thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào dân tộc khmer tỉnh an giang từ nay đến năm 2015 - Pdf 24

HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình cộng cư với người Kinh (người Việt), Chăm, Hoa, người
Khmer đồng bằng sông Cửu Long nói chung và người Khmer An Giang nói
riêng đã sớm hình thành một nền văn hóa phát triển, tạo nên bản sắc văn hóa của
tộc người mình, góp phần làm đa dạng trong một thể thống nhất của bản sắc văn
hóa Việt Nam. Chính sách của Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống
của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp họ sớm hòa nhập và sống hòa thuận với
cộng đồng người Việt. Mặt khác, vẫn tôn trọng những gì thuộc về truyền thống
của đồng bào dân tộc thiểu số.
Người Khmer An Giang sống tập trung chủ yếu ở 02 huyện Tịnh Biên và
Tri Tôn, còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn.
Mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong dân số toàn tỉnh nhưng đồng bào dân tộc
Khmer có một nền văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên do sống ở vùng núi, sản xuất nông nghiệp là chính, lại phụ thuộc vào
thiên nhiên, tập quán canh tác lạc hậu nên đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn;
trình độ dân trí thấp, bị chi phối bởi tôn giáo, các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng
vừa chịu ảnh hưởng của đồng bào Kinh, vừa chịu ảnh hưởng từ phía Campuchia
tạo ra sự giao thoa độc đáo nhưng cũng rất phức tạp, hụt hẩng và thiếu thốn…
Do đó, trong giai đoạn phát triển của đất nước hiện nay, làm sao để văn hóa dân
tộc Khmer vừa hòa mình vào cái chung của nền văn hóa Việt Nam mà vẫn giữ
được nét riêng, đặc sắc của dân tộc mình. Từ những suy nghĩ trên, tác giả chọn
đề tài nghiên cứu của mình là: “ Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy
văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang từ
nay đến năm 2015”.
2. Giới hạn của đề tài
Khảo sát thực trạng bảo tồn, phát huy văn hóa vật thể và phi vật thể của
đồng bào dân tộc Khmer An Giang chủ yếu ở 02 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn từ
năm 2008 đến năm 2013, trên cơ sở đó, tác giả đề ra một số kiến nghị và giải

GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 3
B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA
VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA.
1.1 Một số khái niệm về văn hóa và bảo tồn.
1.1.1 Khái niệm văn hóa.
Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào những
không gian, thời gian khác nhau và những tác giả khác nhau. Điều này đã dẫn
đến việc có quá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa được đề cập đến ở cả
phương Đông lẫn phương Tây.
Trong quyển “Nhân chủng học Văn hóa”, giáo sư Richley H.Crapo cho
rằng, hai nhà khoa học Mỹ A.L.Krober và Kluckhôn đã khảo sát 158 định nghĩa
về văn hóa. Năm 1967, Abraham Moles, nhà Văn hóa học Pháp cho rằng, có
250 định nghĩa về văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa Trung Hoa Từ Hồng Hưng
cho rằng, có đến “hàng nghìn định nghĩa về văn hóa” [19;10].
Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: Văn hóa là một từ có
căn gốc Latinh: Colere, sau trở thành Cultura nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Từ
nét nghĩ này về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh
thần, trí tuệ. Thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên, nhà hùng biện thời La Mã
Cicéron có câu nói nổi tiếng: “Triết học là văn hóa tinh thần” [9;13]. Quay sang
phương Đông, ở Trung Quốc, từ văn hóa đã xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ
ở thời Tây Hán (206 trước Công nguyên - 220 sau Công nguyên), hai từ văn và
hóa đã được kết hợp lại thành văn hóa, và nhìn chung có hàm nghĩa: Dung, Thi,
Thư, Lễ, Nhạc, điển chương, chế độ… để giáo hóa dân chúng. [9;14].
Cùng với thời gian, hàm nghĩa văn hóa không ngừng đươc mở rộng
nhưng “văn hóa là gì?” vẫn là một vấn đề luôn được đặt ra để đón nhận những
lời giải đáp ngày càng thấu đáo và đầy đủ hơn. Những năm thập niên cuối cùng
của thế kỉ XX, vấn đề văn hóa được quan tâm, được xem là yếu tố có vị trí quan
trọng để vừa bảo tồn dân tộc, vừa phát triển dân tộc. Tại lễ phát động Thập kỉ

thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 5
thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho
cuộc sống của con người
Trong VHVT, người ta sử dụng nhiều kiểu phương tiện, tài nguyên, năng
lượng, dụng cụ lao đọng, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng sinh sống của con
người, phương tiện giao thông, truyền thồng, nhà cửa, công trình xây dựng phục
vụ nhu cầu ăn ở, ; làm việc và giải trí, các phương tiện tiêu khiển, tiêu dùng, mối
quan hệ kinh tế Tóm lại, mọi loại giá trị vật chất đều là kết quả lao động của
con người.
Di sản văn hóa vật thể bao gồm các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,
khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, danh lam, thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật
- Khái niệm Văn hóa phi vật thể:
Văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu
đạt, tri thức, kỷ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật khác và các
không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm và trong một số
trường hợp cá nhân công nhân là một phần di sản văn hóa của họ.
Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật
thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường
và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng tự nhiện và lịch sử của họ, đồng thời
hình thành trong ý thức họ về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn
trọng đối với sự đa dạng văn hóa những sáng tạo của con người.
Di sản văn hóa phi vật thể: gồm
a) Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam;
b) Ngữ văn dân gian (sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố,
truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt
khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết).
c) Nghệ thuật trình diễn dân gian (âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các

1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 7
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận
mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt
Nam. Nó chắc lọc, tổng hợp và kết tinh được những giá trị văn hóa của phương
Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế trong đó cốt
lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa và bản sắc dân tộc
Việt Nam [10;13].
Trong khi các nhà văn hóa trên thế giới còn bàn cãi về khái niệm văn hóa,
đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau, thì mấy ai biết từ năm 1942, Chủ tịch
Hồ Chí Minh có một định nghĩa rất đúng về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ
cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản
sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
[7;409]. Như vậy, các quan điểm, tư tưởng cơ bản nói trên của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển
nền văn hóa nước ta. Những lời dạy của Người không chỉ có tầm chiến lược mà
còn có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể trong công việc hằng ngày của chúng ta.
1.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác
văn hóa, xác định công tác văn hóa là một bộ phận của cách mạng Việt Nam.
Thời kỳ thành lập Đảng (1922 -1930) với tiêu điểm là Luận cương chính trị
năm 1930. Thời kỳ từ 1930 – 1960: đáng chú ý có Đề cương văn hóa (1943),
văn kiện Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của cố Tổng Bí thư
Trường Chinh và Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951). Thời kỳ 1960 – 1985: quan điểm của

đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng. [11;533].
Tiếp theo đến Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tiếp
tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 9
thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”
[4;115]. Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng
cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn kết chặt chẽ
văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh
vực đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách người Việt Nam
thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [5;284].
Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí Thư đã chỉ rõ “Tôn
trọng, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa chùa chiền Khmer kết hợp với nội dung
văn hóa mới nghiên cứu đưa một số chùa Khmer có ý nghĩa tiêu biểu về lịch sử
- văn hóa vào danh mục xếp hạng của Nhà nước”
1.3. Chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc về văn hóa:
Xuất phát từ những quan điểm của Đảng được Nhà nước ta thể chế hóa
trong Hiến pháp năm 1992 được quy định như sau:
Chương III, điều 30 quy định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển
nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những
giá trị của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng
tạo trong nhân dân”.
Nghị định số 39/1998/CP-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “đẩy mạnh
công tác văn hóa thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi” và
Quyết định số 124/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “bảo tồn và phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền núi”.
Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 23/10/2007 của Ban Chấp hành Đảng bộ
tỉnh về phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số Khmer đến năm 2010
và định hướng đến năm 2015.

Người Khmer còn thạo nghề đánh cá, dệt chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt
nốt và làm gốm với kỹ thuật đơn giản.
Dân tộc Khmer sống thành các điểm tụ cư gọi là Phum, Sóc (tương tự như
thôn, ấp của người Kinh). Người Khmer trước đây ở nhà sàn, kiểu nhà sàn phù
hợp với mùa nước lũ hàng năm, cao đến 5- 7 mét, 3 gian quay về hướng đông,
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 11
làm bằng gỗ lợp ngói hay tranh, rơm rạ. Hiện nay, người Khmer sống trong các
ngôi nhà trệt, mái lá, vách lá đơn giản.
Về y phục, trước đây nam nữ đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự
dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu và áo sơ mi. Những người già,
người lớn tuổi thường mặc quần áo bà ba với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu
hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ
truyền.
Dân tộc Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng và nền văn hóa phát triển
lâu đời, có phong tục tập quán và lễ hội phong phú và trân trọng về giá trị đời
sống tinh thần. Hàng năm, người Khmer có hai lễ lớn trong năm: Tết Chol
Chnam Thmay tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch); lễ
chào mặt trăng tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch. Dân tộc Khmer có nền văn
hoá, văn nghệ dân gian phong phú, biểu hiện trong các lễ hội theo chu kỳ thời
gian và vòng đời, các loại hát ứng khẩu dân ca được mọi lứa tuổi ưa chuộng, có
nhiều trò chơi như thả diều, đua thuyền trên sông nước.
Về tín ngưỡng – tôn giáo: họ theo Phật giáo Tiểu thừa. Người Khmer còn
gọi tín ngưỡng Phật giáo của mình là Phật giáo Therevada hay con đường
Therevada. Chùa là trung tâm hành lễ của cư dân các Phum, Sóc Chùa không chỉ
là nơi tu hành mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa, nơi học hành, nơi hội họp của
dân làng. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của
văn hoá Khmer
Đồng bào Khmer còn lưu giữ được nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian như
múa hát, nghệ thuật sân khấu, như sân khấu Rôbam, kịch Dukê, đua bò… tạo

như: điều tra, khảo sát, chọn lọc và lập dự án trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch cho thực hiện bằng hình thức viết kịch bản, quay phim chụp ảnh tư liệu, báo
cáo khoa học giao nộp về Viện Văn hóa Nghệ thuật, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch lưu trữ lâu dài phim gốc và dàn dựng lại thành phim tài liệu.
2.2.1. Bảo tồn, phát triển ngành nghề truyền thống dân tộc Khmer
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 13
Ngành nghề truyền thống dân tộc Khmer trong tỉnh có rất lâu đời, với cơ
cấu đa dạng và phong phú như: nghề dệt Thổ cẩm, nghề làm Gốm, nghề làm
đường Thốt Nốt. Các ngành nghề truyền thống không chỉ đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế địa phương mà còn là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét
văn hóa độc đáo trong cộng đồng dân tộc. Các sản phẩm từ ngành, nghề truyền
thống luôn bao gồm cả nội dung giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, có sức hấp
dẫn và tính cạnh tranh cao. Chính vì vậy việc bảo tồn phát triển ngành nghề
truyền thống dân tộc Khmer trong tỉnh luôn được cấp ủy, chính quyền địa
phương quan tâm. Các làng nghề truyền thống gồm:
- Làng nghề dệt Thổ cẩm Văn Giáo (dân tộc Khmer) huyện Tịnh Biên.
- Nghề làm đường Thốt Nốt (dân tộc Khmer) huyện Tịnh Biên và Tri Tôn.
- Nghề làm Gốm dân tộc Khmer huyện Tri Tôn
Việc bảo tồn phát triển ngành nghề truyền thống cho vùng dân tộc và
miền núi nói chung và của đồng bào dân tộc Khmer nói riêng luôn được tỉnh
quan tâm chỉ đạo đầu tư khôi phục, phát triển. Ngày 17 tháng 2 năm 2007,
UBND tỉnh ký ban hành Chương trình số 03/CTr-UBND về việc bảo tồn và phát
triển làng nghề TTCN tỉnh An Giang giai đoạn 2008 – 2010 và tầm nhìn đến
năm 2020.
Ngày 24 tháng 9 năm 2008, UBND tỉnh ký ban hành quyết định số
1921/QĐ-UBND phê duyệt “ Đề án phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp cho
người dân tộc Chăm và Khmer giai đoạn 2008 – 2012”. Mục tiêu chung của Đề
án là khôi phục và phát triển ngành nghề TTCN truyền thống cho người dân tộc
Khmer và Chăm, duy trì bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống tại làng nghề,

- Xây dựng dự án bảo tồn đàn Chà Pây dân tộc Khmer xã Ô Lâm huyện
Tri Tôn; Đàn Chà Pây là loại hình âm nhạc dân gian truyền thống của người
Khmer An Giang, tuy nhiên hiện nay loại hình âm nhạc này đang có nguy cơ bị
mất đi do không có người kế tục, hầu hết những người biết biết đến loại hình
này đều đã lớn tuổi, cho nên nguy cơ mai một rất cao. Vì vậy hy vọng thông qua
dự án này có thể giúp lưu giữ và cứu sống loại hình âm nhạc đặc sắc này.
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 15
- Xây dựng kế hoạch kiểm kê, lập hồ sơ khoa học “Nghệ thuật Dìkê của
người Khmer An Giang” và Lễ hội đua bò Bảy Núi đề nghị đưa vào Danh mục
Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Tổ chức Hội thảo khoa học về văn hóa các dân tộc trong đó có văn hóa
dân tộc Khmer - Lễ hội đua bò Bảy Núi An Giang, đề nghị nâng cấp Lễ hội đua
bò Bảy Núi thành lễ hội cấp quốc gia. Đặc biệt trong thời gian vừa qua đã thực
hiện một bộ phim khoa học về Lễ hội đua bò Bảy Núi để làm tư liệu quan trọng
lưu giữ những nét văn hóa truyền thống đặc sắc riêng biệt của An Giang nói
chung và của đồng bào dân tộc Khmer nói riêng được tiếp tục bảo tồn, phát
triển.
- Tham gia và phối hợp hướng dẫn tổ chức ngày hội văn hóa truyền thống
dân tộc Khmer như lễ hội Chol chanăm Thmay, Lễ Dolta, Okombok
- Thực hiện Đề án bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể Kinh Lá Buông
(Sa-tra) của dân tộc Khmer. Sa-tra xuất hiện trong các chùa Khmer từ thời xa
xưa và được xem như những bộ sách quý dùng để: tra cứu, học hỏi và truyền
dạy con cháu qua các thế hệ. Nội dung Sa-tra rất phong phú, đa dạng, thể hiện
đầy đủ các mặt trong cuộc sống lao động sản xuất, sinh hoạt giải trí của dân tộc
Khmer
2.2.3. Công tác quản lý di tích, lễ hội ở vùng đồng bào dân tộc
Khmer:
Hướng dẫn tôn tạo cảnh quan, trùng tu sửa chữa, bảo quản, phát huy phát
triển các giá trị di tích đã được xếp hạng và chưa xếp hạng cuả các dân tộc

một đội văn nghệ hát Dì Kê đang hoạt động tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, sẽ
được cử đi tham dự Liên hoan lần này.
2.2.4. Tổ chức các hoạt động văn hóa, giao lƣu văn hóa ở địa bàn có
đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, vùng biên giới:
Hằng năm, ngành duy trì tổ chức các hoạt động tuyên truyền cổ động,
triển lãm, văn hóa văn nghệ, chiếu phim phục vụ đồng bào dân tộc Khmer cụ thể
như:
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 17
- Chiếu phim phục vụ đồng bào dân tộc Khmer tại các huyện với các chủ
đề: Kỷ niệm các ngày lễ kỷ niệm, tết; Tết Chol chnam Thmây của đồng bào dân
tộc Khmer; bình quân mỗi năm 8-10 suất
- Duy trì tổ chức triển lãm ảnh và trưng bày hiện vật giới thiệu về thành
tựu kinh tế, văn hóa, xã hội đồng bào dân tộc Khmer trong Ngày hội Văn hóa,
Thể thao và Du lịch; Các bộ ảnh “ Thành tự kinh tế, văn hóa, xã hội đồng bào
dân tộc Khmer, An Giang” qua các năm, thu hút đông đảo đồng bào Kinh, dân
tộc thiểu số tham gia xem.
- Trong những năm qua, tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa quan trọng
đối với đồng bào dân tộc Khmer điển hình như đăng cai tổ chức Ngày hội Văn
hóa, Thể thao và Du lịch vùng đồng bào Khmer Nam Bộ lần V trong năm 2011
tại huyện Tịnh Biên, tổ chức Ngày hội giao lưu văn hóa các tỉnh biên giới Việt
Nam – Campuchia trong năm 2012 cũng tại huyện Tịnh Biên Những sự kiện
văn hóa lớn như thế này không chỉ là dịp hết sức quan trọng để đồng bào dân tộc
Khmer trong tỉnh An Giang có cơ hội giao lưu văn hóa với đồng bao dân tộc
Khmer các tỉnh bạn, đặc biệt hơn là có thể học hỏi, giao lưu văn hóa với nước
bạn Campuchia mà còn là hoạt động văn hóa có ý nghĩa nhằm bảo tồn và phát
huy các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer.
2.2.5. Phát triển nguồn nhân lực cho phát triển văn hóa dân tộc:
Hằng năm ngành duy trì tổ chức lớp tập huấn cán bộ quản lý văn hóa, thể
thao, du lịch và gia đình cho cán bộ các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào

chế, người dân chưa có ý thức bảo lưu, truyền bá văn hóa của dân tộc mình cho
lớp kế tiếp, chưa nhận thức rõ tầm quan trọng nét đẹp văn hóa trong cộng đồng
dân tộc.
- Việc điều tra, khôi phục văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số đang sinh
sống trên số địa bàn huyện khó có thể thực hiện được vì số lượng ít, nằm xen kẽ
trong nhiều khu dân cư. Một số nghề truyền thống dân tộc, như: Đan lát, dệt vải,
thổ cẩm, thêu thùa… đang dần mất đi vì không tìm được thị trường tiêu thụ và
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 19
các loại trang phục dân tộc cầu kỳ, không được giới trẻ ưa chuộng và phù hợp
với thực tế…
- Nhiều giá trị và di sản văn hóa trong đồng bào dân tộc Khmer chưa được
sưu tầm, bảo tồn, khai thác tốt, các loại hình văn hóa văn nghệ truyền thống đặc
sắc như chơi hát Di kê, múa cung đình Khmer… dần đần mai một do nghệ nhân
đã lớn tuổi, chưa có điều kiện truyền thụ, kế thừa, lớp trẻ ngày càng chạy theo
hiện đại quay lưng với cái cũ.
- Các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer, bên cạnh các nghi thức tôn giáo
(phần lễ), các sinh hoạt văn hóa thể thao (phần hội) chưa được đầu tư nghiên
cứu để phát triển, nâng cao đáp ứng cho từng giới, từng độ tuổi, tạo ra sức thu
hút mới được nhiều người tham gia.
- Thiết chế văn hóa, thiết bị nhạc cụ dân tộc không đảm bảo yêu cầu sinh
hoạt, cán bộ người dân tộc năng lực tổ chức hoạt động yếu nên phong trào phát
triển không đều, thiết chế văn hóa ở các Phum, Sóc còn rất thiếu thốn về cơ sở
vật chất, đặc biệt là thiết chế quảng bá văn hóa tộc người còn nhiều hạn chế.
- Đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung, cán bộ đảng viên là người Khmer
làm công tác văn hóa nói riêng còn ít, chưa tương xứng, trình độ kiến thức về
văn hóa còn thấp, thiếu ổn định do thay đổi liên tục. Từ đó chưa ngang tầm và
đáp ứng tốt cho việc lãnh đạo và thực hiện công tác xây dựng đời sống văn hóa
tinh thần vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang
- Các làng nghề truyền thống dân tộc sản phẩm làm ra chưa đáp ứng thị

phát triển.
2.4. Vấn đề đặt ra
Từ những thành tựu và hạn chế nêu trên, vấn đề đạt ra là phải giải quyết
tốt các chính sách phát triển văn hóa theo đúng với quan điểm của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta: Xây dựng nền
văn hóa nước ta tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Khmer cần
sự chung tay góp sức của toàn xã hội, của các cấp chính quyền và nhất là phát
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 21
huy được vai trò của chính người dân có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa của dân
tộc mình.
- Phải tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa
phương, nhất là cấp cơ sở. Ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao
hiệu quả phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, an ninh, quốc phòng
- Phải đẩy mạnh, đổi mới các hoạt động thông tin tuyên truyền về nâng
cao hiệu quả và phát triển bản sắc văn hóa Khmer bằng nhiều hình thức, biện
pháp phù hợp, đặc biệt chú trọng đối tượng, địa bàn để tuyên truyền.
- Tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác bảo tồn, phát huy các loại hình
văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào dân tộc Khmer đang trong tình trạng
mai một, đẩy mạnh xã hội hóa trong xây dựng và phát triển văn hóa. HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 22
CHƢƠNG 3
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU BẢO TỒN, PHÁT HUY
VHVT-PVT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2015
3.1. Mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy VHVT-PVT

ngày càng nhiều người tham gia, chủ yếu là khơi dậy phong trào văn hóa văn
nghệ quần chúng ngay trong đồng bào dân tộc, một mặt vừa khuyến khích các
loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống, mặt khác phải cải biên, cải tiến phù
hợp với cuộc sống mới.
- Nâng cao chất lượng quản lý các lễ hội truyền thống dân tộc Khmer, lễ
hội của đồng bào Khmer khá nhiều, nhưng chủ yếu là ba lễ hội chính: Chol
chnam thmay, Đolta, Ok Om Bok mang tính truyền thống cần được phát huy;
một mặt vừa tiết giảm, hạn chế những mặt lạc hậu, bổ sung những mặt tiến bộ
để nâng cao, đảm bảo hài hòa giữa hai yêu cầu sinh hoạt tín ngưỡng và sinh hoạt
xã hội.

- Nghiên cứu đổi mới việc tổ chức Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch
vùng đồng bào Khmer trong tỉnh theo hướng toàn diện, thu hút nhiều lực lượng
tham gia biểu diễn. Tại mỗi huyện, xã có đồng bào dân tộc Khmer cũng cần có
các hoạt động giao lưu, giới thiệu mang tính cộng đồng phù hợp với truyền
thống đặc điểm từng nơi nhân các lễ, tết của đồng bào dân tộc, có sự phối hợp tổ
chức tốt Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào dân tộc Khmer tỉnh
về nội dung, hình thức phù hợp, hiệu quả.
- Huy động được các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu của chính
phủ (135), của ngành – Bộ có liên quan, từ ngân sách tỉnh và vận động tài trợ để
đầu tư xây dựng, hoàn thiện các thiết chế văn hóa Nhà nước, đầu tư đồng bộ
thiết bị hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng, có mô hình quản lý phù hợp để khai thác
sử dụng có hiệu quả hệ thống các thiết chế (kể cả Nhà nước, nhà chùa và của
nhân dân) bao gồm nhà văn hóa xã, tụ điểm văn hóa, trạm truyền thanh, phòng
đọc sách, báo…
HVTH: Dương Chấn Lâm Lớp TCLLCTHC – B67
GVHD: ThS Nguyễn Thuận Thảo 24
- Việc khai thác, sưu tầm và bảo tồn các di sản có giá trị văn hóa, các loại
hình văn hóa nghệ thuật , các làng nghề truyền thống dân tộc đặc sắc của đồng
bào dân tộc Khmer được đẩy mạnh hơn nữa. Tiếp tục tổ chức khảo sát, thống kê

động, thực hiện tốt phương châm: “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), xem
công tác truyền thông là biện pháp hữu hiệu nhất để làm cho mỗi con người xóa
bỏ tư tưởng mặc cảm, tự ti, thay đổi nhận thức: không có dân tộc lớn hay nhỏ,
không có sự kỳ thị giữa dân tộc đông người với dân tộc ít người, mà phải biết
trân trọng và tự hào về dân tộc mình, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau
những giá trị văn hóa mà cha ông đã bao đời sáng tạo nên.
- Đối với cộng đồng dân cư thường xuyên duy trì các phong tục nghi lễ
truyền thống, vận động đồng bào ăn mặc trang phục truyền thống (kể cả nam lẫn
nữ vì lâu nay người nam vẫn ăn mặc theo âu phục), trong lao động nên kết hợp
giữa phương tiện cơ giới với dụng cụ sản xuất cũng như tập quán canh tác của
từng dân tộc, để thế hệ trẻ biết quý trọng sự cần cù sáng tạo của cha ông.
- Đối với ngành giáo dục tiếp tục đẩy mạnh việc đưa chương trình dạy
song ngữ (tiếng Việt - tiếng dân tộc) vào tất cả các trường nơi có đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống. Cần tiếp tục điều tra, thống kê, phân loại các vốn văn hóa
truyền thống của từng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.
- Đối với văn hóa phi vật thể phải được tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, giới
thiệu những giá trị tốt đẹp để mọi người biết và quý trọng. Phục dựng lại một số
lễ hội truyền thống đặc sắc của mỗi dân tộc, giữ gìn những phong tục tập quán
tốt đẹp, những trò chơi, văn học, nghệ thuật dân gian.
- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, xây
dựng làng, bản, buôn, gia đình văn hóa trên tinh thần thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở với các quy chế cụ thể, rõ ràng do nhân dân xây dựng dưới sự chỉ đạo
của Nhà nước, phù hợp phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào
nhưng vẫn bảo đảm thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Ðảng, luật pháp
của Nhà nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status