thế, mà trong mối quan hệ với các biểu tượng đấy có sự thay đổi trong hành vi
một lúc, vật chất và tinh thần được đáp ứng đồng thời cùng lúc thì mức độ thỏa mãn cao hơn,
như ông bà ta thường nói “Rượu ngon nhờ có bạn hiền”, khác với “Ăn một mình đau tức, làm
một mình cực thân”.
Như vậy, để thỏa mãn nhu cầu của con người luôn có sự kết hợp của chất lượng và vị thế
theo một tỉ lệ nhất định. Tỉ lệ này được xác định như thế nào? Được xác định theo quy luật
đường ngưỡng mong muốn, hình thành từ sự lựa chọn chất lượng và vị thế của các cá nhân trong
xã hội trong sự tương tác so sánh với những người xung quanh. Ứng với mỗi một vị trí có vị thế
cụ thể thì có một mức chất lượng nhà ở tương ứng nhất định, mà dưới mức này thì chất lượng
nhà ở được cho là không mong muốn hay kém phẩm chất [7]. Đường ngưỡng này phản ánh mối
quan hệ giữa chất lượng nhà ở và vị thế nơi ở, chia quỹ nhà ở trong không gian đô thị thành các
phần khác nhau. Phần trên đường ngưỡng là phần thượng lưu, phần dưới đường ngưỡng là hạ lưu,
phần ngay đường ngưỡng là trung lưu.
Từ góc độ thống kê học đường ngưỡng này là đường trung bình. Từ góc độ xã hội học, là
đường tối thiểu, bởi vì mong muốn tối thiểu của con người là phải thuộc về thành phần trung lưu
của xã hội. Từ góc độ kinh tế học thì đường ngưỡng là đường tối đa, là quỹ tích các điểm kết
hợp tối ưu giữa chất lượng và vị thế, mà tại đó đạt được sự thỏa mãn cao nhất với mức chi phí
nhất định cho các yếu tố đặc điểm của chất lượng và vị thế [9].
3.2. Các hệ quả ứng dụng của lí thuyết Vị thế - Chất lượng
Hệ quả 1:
Khái niệm vị thế bổ sung cho khái niệm vị trí của đất đai. Vị thế là nội dung văn hóa - xã hội
và kinh tế ẩn chứa đằng sau vị trí làm cho vị trí có vai trò quyết định trong việc lựa chọn vị trí
đầu tư phát triển bất động sản.
Trong ngành bất động sản tất cả đều khẳng định vị trí là yếu tố quan trọng nhất. Nhưng lại
không làm rõ được nội dung vị trí là gì? Cần phân biệt vị trí trong không gian tự nhiên, vị trí trong
không gian kinh tế - xã hội và vị trí trong không gian tâm lí. Vị thế ở đây chính là phản ánh
các vị trí trong không gian tự nhiên và không gian kinh tế - xã hội vào trong không gian tâm lí.
Như vậy, có thể nói, vị thế cũng là vị trí trong không gian tâm lí.
Hệ quả ứng dụng trong nghiên cứu quản lí đất đai:
Vị thế là thuộc tính xã hội của đất đai, có bản chất vô hình vì nó tồn tại trong tâm trí – tâm tư,
nguyện vọng và ước muốn của con người. Vị thế là thuộc tính chưa được quan tâm nghiên cứu
tức là đứng ở đường ngưỡng thì chúng ta mới có quyền phán xét, phân biệt hành vi duy lí và
hành vi phi duy lí. Ở góc độ cá nhân mỗi hành vi ứng xử hà tiện hay hoang phí đều có căn cứ
biện hộ cho chính mình, chúng ta không có quyền phán xét hay phân biệt đâu có lí và đâu là
không có lí.
Về bản chất tâm lí hành vi của con người, trong mỗi con người luôn tồn tại trạng thái tình
cảm hai chiều lẫn lộn nhau, như là yêu thương và ghét bỏ, hấp dẫn và ghê sợ, tuân phục và bất
tuân phục, thiện và ác, Hai trạng thái dương tính và âm tính lẫn lộn nhau này có nguồn gốc từ
tình cảnh lưỡng nan của con người, vừa tự do và cũng vừa phụ thuộc không tách rời nhau. Chính
vì vậy mà hành vi của con người lúc thế này lúc thế khác, hai chiều lẫn lộn, biểu hiện ra ngoài
phụ thuộc vào từng bối cảnh cụ thể [2]. Từ đó, thấy được hành vi ứng xử của con người thay đổi
thất thường, lúc thì ích kỉ, lúc thì sĩ diện. Lúc yêu thương thì cho là tốt, lúc ghét bỏ thì lại là xấu
về mặt chất lượng, cho là cao hay là thấp về mặt vị thế.
Như vậy, chúng ta thấy bản chất hành vi con người là bất định, là mù mờ có nguồn gốc từ
tình cảm hai chiều lẫn lộn, nhưng cũng nhận thấy mặt dương tính và mặt âm tính của tình cảm
biểu hiện phụ thuộc vào bối cảnh bên ngoài. Đây là căn cứ để đưa ra những quyết định tác động
trong quản lí.
Hành vi ứng xử con người phụ thuộc vào bối cảnh dưới sự tác động của các quy tắc ứng xử,
của tâm lí đám đông, của sức ép cộng đồng, mà trong từng bối cảnh có cách ứng xử khác nhau,
lúc thì duy lí trí lúc thì phi duy lí [4].
Như vậy, ở cấp độ cá nhân hành vi ứng xử là ngẫu nhiên, không nhất quán, khó đoán định,
nhưng ở cấp độ xã hội các hành vi hợp trội là các hành vi tuân thủ theo các quy tắc ứng xử của
nhóm và cộng đồng, nên chúng là có lí, tức là các hành vi duy lí, nhất quán và dễ đoán định.
Thấy được mối quan hệ giữa tính bất định và tất định trong không gian Vị thế - Chất lượng.
Hành vi phi duy lí là hành vi không xác định, còn hành vi duy lí là hành vi xác định.
Hệ quả ứng dụng trong nghiên cứu quản lí đất đai: Nguyên lí Bất định và lí thuyết Vị thế - Chất lượng: Triển vọng ứng dụng trong nghiên cứu QLĐĐ
7
4. TRIỂN VỌNG ỨNG DỤNG NGUYÊN LÍ BẤT ĐỊNH VÀ LÍ THUYẾT VỊ THẾ -
CHẤT LƯỢNG TRONG NGHIÊN CỨU QUẢN LÍ ĐẤT ĐAI
4.1. Khách thể, đối tượng, chủ thể và nội dung quản lí đất đai
- Khách thể quản lí đất đai: Là đất đai, là sự vật mà các hoạt động quản lí hướng đến.
- Đối tượng quản lí đất đai: Là các mối quan hệ đất đai, hay chính xác hơn là các hành vi
ứng xử của người sử dụng đất đai, là quá trình chịu sự tác động trực tiếp của các hoạt động
quản lí đất đai. Đối tượng quản lí là một phần, một phương diện của khách thể quản lí.
- Chủ thể quản lí đất đai: Là những người quản lí với các tổ chức của mình thực hiện các
hoạt động quản lí hướng đến khách thể và tác động trực tiếp lên đối tượng quản lí. Hoạt động
quản lí trước tiên mang tính chủ quan của người quản lí, nhưng căn cứ vào sự hiểu biết và các tri
thức về các tính chất, quy luật của khách thể và đối tượng quản lí, vì vậy, hoạt động này mang tính Trần Thanh Hùng
8
khách quan. Hoạt động quản lí bao gồm cả hai mặt chủ quan và khách quan không tách rời trong
mối quan hệ biện chứng với nhau.
- Nội dung quản lí đất đai: Là các hoạt động của chủ thể quản lí trong việc điều chỉnh phân
phối, sử dụng và bảo vệ quỹ đất đai quốc gia phù hợp với từng thời kì phát triển kinh tế - xã hội,
hướng đến mục tiêu sử dụng tài nguyên đất đai của quốc gia một cách tiết kiệm, hiệu quả và
hợp lí [1].
4.2. Các ứng dụng nguyên lí Bất định và lí thuyết Vị thế - Chất lượng trong nghiên cứu
quản lí đất đai
- Định nghĩa lại khái niệm đất đai. Đất đai được hiểu bao gồm đất và người, có các tính
chất tự nhiên và xã hội. Tính chất tự nhiên của đất đai là các đặc điểm về không gian, địa hình,
địa mạo, địa chất và địa chấn, cũng như các đặc điểm lí hóa sinh của môi trường đất. Tính chất
xã hội của đất đai là các đặc điểm văn hóa - xã hội và kinh tế của con người. Trong mối quan hệ
giữa con người với các tính chất đất đai xuất hiện các phạm trù chất lượng tự nhiên và vị thế
xã hội, có tính bất định bởi vì chúng được xác định trong mối quan hệ giữa con người với các
của con người công cụ, không gian trên đường ngưỡng là không gian của con người tự do./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chu Văn Thỉnh - Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách và sử dụng hợp lí quỹ
đất đai, Đề tài cấp nhà nước, Viện Nghiên cứu Địa chính, Hà Nội, 2000.
2. Neil J. Smelser - Cái hợp lí và tình cảm hai chiều trong khoa học xã hội, American
Sociolgical Review, Vol. 63, No.1 Feb 1998, pp 1-16, (Bản dịch của Bùi Thế Cường).
3. David Peat F. - Từ xác định đến bất định, NXB Tri thức, 2012.
4. Dan Ariely - Phi lí trí: Khám phá những động lực vô hình ẩn sau những quyết định của
con người, NXB Lao động - Xã hội, 2009.
5. Alonso William - Location and Land Use. Harvard University Press, Cambridge,
Massachusetts, 1964.
6. Edward Glaeser - Non-Market Interactions, Department of Economics, Harvard University,
2002.
7. Hoàng Hữu Phê và Patrick Wakely - Vị thế, chất lượng và sự lựa chọn khác: Tiến tới một
Lí thuyết mới về Vị trí Dân cư Đô thị, Tạp chí Đô thị học (Urban Studies) xuất bản tại
Vương quốc Anh, Vol. 37, No. 1, January 2000.
8. Tôn Thất Nguyễn Thiêm - Dấu ấn thương hiệu, Tập I, II, III, NXB Trẻ, 2005.
9. Trần Thanh Hùng - Lí thuyết Vị thế - Chất lượng: Triển vọng mô hình hóa toán học và
cầu nối giữa kinh tế học hành vi và kinh tế học tân cổ điển, Tập san HTKH, Trường Đại học
Xây dựng Hà Nội, 2013.
10. Kim Jeong Moon - Residential Location Decisions: Heterogeneity and the Trade-off
between Location and Housing Quality, Ohio State University, 2010.
11. SUME - Sustainable Urban Metabolism for Europe, Deliverable 4.1 DRAFT v2.2, Work
Package 4, October, 2009.
12. Phan Đình Diệu - Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy, Thời Đại, số 6, năm 2002, trang 87-
116.
13. Alan Kirman - The Economic Crisis is a Crisis for Economic Theory, CESifo Economic
Studies, Vol. 56, April 2010, 498-535.