LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học tôi đã
nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Hoàn thành luận văn,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Nhật Chiêu đã trực tiếp tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Cơ điện và Công trình cùng toàn thể
giáo viên, cán bộ công nhân viên chức Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam đã
giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của
mình đúng thời gian và đảm bảo được nội dung của luận văn.
Trân trọng cảm ơn Ban giám đốc và cán bộ nhân viên Ban Đào tạo sau đại
học Cơ sở 2 Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho chúng tôi
hoàn thành các môn học tại cơ sở 2.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể giáo viên và cán bộ
công nhân viên chức Trường Cao Đẳng Nghề LILAMA 2 nơi tôi công tác, đã động
viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về thời gian và công việc để tôi hoàn thành
nhiệm vụ.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã thường xuyên quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về tinh thần
cũng như vật chất cho tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết quả
trong luận văn này đã được tính toán chính xác, trung thực và chưa có tác giả nào
công bố, những nội dung tham khảo, trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ
nguồn gốc.
Tôi xin trân trọng cảm ơn.
Tác giả luận văn
Lưu Quốc Tuấn
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
2.3.2. Nghiên cứu thực nghiệm 47
2.4. Phương pháp nghiên cứu 47
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 47
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 48
Chương 3 50
3.1. Kết quả nghiên cứu lý thuyết 50
3.1.1. Xây dựng mô hình dao động của xe KIA – K2700II 50
3.1.2. Giải và mô phỏng hệ phương trình vi phân dao động của cơ hệ 56
3.2. Nghiên cứu thực nghiệm 67
3.2.1. Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm 67
3.2.2. Đối tượng nghiên cứu thực nghiệm 68
3.2.3. Trang thiết bị thực nghiệm 68
3.2.4. Tiến hành thực nghiệm 70
3.2.5. Kết quả thực nghiệm 71
3.2.6. Phân tích kết quả thực nghiệm 73
Chương 4 74
1. Kết luận 74
2. Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Tên bảng Trang
2.1 Thông số kỹ thuật của xe KIA – K2700II 46
3.1 Các thông số đầu vào của mô hình dao động 60
3.2 Các thông số hợp lý của các hệ thống treo 68
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT Tên hình Trang
1.1 Mô hình 1/4 10
1.2 Mô hình phẳng ô tô 2 cầu 11
1.3 Mô hình không gian xe con 12
3.10 Dịch chuyển thẳng đứng của trọng tâm ghế 67
3.11 Gia tốc dịch chuyển của trọng tâm ghế 67
3.12 Xe ô tô KIA – K2700II 69
3.13 Thiết bị đo mấp mô mặt đường 70
3.14 Đầu đo gia tốc 70
3.15 Bộ DMC Plus 71
3.16 Chương trình xử lý kết quả đo mấp mô 72
3.17 Gia tốc dao động thẳng đứng của trục bánh xe 73
3.18 Mấp mô biên dạng mặt đường 73
3.19 Gia tốc dao động thẳng đứng của trọng tâm xe 74
3.20 Gia tốc dao động thẳng đứng của trọng tâm ghế ngồi người lái 74
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
TT Ký hiệu Ý nghĩa Đơn vị
1 T Biểu thức động năng của cơ hệ
2
∏
Biểu thức thế năng của cơ hệ
3
∅
Hàm hao tán năng lượng của cơ hệ
4 Z Dịch chuyển theo phương thẳng đứng của trọng tâm xe m
5
ϕ
Chuyển vị góc thân xe ô tô trong mặt phẳng thẳng đứng
dọc
rad
6 l Chiều dài cơ sở của xe m
7 b Khoảng cách từ trọng tâm tới tâm cầu sau m
8 a Khoảng cách từ trọng tâm xe tới tâm cầu trước m
9 m
1
Hệ cản của lốp trước Ns/m
20 k
2
Hệ cản của lốp sau Ns/m
21 k
3
Hệ số cản của bộ phận treo của ghế Ns/m
22 J
y
Mô men quán tính phần được treo kg.m
2
23 h
1
Độ cao mấp mô mặt đường tại vị trí tiếp xúc với bánh
trước.
m
24 h
2
Độ cao mấp mô mặt đường tại vị trí tiếp xúc với bánh sau. m
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những nhiệm vụ về kinh tế mà Chiến lược phát triển nông nghiệp
đặt ra là: Sản lượng lương thực đáp ứng được vấn đề về anh ninh lương thực, đáp
ứng cơ bản nhu cầu xuất khẩu và là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp
khác.
Vận chuyển nông sản là một công đoạn trong quá trình thu hoạch, đó là sự di
chuyển nông sản từ đồng ruộng về kho của nhà máy hoặc kho của hộ gia đình. Đây
là một khâu công việc được thực hiện chủ yếu trên đường nông thôn và đường đồng
không bằng phẳng, hẹp. Hiện nay, việc vận chuyển nông sản ở Việt nam nói chung
1.1. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng các loại ô tô, máy kéo trong vận chuyển
nông sản ở nước ta hiện nay
Khai thác các sản phẩm nông sản được hiểu là toàn bộ các thao tác, công
đoạn để biến nông sản từ trang trại, đồng ruộng đến nơi chế biến hoặc tiêu thụ.
Việc khai thác cũng như mọi công việc khác đều phải tuân thủ theo những công
nghệ nhất định. Công nghệ khai thác nông sản có thể là công nghệ thủ công, công
nghệ tiên tiến. Mỗi loại công nghệ chỉ có thể thích hợp với các điều kiện nhất định.
Công nghệ thích hợp là công nghệ phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội phổ
biến có tính địa phương và môi trường. Do vậy công nghệ khai thác nông sản phải
giảm mức tối đa các chi phí sản xuất cũng như tác động xấu đến môi trường.
Việc lựa chọn được một công nghệ thích hợp trong khai thác nông sản phụ
thuộc vào hàng loạt các yếu tố như việc cung cấp nhân lực và tiền công lao động,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khả năng đầu tư, tính sẵn có của trang thiết bị, máy, phụ
tùng thay thế, điều kiện thổ dưỡng, điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương
và hộ gia đình. Việc vận chuyển nông sản ở nước ta hiện nay chủ yếu là nông sản
chưa qua sơ chế như cà phê, lúa, đậu tương, ngô,…Do vậy việc vận chuyển nông
sản loại này phải đảm bảo nhanh để tránh làm ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm. Đặc biệt trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới, với những cánh đồng mẫu
lớn, hạ tầng giao thông được đầu tư mở rộng. Vì vậy khâu vận chuyển phải đáp ứng
được nhu cầu của sản xuất lớn. Cũng đã có những phương án, đề tài nghiên cứu lựa
chọn phương tiện vận chuyển nông sản, tuy nhiên những phương án đó chỉ mang
tính cục bộ trong từng hộ gia đình, không phù hợp với sản xuất hàng hóa lớn.
1.2. Tổng quan về nghiên cứu dao động và các chỉ tiêu đánh giá dao động ô tô
1.2.1. Nghiên cứu dao động của ô tô trong nước
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang trong quá trình hình thành và phát
triển dần trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn hàng đầu của đất nước. Tuy nhiên
để đạt được mục tiêu đó thì trước mắt phải có nhiều việc phải làm, một trong những
4
việc đó là nghiên cứu sâu hơn về dao động của ô tô, độ êm dịu chuyển động, cũng
như chất lượng động học, động lực học của xe.
khách đóng trên nền xe tải.
Năm 2002 TS. Lê Minh Lư [10] nghiên cứu dao động của máy kéo bánh hơi
có tính đến đặc trưng phi tuyến của các phần tử đàn hồi. Tác giả đã xây dựng mô
hình, hệ phương trình vi phân và các điều kiện biên mô tả dao động thẳng đứng của
máy kéo, của cầu trước, cầu sau và ghế ngồi có tính đến những đặc điểm riêng của
hệ như liên kết một chiều giữa bánh xe và mặt đường, đặc trưng phi tuyến của các
phần tử đàn hồi. Công trình đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ các dạng dao động
của máy kéo có tính đến đặc trưng phi tuyến của các phần tử đàn hồi trong trường
hợp kích động mặt đường là các hàm ngẫu nhiên và xác định. Tuy nhiên công trình
mới chỉ nghiên cứu trong trường hợp máy kéo di chuyển độc lập mà chưa tính đến
dao động của máy kéo trong trường hợp kéo tải.
Nhìn chung các đề tài đã tập trung vào việc khảo sát dao động của xe theo
quan điểm độ êm dịu và an toàn chuyển động, thực hiện bài toán tính toán kiểm
nghiệm. Kết quả thu được là cơ sở cho việc lựa chọn và cải tiến hệ thống treo cho
phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nhưng các nghiên cứu trên đều chưa đề cập đến
dao động của xe tải 1.25 tấn khi vận chuyển nông sản trên đường giao thông nông
thôn.
1.2.2. Nghiên cứu về dao động của ô tô trên thế giới
Việc nghiên cứu dao động của ô tô bắt đầu từ rất sớm, ngay cả khi ô tô có
cấu tạo còn rất đơn giản. Một số tác giả kinh điển có thề kể đến là Trudakov,
Rotenbeg, Iachenko, Mitschke, Schiehlen, lần đầu tiên vào năm 1970 Mitschke đã
tập trung vào tác phẩm nổi tiếng “Dynamik der Kraftfahrzeuge” tập trung tất cả các
công trình nghiên cứu trước đó, bao gồm 200 trích dẫn. Nội dung chính là dao động
xe con, mô hình là ¼ và được xem xét ở các yếu tố kết cấu có ảnh hưởng đến dao
động và tối ưu hệ thống treo. Sau đó tác giả đề cập chỉ tiêu đánh giá dao động ô tô,
cách tiếp cận mang tính cổ điển. Đến năm 1980 Schiehlen trình bày phương pháp hệ
6
nhiều vật. Ngoài ra, với sự phát triển của công nghệ tin học các thuộc tính của cụm
như hệ treo, bánh xe cũng được nghiên cứu sâu hơn tuy nhiên các nghiên cứu đó
vẫn tập trung vào xe con.
mệt mỏi với người lái và hành khách, làm giảm hiệu suất công việc, có thể gây ra
nguy cơ mắc bệnh thần kinh và não dẫn đến mất phản ứng linh hoạt và điều khiển
chính xác gây ra tai nạn giao thông.
Từ các khái niệm trên để có thể đánh giá chất lượng xe một cách khách quan,
chính xác cần phải nghiên cứu và phát triển lý thuyết dao động trong tất cả lĩnh vực
liên quan. Nghiên cứu tổng quát về dao động xe đó là giải quyết mối quan hệ
“Đường - Xe - Người”.
Các tính chất dao động của ô tô thường đánh giá theo 2 quan điểm:
- Quan điểm về độ êm dịu chuyển động mà thông số gia tốc dao động có tính
chất quyết định vì nó tác dụng lên lái xe và hành khách.
- Quan điểm về độ an toàn chuyển động và tải trọng tác dụng xuống nền thì
giá trị tải trọng động giữa bánh xe và nền đường là thông số mang tính chất quyết
định.
a. Chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động:
Dựa vào các công trình nghiên cứu của nước ngoài và các tài liệu của Viện
khoa học kĩ thuật bảo hộ lao động Việt Nam, đưa ra một số chỉ tiêu đặc trưng cho
độ êm dịu chuyển động của ô tô như sau:
- Chỉ tiêu về tần số:
Tần số dao động riêng của một hệ dao động (bao gồm 1 khối lượng đặt trên 1
lò xo) được hiểu là số dao động của hệ trong một phút (dao động/phút), hoặc trong
một giây (1/s tương ứng với 01Hz).
( )
s
Rad
M
C
=
ω
Trong đó: C - Độ cứng của hệ dao động.
xác định phức tạp hơn vì nó phụ thuộc vào tính chất dao động của ô tô, vận tốc
chuyển động và độ mấp mô biên dạng đường.
9
Theo quan điểm về tải trọng tác dụng xuống nền đường thì sẽ dựa vào trị số
lớn nhất của tải trọng bánh xe, nghĩa là tương ứng với giá trị dương của
)(tF
d
để
đánh giá, nếu
)(tF
d
càng lớn thì sự ảnh hưởng do lực tác động tới lốp xe và các bộ
phận chi tiết của xe và nền đường càng bị tác động xấu nhiều hơn. Mặt khác để
giảm sự ảnh hưởng của
)(tF
d
thì trong trường hợp giảm tải trọng bánh xe so với giá
trị tải trọng tĩnh, nghĩa là làm giảm khả năng tiếp nhận lực tiếp tuyến(nhất là khi
phanh) và lực ngang(quan trọng khi quay vòng). Trong trường hợp đặc biệt bánh xe
bị nảy khỏi mặt đường khi đó lực tác dụng từ đường lên bánh xe sẽ bằng 0 và ô tô
sẽ mất tính điều khiển. Để đánh giá tính chất dao động của ô tô theo quan điểm về
an toàn chuyển động cần xác định tỉ số giữa lực tác động
)(tF
d
và tải trọng tĩnh của
bánh xe là
K
t
R
:
qMax
td
−=
ξξ
Giá trị
maxtd
ξ
cũng có thể làm cơ sở đánh giá khả năng bám của lốp với
đường.
1.2.4. Tổng quan về dao động ô tô
Ôtô thuộc hệ cơ học nhiều vật, dao động với dải tần số thấp không vượt quá
50Hz. Việc lập và chọn mô hình dao động phải theo 3 tiêu chí sau:
10
- Mục tiêu nghiên cứu.
- Cấu trúc riêng của đối tượng nghiên cứu
- Khả năng tính toán và phương tiện tính toán.
Về mục tiêu nghiên cứu có thể bao hàm các vấn đề sau:
+ Nghiên cứu tối ưu hệ treo, kể cả hệ treo tích cực. Đối với mục tiêu này thì
chỉ cần khảo sát mô hình ¼ (một trong 4 bánh).
+ Nghiên cứu về dao động liên kết, thường dùng mô hình phẳng; mô hình
phẳng cũng còn dùng để nghiên cứu ảnh hưởng của đường.
+ Nghiên cứu sự trượt và lật dưới tác động của ngoại lực như đường mấp
mô, gió bên nên thường sử dụng mô hình ½ hoặc mô
hình full.
a. Mô hình ¼
Mô hình ¼ bao gồm hai khối lượng được treo
(thay thế cho khối lượng thân xe) và khối lượng không
được treo (thay thế cho khối lượng bánh xe, cầu xe và
các thành phần liên kết). Phần treo và không được treo
liên kết với nhau thông qua các phần tử đàn hồi của treo
g
m
2
Hình 1.1. Mô hình 1/4
11
Mô hình động lực học này biểu thị dao động liên kết ô tô 2 cầu ở dạng mô
hình phẳng (hình 1.2), có nghĩa là ô tô được giả thiết đối xứng qua trục dọc của xe
và xem độ mấp mô của biên dạng đường ở dưới bánh xe trái và phải là như nhau.
Khối lượng treo được qui dẫn về trọng tâm phần treo biểu thị qua giá trị khối
lượng m
3
(đại diện cho khối lượng được treo là thân xe) và m
1
, m
2
(đại diện cho
khối lượng không được treo là cầu xe) với 4 bậc tự do là Z
3
, ϕ, Z
1
, Z
2
. Mô hình này
hiệu quả với bài toán bố trí chung, và là mô hình đơn giản khi nghiên cứu về đường
và phân bổ tải khi phanh.
c. Mô hình không gian xe con
Mô hình không gian xe hai cầu được đưa ra như trong hình 1.3. Xe con có
khối lượng bé nhưng lại có yếu tố phi tuyến hình học và vật lý lớn nên không thể bỏ
qua khi lập mô hình. Đặc điểm kết cấu là vỏ chịu lực (Unibody), hệ treo độc lập có
c
12
k
12
k
11
m
3
m
1*
g
z
1
z'
1
l
f
l
r
12
Chuyển động của ô tô trên mặt đường không bằng phẳng sẽ sinh ra các dao
động của khối lượng phần không được treo và khối lượng phần được treo của ô tô.
Độ mấp mô của mặt đường là nguồn kích thích chính cho ô tô dao động. Khi nghiên
cứu mô hình dao động của ô tô cần thiết phải mô tả toán học biên dạng của mặt
đường, vì chiều cao mấp mô của biên dạng đường tại vị trí tiếp xúc của bánh xe với
đường sẽ tham gia vào phương trình vi phân mô tả chuyển động của hệ. Hàm kích
động là một yếu tố thuộc mô hình dao động, mô tả những yếu tố gây dao động, và
thường được mô tả dưới dạng các hàm biên dạng sau:
- Kích thích dạng bậc với biên độ h
o
số yếu tố kết hợp. Trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu kích động từ
mặt đường dạng bậc hoặc theo hình sin.
1.3. Tổng quan về hệ thống treo trên ô tô
1.3.1. Công dụng và yêu cầu của hệ thống treo
Hệ thống treo ở đây được hiểu là hệ thống liên kết mềm giữa bánh xe và
khung xe hoặc vỏ xe. Mối liên kết treo của xe là mối liên kết đàn hồi có chức năng
chính sau đây:
- Tạo điều kiện cho bánh xe thực hiện chuyển động tương đối theo phương
thẳng đứng đối với khung xe hoặc vỏ xe theo yêu cầu dao động “êm dịu”, hạn chế
tới mức có thể chấp nhận được những chuyển động không muốn có của bánh xe
như lắc ngang, lắc dọc;
- Truyền lực giữa bánh xe và khung xe bao gồm lực thẳng đứng, lực dọc và
lực bên;
Trên hệ thống treo, sự liên kết giữa bánh xe và khung vỏ cần thiết phải mềm
nhưng cũng phải đủ khả năng để truyền lực, quan hệ này được thể hiện ở các yêu
cầu chính sau đây:
- Hệ thống treo phải phù hợp với điều kiện sử dụng theo tính năng kỹ thuật
của xe (xe chạy trên đường tốt hay xe chạy trên các loại đường khác nhau, hay
đường đồi núi, xe du lịch hay chở hàng, chở vật liệu…);
- Bánh xe có thể chuyển dịch trong một giới hạn nhất định;
- Quan hệ động học của bánh xe phải hợp lý thoả mãn mục đích chính của hệ
thống treo là làm mềm theo phương thẳng đứng nhưng không phá hỏng các quan hệ
động học và động lực học của chuyển động bánh xe;
- Không gây nên tải trọng lớn tại các mối liên kết với khung hoặc vỏ;
- Có độ tin cậy lớn, độ bền cao và không gặp hư hỏng bất thường;
- Giá thành thấp và độ phức tạp của hệ thống treo không quá lớn;
14
- Có khả năng chống rung và chống ồn truyền từ bánh xe lên khung, vỏ xe
tốt.
- Đảm bảo tính ổn định và tính điều khiển chuyển động của ô tô ở tốc độ
Hình 1.5. Cơ cấu treo phụ thuộc dùng nhíp lá
Hình 1.6. Cấu tạo một số dạng lò xo
16
- Kết cấu rất gọn gàng nhất là khi được bố trí lồng vào giảm chấn.
- Nếu cùng độ cứng và độ bền với nhíp thì lò xo trụ có khối lượng nhỏ hơn
nhíp và tuổi thọ cao hơn nhíp, kết cấu gọn nên tiết kiệm không gian và cho phép hạ
thấp trọng tâm xe nhằm nâng cao tốc độ.
* Nhược điểm.
- Khi làm việc ở giữa các vòng lò xo
không có nội ma sát như nhíp nên thường
phải bố trí thêm giảm chấn kèm theo để dập
tắt nhanh dao động.
- Do lò xo chỉ làm nhiệm vụ đàn hồi,
còn nhiệm vụ dẫn hướng và giảm chấn do
các bộ phận khác đảm nhận nên với hệ
thống treo dùng lò xo trụ thì có kết cấu
phức tạp hơn do nó còn phải bố trí thêm hệ thống đòn dẫn hướng để dẫn hướng cho
bánh xe và truyền lực kéo hay lực phanh.
d. Phần tử đàn hồi loại khí
Phần tử đàn hồi sử dụng đệm khí dựa trên nguyên tắc không khí có tính đàn
hồi khi bị nén. Hệ thống treo loại khí được sử dụng tốt ở các ôtô có trọng lượng
phần lớn được thay đổi khá lớn như ở ôtô trở khách, ô tô vận tải và đoàn xe. Loại
này có thể tự động thay đổi độ cứng của hệ thống treo bằng cách thay đổi áp suất
không khí bên trong phần tử đàn hồi. Giảm độ cứng sẽ làm cho độ êm dịu chuyển
động tốt hơn.
1.3.2.2. Bộ phận giảm chấn
Trên xe ôtô giảm chấn được sử dụng với các mục đích sau:
+ Giảm và dập tắt các va đập truyền lên khung khi bánh xe lăn trên nền
đường không bằng phẳng nhằm bảo vệ được bộ phận đàn hồi và tăng tính tiện nghi
cho người sử dụng.
8. Vỏ ngoài
Hình 1.8. Sơ đồ cấu tạo của giảm chấn hai lớp vỏ
18
trạng thái đứng yên của xe thì phần dưới ống giảm chấn không phải chứa đầy dầu,
mà 1/3 thể tích trong đó là khí nén (6 - 7bar). Như vậy, quá trình nhún và giãn bao
giờ cũng có sự hỗ trợ đàn hồi của buồng khí, lưu chuyển từ ngăn trên xuống dưới và
ngược lại và như đã trình bày ở các loại trên, sự tham gia đàn hồi ngược chiều của
các lớp khí giúp cho việc dập tắt dao động nhanh chóng hơn, loại ống giảm chấn đột
này đặc biệt thích hợp cho các loại xe đi địa hình xấu, rung xóc tần số cao, mạnh và
đột ngột.
1
2
8
6
7
3
2
5
1. Van một chiều.
2. Cần piston.
3. Cụm làm kín.
4. Xy lanh.
5. Buồng chứa dầu.
6. Piston.
7. Van một chiều.
8. Khoang chứa khí.
Hình 1.9. Sơ đồ cấu tạo của
giảm chấn một lớp vỏ
Hình 1.10. Loại 2 ống với hơi áp lực(a) và loại hơi (b)
19
được gọi là quan hệ động học. Khả năng truyền lực ở mỗi vị trí được gọi là quan hệ
động lực học của hệ treo.
1.3.2.4. Các chi tiết phụ
Trên xe con các vấu cao su thường được đặt kết hợp trong vỏ của giảm chấn
vừa tăng cứng vừa hạn chế hành trình của piston nhằm hạn chế hành trình làm việc
của bánh xe. Ngoài ra còn có đệm cao su cũng có tác dụng giảm chấn. Vấu cao su
có những ưu điểm sau:
+ Có thể được làm dưới mọi hình dạng khác nhau.
+ Không có tiếng ồn khi làm việc, không phải bôi trơn.
Hình1.12. Các đòn liên kết và dẫn hướng, kết cấu lắp giáp cụm treo
độc lập.