Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số ô định vị nghiên cứu sinh thái tại vùng Tây Nguyên - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con người, nó không
những cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân mà còn có tác dụng phòng
hộ, bảo vệ đất, điều hòa nguồn nước, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi
trường sống. Song nó là một hệ sinh thái phức tạp và nhạy cảm, bao gồm nhiều
thành phần với các quy luật sắp xếp khác nhau theo không gian và thời gian.
Trong quản lý rừng, tác động lâm sinh là biện pháp kỹ thuật then chốt
để cải thiện chất lượng rừng, làm cho rừng có cấu trúc phù hợp với mục đích
quản lý và đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cho từng loại hình kinh doanh
rừng. Thực tiễn đã cho thấy, các giải pháp phục hồi rừng, quản lý rừng bền
vững chỉ có thể giải quyết thỏa đáng khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất,
quy luật sống của hệ sinh thái rừng. Nghiên cứu đặc điểm quy luật cấu trúc và
tái sinh rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà lâm
nghiệp. Nắm được các đặc điểm về cấu trúc và tái sinh rừng, chúng ta có thể
xây dựng cấu trúc tối ưu, là cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh hợp lý “dẫn
dắt rừng” theo ý muốn của con người nhằm: “tận dụng tối đa tiềm năng của
điều kiện lập địa, có sự kết hợp hài hòa giữa các nhân tố cấu trúc để tạo ra
một quần thể rừng có số lượng và chất lượng cao, bảo đảm chức năng phòng
hộ cao nhất, đáp ứng mục tiêu kinh doanh” góp phần quản lý kinh doanh rừng
bền vững.
Vùng sinh thái Tây nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk,
Đăk Nông và Lâm Đồng, có diện tích rừng là 2,848 triệu ha, đạt độ che phủ
toàn khu vực là 51,3%. Trong đó, rừmg có trữ lượng gồm cả rừng tự nhiên và
rừng trồng thì độ che phủ chỉ đạt 32,4%, là vùng có diện tích rừng với độ che
phủ lớn nhất trong cả nước. Diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước chiếm
khoảng 25,38% diện tích rừng toàn quốc (theo số liệu công bố hiện trạng rừng
2
toàn quốc năm 2011). Trong những năm gần đây, diện tích rừng Tây Nguyên
bị suy giảm nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng do nhiều nguyên nhân
khác nhau, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng về phát triển kinh tế, phòng hộ

sống; “là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp, tổ hợp các thành phần
cấu tạo nên quần xã thực vật theo không gian và thời gian” (Phùng Ngọc Lan,
1986) [29]. Trên quan điểm sinh thái, cấu trúc chính là hình thức bên ngoài
phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng.
4
Đã có rất nhiều nhà khoa học lâm nghiệp nghiên cứu về vấn đề này,
tiêu biểu là Baur.G.N (1964) và O.dum EP (1971). Qua đó, đã làm sáng tỏ
khái niệm hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc
đứng trên quan điểm sinh học [1].
- Cấu trúc mật độ và tổ thành tầng cây cao
* Cấu trúc mật độ:
Mật độ là chỉ tiêu phản ánh mức độ che phủ của tán cây trên diện tích
rừng (Every, TE., 1975) hoặc chỉ tiêu biểu thị mức độ lợi dụng lập địa của các
cây trong lâm phần (Hussch, B., 1982).
* Cấu trúc tổ thành:
Tổ thành là một nhân tố quan trọng, biểu thị mức độ xuất hiện của các
lòai cây khác nhau. Richard.P.W (1925) đã nghiên cứu cấu trúc tổ thành loài
cây của rừng mưa. Tổ thành càng phong phú càng thấy rõ được mức độ phức
tạp của cấu trúc rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên. Nhiều phương thức lâm sinh
ra đời và được thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới, như phương thức chặt tái
sinh (RIF, 1992) phương thức rừng đều tuổi ở Malysia (MUS, 1945) [9].
- Cấu trúc tầng thứ
Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che được nhiều tác giả nghiêm cứu, từ đó
làm cơ sở điều chỉnh mật độ và tầng thứ nhằm tận dụng tối đa không gian
dinh dưỡng, sức sản xuất của lập địa. Có nhiều ý kiến khác nhau về cấu trúc
tầng thứ, hầu hết các tác giả cho rằng rừng lá rộng thường xanh thường có từ
3-5 tầng ; tuy nhiên cũng có một số tác giả cho rằng ở kiểu rừng này chỉ có
một tầng cây gỗ mà thôi.
Richards ( 1939) đã phân chia rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới
hạn chiều cao là: 6-12m, 24-30m, 30-36m, 36-42m. Sau này Richard phân

6
phương pháp kinh điển là vẽ các trắc đồ đứng. Các trắc đồ đứng cho chúng ta
cái nhìn trực quan và khái quát về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều
thẳng đứng. P.W.Richards và Rollet là 2 tác giả điển hình trong việc ứng
dụng phương pháp này.
* Nghiên cứu về tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang
ngực
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà lâm nghiệp trên thế giới, trong lâm
phần giữa H và D luôn tồn tại mối tương quan nhất định, tùy vào từng lâm
phần mà mức độ chặt chẽ của các tương quan khác nhau. Các công trình
nghiên cứu của các tác giả đã cho thấy: đường cong biểu thị tương quan H/D
có thể thay đổi hình dạng và luôn dịch lên phía trên khi tuổi lâm phần tăng lên.
Orlov.M và Chaustov nghiên cứu tương quan giữa đường kính và chiều
cao của loài Thông theo cấp đất và cấp tuổi bằng phương pháp biểu đồ. Một
số tác giả khác như Assmam.E (1936), Meyer.H.A (1952), Nasslund.M
(1929), đã dùng phương pháp giải tích và đã đề xuất nhiều dạng phương trình
khác nhau để mô tả quan hệ H/D[15].
* Nghiên cứu về tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực
Tán cây là căn cứ quan trọng để xác định không gian dinh dưỡng, xác
định mật độ tối ưu, qua đó xác định hệ số khép tán và thời điểm tỉa thưa. Các
tác giả: Feree, Zieger, Willingham, Heinsdisk, … đều khẳng định giữa đường
kính tán và đường kính ngang ngực có mối quan hệ mật thiết với nhau,
thường theo kiểu tuyến tính.
* Nghiên cứu về tái sinh rừng:
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng
được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây,cấu trúc tuổi,chất lượng cây con,
đặc điểm phân bố.Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và
tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad,1930;
7
Richards,1952; Baur G.N, 1964; Rollet, 1969).Do tính phức tạp về tổ thành

thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái rừng, khả năng tái tạo của
rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng) để
phân chia các lô khác nhau, phục vụ công tác điều chế rừng [31]. Các nghiên
cứu này rất quan trọng và có ý nghĩa nhất định trong phân chia trạng thái rừng
ở Việt Nam.
1.2.2. Nghiên cứu cấu trúc tầng cây cao
- Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã mô tả cấu trúc tầng thứ rừng kín
thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Việt Nam với tầng vượt tán (A1), tầng ưu
thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết [43].
Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã
xem xét định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới. Còn theo
Vũ Đình Phương (1988) rừng lá rộng thường xanh ở miền Bắc nước ta ở giai
đoạn ổn định có 3 tầng [32].
- Nghiên cứu các qui luật phân bố và tương quan trong lâm phần
* Nghiên cứu về phân bố số cây theo đường kính
Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho
thấy phân bố N/D của tầng cây cao có các dạng chính sau:
- Dạng phân bố giảm liên tục và có nhiều đỉnh răng cưa
- Dạng một đỉnh hình chữ J
Từ kết quả nghiên cứu rừng tự nhiên của Đồng Sỹ Hiền (1974) cho
thấy dạng tổng quát của phân bố N/D là phân bố giảm, nhưng do quá trình
khai thác chọn thô không theo quy tắc nên đường thực nghiệm có dạng hình
răng cưa và ông đã sử dụng hàm Meyer để mô phỏng quy luật cấu trúc đường
9
kính cây rừng. Nguyễn Hải Tuất (1986) sử dụng phân bố khoảng cách mô tả
phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ kính bắt đầu đo. Bảo huy
(1993) cho rằng phân bố khoảng cách thích hợp hơn các dang phân bố khác.
Trần Văn Con (1999), Trần Xuân Thiệp (1995), Lê Sáu (1996), Trần Cẩm Tú
(1999) thì lại cho rằng hàm Weibull thích hợp hơn cả. Đào Công Khanh

3
(3) h = a + b.d + c. logd
(4) h = a + b.logd
(5) logh = a+ b.logd
Vũ Nhâm (1988) và Ngọc Giao (1995) dùng phương trình logarit một
chiều xác lập tương quan H-D cho các lâm phần thông đuôi ngựa.
Bảo Huy (1993) khi nghiên cứu tương quan H/D của một số loài cây ưu
thế như bằng lăng, cẩm xe, Kháo, … ở rừng rụng lá và nửa rụng lá vùng tây
nguyên đã thử nghiệm 4 phương trình:
(1’) h = a + b.d
(2’) h = a + logd
(3’) logh = a + b.logd
(4’) logh = a + b.d
Trong đó, phương trình (2’) là phương trình thích hợp nhất. Như vậy,
việc nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở nước ta có những phát triển nhanh
chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu
quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh, quản lý rừng.
* Nghiên cứu về tương quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực
Đường kính tán là chỉ tiêu quan trọng trong việc xác định mật độ tối ưu
và các chỉ tiêu khác, nhưng đường kính tán là đại lượng khó đo đếm. Vì vậy,
đã có những công trình nghiên cứu trong nước về tương quan Dt với các đại
lượng khác. Vũ Đình Phương đã khẳng định mối quan hệ mật thiết của Dt và
D của cây rừng tồn tại ở dạng đường thẳng, tác giả đã thiết lập quan hệ này
11
cho một số loài cây lá rộng như: Ràng ràng, Vạng trứng, Lim xanh, Chò chỉ,
… trong lâm phần hỗn giao khác tuổi để phục vụ công tác điều chế rừng [31].
1.2.3. Nghiên cứu tái sinh rừng
Trần Ngũ Phương (1965) khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt
Nam đã nhấn mạnh, rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi một tầng nào đó của
rừng bắt đầu già cỗi thì nó đã chuẩn bị cho bản thân một lớp cây con tái

Đồng không có đường biên giới quốc tế. Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng
tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng 54.641,0 km².
* Địa hình:
Vùng Tây Nguyên là một bình nguyên nằm trên cao nhưng nó không
phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề. Đó là các
cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên
Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800 m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500
m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800–
1000 m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao nguyên Di Linh cao
khoảng 900–1000 m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía
Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam).
* Khí hậu thủy văn:
Tây Nguyên có khí hậu cận xích đạo nóng ẩm quanh năm, khí hậu ở đây
được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ
tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô
nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–500 m
khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như
Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.
13
Tây Nguyên là đầu nguồn của nhiều dòng sông dài, Sông ở Tây Nguyên
thường có lưu vực lớn và mạng lưới nhánh dày đặc, chảy qua những địa hình
phức tạp, tạo nên nhiều thác gềnh. Có 4 hệ thống sông chính: Thượng Xêxan,
Thượng Srêpok, Thượng sông Ba, sông Đồng Nai. Tổng lượng nước mặt hàng
năm trung bình 50 tỉ m
3
.
* Tài nguyên:
+ Tài nguyên đất:
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600m so
với mặt biển (1,4 triệu ha, chiếm 2/3 diện tích đất đỏ của cả nước, có tầng phân

+ Năng lượng điện:
Tây Nguyên được coi là trung tâm thủy điện lớn nhất cả nước. Trên các hệ
thống sông chính của 5 tỉnh trong khu vực đã có 11 nhà máy thủy điện lớn
đang vận hành, điển hình như nhà máy thủy điện Đa Nhim (160.000 kW),
Đray H'inh (12.000 kW), Yaly (700.000 kW) đưa điện lên lưới từ năm 2000 và
đang có dự kiến xây dựng các công trình thủy điện khác như Đức Xuyên,
TuaSrah, Ku Ốp, ĐrâyHơLinh, Srêpok 3, Srêpok 4, … và hàng trăm nhà máy
thủy điện nhỏ khác.
+ Thủy lợi:
Tây Nguyên có các hồ thủy lợi lớn như: Hồ Ea Súp thượng (Đăk
Lăk), hồ Ayun Hạ (tỉnh Gia Lai) đã đưa vào sử dụng, đang xây dựng các hồ
Krông Buk Hạ, Krông Pách Thượng, Ia Mơ, Ia Thul, … Tổng lượng nước mặt
hàng năm trung bình 50 tỉ m
3
. Tuy nhiên chế độ dòng chảy của sông ngòi chịu
tác động của khí hậu và khó khăn lớn nhất của Tây Nguyên là thiếu nước vào
mùa khô.
* Dân số, văn hóa, y tế, giáo dục
15
+ Dân số: Hiện nay, dân số toàn vùng đã lên đến 5.107.437 người, đồng
bào Kinh chiếm 66,9%, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ còn chiếm 25,5%
(chủ yếu là người Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Cơ-ho, Xơ-đăng, Mnông, …; các đồng
bào dân tộc thiểu số nơi khác đến chiếm 7,6% (gồm Tày, Nùng, Thái, Dao,
Mông ). Mật độ dân cư thưa thớt (9 người/km2, 2006).
+ Văn hóa: Không gian văn hóa của vùng là văn hóa cồng chiêng, với
nhà sàn, nhà rông, mang đậm nét văn hóa đặc trưng của văn hóa miền núi.
+ Y tế, giáo dục:
Đến nay, toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn đã chuẩn về phổ cập Tiểu học
và chống mù chữ. Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng có nhiều tiến
bộ đáng kể. Đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao.

- Mùa khô mực nước ngầm hạ thấp nên việc làm thuỷ lợi vừa khó khăn
vừa tốn kém.
- Nghèo khoáng sản.
* Kinh tế - xã hội:
- Thiếu lao động lành nghề.
- Mức sống người dân thấp, giáo dục, y tế chậm phát triển.
- Cơ sở hạ tầng kém phát triển, đầu tư tốn kém nhất là giao thông vận tải,
các trung tâm công nghiệp quy mô nhỏ.
Việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực sẵn có và
nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị đất canh tác là định hướng nghiên cứu cơ
bản trong lĩnh vực nông lâm nghiệp của vùng.
17
CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG,
PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài được thực hiện sẽ góp thêm sự hiểu biết về cấu trúc rừng tự
nhiên ở Việt Nam; làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật phục vụ cho nuôi
dưỡng và quản lý rừng bền vững tại khu vực nghiên cứu.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
Đối với mỗi trạng thái nghiên cứu:
+ Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao;
+ Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tái sinh rừng;
+ Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho từng trạng thái.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Rừng tự nhiên, kín ẩm, hỗn loài, lá rộng thường xanh.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu 5 ÔĐVNCST, chu kỳ điều tra IV
(2006-2010) do Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Trung Bộ và Tây

tích ÔĐVNCST là 100ha (1000x1000m). Lấy 1/4 diện tích ÔĐVNCST phía
Đông Bắc (diện tích 25ha) làm ÔĐTCB, ranh giới ô được đo đạc bằng địa bàn
3 chân (Hình 2.1). Trên ÔĐTCB tiến hành thiết lập mạng lưới ô vuông
(50x50m) để phân chia các ô trạng thái rừng (Hình 2.2).
* Chia lô trạng thái trong ÔĐTCB
Trong diện tích 25 ha của ÔĐTCB, tiến hành khoanh vẽ chính xác ranh
giới các lô trạng thái của cùng một kiểu rừng để xây dựng bản đồ lô trạng thái
19
rừng tỷ lệ 1:1.000, nhằm phục vụ cho việc theo dõi đánh giá diễn biến của
rừng và đất đai cũng như các nội dung nghiên cứu khảo nghiệm liên quan
khác. Việc chia lô và xây dựng bản đồ lô tiến hành theo các quy định sau:
Trong ÔĐTCB, thiết lập một hệ thống mạng lưới ô vuông 50m x 50m,
tại các điểm giao nhau của lưới (đỉnh các ô vuông) đóng các mốc tròn bằng
gỗ tốt, có ký hiệu Mô, có đường kính 5cm, cao từ 40 ÷ 50cm, chôn sâu 30 cm.
Xác định vị trí mốc tương ứng lên bản đồ của ÔĐT.
Trên cơ sở xác định thống nhất các chỉ tiêu định tính và định lượng phù
hợp của các trạng thái rừng, điều tra viên sẽ đi trên lưới ô vuông và dựa vào hệ
thống cọc mốc trên thực địa và tìm mốc tương ứng trên bản đồ để khoanh vẽ
các trạng thái rừng và cácloại đất đai lên bản đồ tỷ lệ 1:1.000. Diện tích tối
thiểu trên thực địa được khoanh vẽ lên bản đồ: đối với các trạng thái rừng là
0,25 ha, đối với đất không có rừng là 0,05 ha.
Đóng mốc tại các điểm chuyển hướng của ranh giới lô, mốc có ký hiệu
M
TT
(trong đó chữ TT sẽ được thay bằng ký hiệu cụ thể của trạng thái rừng),
mặt ghi ký hiệu của mốc phải hướng về phía trạng thái rừng tương ứng. Mốc
lô trạng thái bằng gỗ tròn, đường kính 5cm, cao 60cm, chôn sâu 20÷30cm.
500 m
5
0

trên 1 ÔĐTCB có thể thuộc cùng một trạng thái.
* Thiết lập ô đo đếm (ÔĐĐ)
Ranh giới ÔĐĐ phải được đo đạc bằng địa bàn ba chân và xác định rõ
ràng trên thực địa để phân biệt cây trong và ngoài ô, sai số khép kín cho phép
< 1/200.
Trên thực địa bốn góc ÔĐĐ mỗi ô được đóng các mốc kiên cố bằng bê
tông có lõi sắt, kích thước mốc 80 cm x 8 cm x 8cm, chôn sâu 40 cm, mặt
mốc hướng về ô, ghi các thông tin: ký hiệu mốc, ký hiệu trạng thái rừng, ô đo
đếm số, số thứ tự mốc từ 1 đến 4 cho mỗi ô đo đếm.
Trong mỗi ÔĐĐ sẽ phân thành 25 phân lô liên tục nhau với số hiệu từ 1
đến 25 (được đánh số theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới),
mỗi phân ÔĐĐ có diện tích 400m
2
(kích thước 20mx20m), (Hình 2.3).
20m
20m
Hình 2.3.Sơ đồ Phân ô trên ÔĐĐ
Các điểm giao nhau của ranh giới các phân ô đo đếm sẽ cắm các cọc
tiêu để có thể nhận biết được ranh giới phân ô trong quá trình điều tra thu thập
số liệu, ranh giới các phân ô được phát hoặc dùng dây ly lông để xác định.
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10
11 12 13 14 15
16 17 18 19 20
21 22 23 24 25
21
* Thu thập số liệu trên hệ thống ÔĐVNCST
Việc thu thập số liệu trong OĐVNCST được tiến hành trên các OĐĐ (3
ô); đo đường kính D
1,3

Trong mỗi phân ÔĐĐ gỗ mang số hiệu lẻ, mở một ô dạng bản diện tích
16m
2
(4m x 4m) ở góc phía Tây Bắc của phân ÔĐĐ. Trong ô dạng bản sẽ
điều tra thu thập các nội dung:
Điều tra cây tái sinh: Xác định tên loài cây tái sinh theo 7 cấp chiều cao
(<0,5m; 0,6÷1m; 1,1÷1,5m; 1,6÷2,0m; 2,1÷3,0m; 3,1÷5,0m; > 5,0m); các loài
được phân theo chất lượng (khoẻ, yếu, trung bình); phân theo nguồn gốc
(chồi, hạt) cho từng loài, ghi theo cách bỏ phiếu, hàng tổng ghi bằng chữ số ả
rập. Kết quả đo đếm ghi vào mẫu biểu sau:
22
Biểu điều tra cây tái sinh
Số hiệu ÔĐVNCST: ………………………………….…….… …
Kiểu rừng: ………………………………………….………………
Số hiệu ô đo đếm: …………………………………….……………
Trạng thái rừng: …………………………………….……………
TT
Loài
Cây
TS
Chất
Lượng
Tổng
Cấp chiều cao (m)
≤ 0.5 0.6-1.0 1.1-1.5 1.6-2.0 2.1-3.0 3.1-5.0 >5.0
Nguồn
gốc
Nguồn
gốc
Nguồn

chuối rừng.
+ Kiểu I
B
: Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cây bụi, cũng có thể
có một số cây gỗ, tre mọc rải rác.
+ Kiểu I
C
: Kiểu này được đặc trưng bởi cây thân gỗ tái sinh với số
lượng đáng kể nằm trong hai kiểu trên. Chỉ được xếp vào kiểu I
C
khi số lượng
cây tái sinh có chiều cao trên 1m, đạt từ 1000 cây/ha trở lên.
* Nhóm kiểu 2: Kiểu rừng phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ. Tùy
theo hiện trạng và nguồn gốc mà chia ra:
+ Kiểu II
A
: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên
phong ưa sáng, mọc nhanh, đều tuổi, 1 tầng.
+ Kiểu II
B
: Rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này bao
gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần
loài phức tạp, không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng.
Vượt lên khỏi tán rừng kiểu này có thể còn sót lại một số cây của quần
thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể.
Chỉ được xếp vào kiểu này những quần thụ mà đường kính phổ biến
không vượt quá 20cm.
* Nhóm kiểu 3: Kiểu rừng thứ sinh đã bị tác động.
Các quần thụ rừng đã chịu tác động khai phá của con người ở nhiều
mức độ khác nhau làm cho kết cấu ổn định của rừng ít nhiều đã có sự thay

A2.2
- Đủ tái sinh.
- Kiểu phụ III
A3
: Rừng đã bị khai thác vừa phải hoặc phát triển từ
III
A2
lên. Quần thục tương đối khép kín với 2 hoặc nhiều tầng.Đặc trưng của
kiểu này khác với III
A2
ở chỗ số lượng cây nhiều hơn và đã có một số cây có
đường kính lớn (trên 35cm) có thể khai thác sử dụng gỗ lớn.
+ Kiểu III
B
: Đặc trưng bởi những quần thụ đã bị chặt lấy ra một ít gỗ
quý, gỗ tốt nhưng chưa làm thay đổi đáng kể về kết cấu ổn định của rừng, khả
năng cung cấp của rừng còn nhiều, rừng giàu về trữ lượng với thành phần gỗ
lớn cao (gỗ xẻ).
* Nhóm kiểu IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh thành thục cho đến nay
chưa được khai thác sử dụng. Rừng có cấu trúc ổn định, nhiều tầng, nhiều cấp
kính, nhưng đôi khi thiếu tầng giữa và tầng dưới. Nhóm này có 2 kiểu
+ Kiểu phụ IV
A
: Rừng nguyên sinh
25
+ Kiểu phụ IV
B
: Rừng thứ sinh phục hồi đã phát triển đến giai đoạn ổn
định.
2.4.3.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status