Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ nông nghiệp và ptnt
Tr-ờng đại học lâm nghiệp
-----------------------
đào xuân tới
Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc
rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc
từ số liệu các oĐVNCST
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà Nội, 2010
Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ nông nghiệp và ptnt
Tr-ờng đại học lâm nghiệp
-----------------------
đào xuân tới
Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc
rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc
từ số liệu các oĐVNCST
hợp nhất với mục đích quản lý, nhằm đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cho từng
loại hình kinh doanh rừng. Tuy nhiên, do thiếu những nghiên cứu cơ bản về hệ
thống cấu trúc và tái sinh rừng nên ở nhiều nơi người ta không dám tác động
vào rừng bằng bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào hoặc nếu có thì hiệu quả của các
biện pháp kỹ thuật cũng không cao gây nhiều hậu quả tiêu cực tới rừng.
Trên quan điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc thể hiện rõ mối quan hệ
qua lại giữa các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi
trường. Mỗi khu vực, mỗi điều kiện sinh thái khác nhau sẽ cho những khu
rừng có tính đặc thù khác nhau cần được nghiên cứu. Khu vực miền núi phía
bắc, diện tích rừng tự nhiên nhiều nhưng hiện nay đang bị suy giảm nghiêm
2
trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, các biện pháp kỹ thuật áp dụng ở đây chủ
yếu là khoanh nuôi, bảo vệ mà ít có biện pháp tác động mang tính đột phá
phát huy tối đa sức sản xuất cũng như các chức năng có lợi khác của rừng,
đồng thời vẫn bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản
lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy
đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng. Do vậy, việc nghiên cứu
đặc điểm cấu trúc ở từng khu vực sẽ giúp cho các nhà Lâm học có thể chủ
động trong việc xác lập kế hoạch và các biện pháp kỹ thuật tác động chính
xác vào rừng, góp phần quản lý kinh doanh rừng lâu bền. Xuất phát từ yêu
cầu và thực tiễn đó, đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự
nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST" được thực
hiện nhằm góp phần bổ sung những hiểu biết mới về cấu trúc và tái sinh tự
nhiên quần xã thực vật rừng, tính đa dạng sinh vật và hướng phát triển bền
vững hệ sinh thái rừng tự nhiên.
4
nhưỡng và khí hậu giống nhau. (3) Kiểu lâm phần: bao gồm những khoảnh
rừng giống nhau cả về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và quần lạc thực vật rừng.
* Trường phái Bắc Âu: có 2 quan điểm khác nhau
+ Quan điểm sinh thái học: Phân loại kiểu rừng căn cứ vào hai nhân tố là độ
ẩm và độ phì. Độ ẩm chia làm 5 cấp: rất khô, khô, hơi ẩm, ẩm, ướt; độ phì
chia làm 4 cấp: xấu, tốt, giàu, rất giàu. Sự kết hợp các chỉ tiêu độ ẩm, độ phì,
cùng với các loài cây gỗ và thực vật thảm tươi chỉ thị là cơ sở để phân loại
kiểu rừng.
+ Quan điểm địa lý thực vật: Phân loại kiểu rừng dựa vào đặc trưng chủ yếu
là tổ thành thực vật và coi quần hợp thực vật là đơn vị phân loại cơ bản.
- Theo Hoàng Kim Ngũ (2005) [26] về cách Phân loại rừng ở Trung
Quốc: Các nhà sinh thái học và lâm học Trung Quốc đã tham khảo những
nguyên tắc và phương pháp phân loại của một số nhà sinh thái thực vật nước
ngoài, đã áp dụng phương pháp phân loại đẳng cấp, nguyên tắc sinh thái quần
xã, đặc trưng tổng hợp của bản thân quần xã làm căn cứ như: tổ thành loài của
quần xã, kết cấu ngoại mạo, phân bố địa lý, động thái diễn thế, môi trường sinh
thái để chia ra các cấp phân loại khác nhau. Đơn vị phân loại chủ yếu là 3 cấp:
(1) Loại hình thực bì (đơn vị cấp cao); (2) Quần hệ (đơn vị cấp trung); (3) Quần
xã (đơn vị cơ bản). Trên mỗi cấp lại chia ra các cấp phụ. Căn cứ phân loại đơn
vị cấp cao chủ yếu dựa vào ngoại mạo, kết cấu và đặc trưng sinh lý, sinh thái,
cấp trung và dưới cấp trung chủ yếu căn cứ vào tổ thành loài.
Nhìn chung, mỗi cách phân loại tuỳ thuộc vào kiểu rừng và mục đích
kinh doanh mà lựa chọn nhân tố chủ đạo phân loại khác nhau.
1.1.2. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.1.2.1. Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên
quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian, là một hình thái biểu hiện
cảnh bên ngoài của chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ở trạng
6
thái thường xuyên có tác động. Từ đó, khái niệm về hệ sinh thái được làm
sáng tỏ là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học.
1.1.2.2. Mô tả hình thái cấu trúc rừng
Richards P.W (1952) [32] cho rằng, đặc điểm nổi bật của rừng mưa
nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ. Rừng mưa thường
có nhiều tầng, trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và cây thân
cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dạng và kích thước, cùng nhiều thực vật
phụ sinh trên thân hoặc cành cây.
Catinot R (1965) [6], nghiên cứu những cấu trúc sinh thái thông qua
việc mô tả phân loại và đưa ra những khái niệm dạng sống, tầng phiến. Biểu
diễn các đặc trưng cấu trúc rừng mưa và hình thái của chúng bằng những
phẫu đồ rừng.
Rollet (1971) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], đã mô tả cấu trúc hình
thái rừng mưa bằng các phẫu đồ, biểu diễn các mối tương quan giữa chiều cao
vút ngọn và đường kính ngang ngực, tương quan giữa đường kính tán với
đường kính ngang ngực bằng các hàm hồi quy.
Kraft (1884) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22], tiến hành phân chia
những cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh
trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng. Phân cấp Kraft với các tiêu
chuẩn phân cấp rõ ràng đơn giản và dễ áp dụng, phản ánh được tình hình phân
hoá cây rừng.
Như vậy, khi nghiên cứu về tầng thứ, hầu hết các tác giả đưa ra những
nhận xét mang tính định tính, chưa thực sự phản ánh được sự phức tạp về cấu
trúc của rừng tự nhiên nhiệt đới.
1.1.2.3. Nghiên cứu về quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3)
rừng, điều này cũng được thừa nhận ở các công trình nghiên cứu sau này.
Barnard (1955) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22], để giảm sai số trong
khi thống kê tái sinh tự nhiên, tác giả đã đưa ra phương pháp “điều tra chuẩn
8
đoán”, theo phương pháp này kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo
giai đoạn phát triển của cây tái sinh.
Bara (1954), Budowski (1956) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22] cho
rằng, dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị
kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này
là cần thiết. Nhờ những nghiên cứu này, nhiều biện pháp tác động vào lớp cây
tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể.
Van Steenis (1956) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22] cho rằng, hai
đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và
tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống). Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng
nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh, một hiện tượng khá phổ biến ở
nhiều nước nhiệt đới.
Baur G.N (1964) [1], khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh
thái đến tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Tác giả có nhận xét, trong rừng nhiệt
đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, còn đối
với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm thì ảnh hưởng là không rõ ràng.
Các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng sau này, nhiều tác giả có
nhận xét: Thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của
cây tái sinh, mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát
triển nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh; Với rừng mưa nhiệt đới số
lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Số
lượng loài cây có giá trị về kinh tế không nhiều, đây là những loài được ưu
tiên trong kinh doanh rừng, các loài cây ít có giá trị kinh tế thường không
thái phát sinh, bao gồm: Địa lý - địa hình; Khí hậu - thuỷ văn; Đá mẹ - thổ
nhưỡng; Khu hệ thực vật; Sinh vật và con người. Phân loại rừng của Thái Văn
Trừng có cơ sở khoa học chắc chắn, có cơ sở thực tiễn tại nước ta. Tuy nhiên,
đơn vị phân loại còn quá lớn, trong quá trình kinh doanh rừng cần thiết phải
chia nhỏ hơn nữa.
10
Vũ Đình Huề (1984) [16], dựa trên hệ thống phân loại rừng của
Loeschau, phân chia trạng thái rừng phục vụ công tác kinh doanh rừng căn cứ
vào trạng thái hiện tại.
Vũ Biệt Linh (1984) [23], dựa vào mục đích, nội dung, phương thức
kinh doanh phân chia rừng, đất rừng nhằm tổ chức và định hướng tác nghiệp
kinh doanh theo các đối tượng khác nhau để đạt được hiệu quả cao nhất.
Vũ Đình Phương (1988) [29], khi xác định cấu trúc quần thể rừng phù
hợp cho từng đối tượng và mục tiêu điều chế đã dựa vào các đặc trưng: nhóm
sinh thái tự nhiên, giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo
rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình, đặc điểm thổ
nhưỡng để phân chia rừng thành những lô khác nhau phục vụ điều chế rừng.
Bảo Huy (1993) [18], dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau phân
chia trạng thái rừng hiện tại của lâm phần Bằng lăng ở Tây nguyên. Thông
qua trị số IV% tác giả cũng xác định các loại hình xã hợp thực vật với các ưu
hợp khác nhau.
Đào Công Khanh (1996) [20], dựa vào tổ thành các loài cây mục đích để
phân loại rừng phục vụ cho việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
Lê Sáu (1996) [33], dựa trên bảng phân loại Loeschau để phân loại trạng
thái các lâm phần rừng kín thường xanh ở Kon Hà Nừng.
Hầu hết nghiên cứu của các tác giả những năm gần đây khi phân chia
rừng đều dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau, được Viện Điều tra - Quy
giao khác tuổi, cho thấy: dạng tổng quát của phân bố N/D1,3 là phân bố giảm,
nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc nên đường thực
nghiệm thường có dạng hình răng cưa và tác giả đã chọn hàm Meyer để mô
phỏng quy luật phân bố số cây theo đường kính.
Nguyễn Hải Tuất (1986) [40], sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân
bố N/D1.3 thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo.
12
Bảo Huy (1993) [18], khi nghiên cứu rừng nửa rụng lá, rụng lá Bằng
lăng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên đã sử dụng rất nhiều hàm phân bố lý thuyết để
mô tả cho quy luật phân bố N/D1.3 thực nghiệm, tác giả kết luận: phân bố
khoảng cách thích hợp hơn các dạng phân bố khác.
Các nghiên cứu của tác giả Lê Sáu (1996) [33], Trần Cẩm Tú (1999)
[39], Trần Văn Con (1999) [7], Võ Văn Sung (2005) [34], lại cho rằng hàm
Weibull thích hợp hơn cả.
Qua việc tham khảo tài liệu liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân
bố N/D1.3 trong thời gian gần đây không chỉ dừng lại ở mục đích phục vụ
công tác điều tra như xác định tổng diện ngang, trữ lượng mà còn xây dựng
cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh trong nuôi dưỡng, làm giàu rừng.
1.2.3. Xây dựng mô hình cấu trúc mẫu
Những năm gần đây, vấn đề xây dựng mô hình cấu trúc mẫu đã được
nhiều tác giả đề cập, xuất phát từ những nghiên cứu cơ sở, các quy luật kết
cấu, từ đó đề xuất các giải pháp tác động, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
trong kinh doanh rừng, tiêu biểu phải kể đến các công trình:
Nguyễn Hồng Quân (1983) [30], sử dụng hàm mũ theo dạng Meyer,
xây dựng mô hình cấu trúc cho các kiểu rừng để phân cấp các lâm phần chặt
chọn bằng cách thay đổi hệ số góc của phương trình khi điều kiện hoàn cảnh
thay đổi.
đơn vị phân loại của rừng Bằng lăng ở Tây Nguyên. Từ đó, tác giả đã đề xuất
điều chỉnh cấu trúc N/D theo cấu trúc mẫu hoặc đồng dạng trong phạm vi bé
hơn đường kính giới hạn khai thác.
Phạm Văn Điển (2006) [8], trong báo cáo tư vấn về quản lý rừng cộng
đồng, tác giả đưa ra mô hình cấu trúc rừng chuẩn là mô hình: thứ nhất, phân
bố tiết diện ngang thân cây trên bề mặt đất tương đối đồng đều, chênh lệch
không quá hai lần giữa các ô thứ cấp; thứ hai, phân bố số cây theo cỡ đường
14
kính tuân theo luật giảm hàm Meyer và đảm bảo tổng tiết diện ngang, trữ
lượng rừng đạt tới một trị số nhất định sao cho rừng không bị suy thoái.
Bảo Huy (2007) [19], ứng dụng mô hình rừng ổn định trong quản lý
rừng cộng đồng để khai thác và sử dụng bền vững gỗ củi ở các trạng thái rừng
tự nhiên. Dựa vào cấu trúc N/D có dạng phân bố giảm, thiết lập mô hình rừng
ổn định nhằm phục vụ cho việc quản lý rừng cộng đồng. Theo tác giả, mô
hình rừng ổn định có dạng đồng dạng chuẩn trên cơ sở vốn rừng tối thiểu
được tính bằng tổng tiết diện ngang.
Trong Dự án Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng cuối năm
2007, Cục Lâm nghiệp đã sử dụng thuật ngữ rừng mong muốn để chỉ rừng có
cấu trúc nhất định trong từng giai đoạn diễn thế, có phân bố N/D, tổng tiết
diện ngang (G), trữ lượng (M) đảm bảo rừng không bị suy thoái và cho phép
khai thác rừng với cường độ thấp.
Tóm lại, khi xây dựng mô hình cấu trúc mẫu hầu hết các tác giả thường
quan tâm nhiều nhất là phân bố N/D1.3, nó là cơ sở cho việc khai thác và nuôi
dưỡng thông qua việc điều chỉnh cấu trúc này.
Như vậy, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã được quan tâm và
có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong
nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng.
nào chỉ cần thông qua biện pháp xúc tiến tái sinh là đủ.
Trần Xuân Thiệp (1996), nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi
rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc - Việt Nam. Tác giả kết luận: ở
vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao tái sinh tự nhiên khá tốt về số
lượng cây: từ 500-8.000 cây/ha. Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh hưởng
đến chất lượng tái sinh: nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất hiện
nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu,
nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ.
Vùng trung tâm tác giả cho biết sự nghèo kiệt nhanh chóng của rừng đưa đến
16
số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên thấp. Vùng Đông Bắc, số lượng cây
tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 đến 12.000 cây/ha.
So với các vùng khác, vùng này khả năng tái sinh tự nhiên tốt.
Như vậy, khi nghiên cứu về tái sinh rừng hầu hết các tác giả đề cập tới
vấn đề tái sinh tự nhiên. Thực tế cho thấy, với điều kiện rừng tự nhiên nước ta
hiện nay nhiều khu vực vẫn phải lấy tái sinh tự nhiên làm chủ đạo, còn tái
sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hẹp. Vì vậy, những nghiên
cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng vùng, từng đối tượng rừng cụ thể là
hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác và đáp ứng
mục tiêu kinh doanh rừng hiện nay.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng đều nhằm xác định
được đặc điểm cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh, trên cơ sở đó đề
xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động, để quản lý, sử dụng rừng một
cách hiệu quả và bền vững nhất. Đề tài được thực hiện nhằm góp phần vào
mục tiêu chung đó.
18
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Mô tả các ô điều tra
2.3.1.1. OĐVNCST 330 - 59
OĐVNCST 330 - 59 nằm ở xã Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc
Giang. Dạng địa hình đồi núi thấp, độ cao tuyệt đối 300 m, độ dốc trung bình
250. Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm núi thấp, trạng thái ưu thế IIB+ Nứa,
độ tàn che trung bình 0,6. Rừng có chức năng phòng hộ. Loài cây ưu thế là
Trâm sừng. Cây bụi ưu thế là Bọ tếch, Trọng đũa, Xương gà, có chiều cao
trung bình 1,5 - 2 m. Thảm tươi ưu thế là Cỏ lông lợn, Dương xỉ cao 0,4 m. 10
năm trước là rừng trung bình, hiện nay là rừng phục hồi.
2.3.1.2. OĐVNCST 330 - 65
OĐVNCST 330 - 65 nằm ở xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng
Ninh. Dạng địa hình núi thấp, độ cao tuyệt đối 286 m, độ dốc trung bình 250.
Thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm núi thấp. Trạng thái ưu thế IIIA1+
Vầu. Loài cây ưu thế là Chẹo trắng, Trâm, Mán đỉa, Vầu, độ tàn che trung bình
0,7. Cây bụi ưu thế là Trọng đũa, Chìa vôi có chiều cao trung bình 1 m. Thảm
tươi ưu thế: Cỏ lá, Cỏ 3 cạnh, cao 0,5 - 1m. Thực vật ngoại tầng: Song, Mây,
chiều cao từ 1 - 3m. 10 năm trước đây rừng gỗ bị khai thác quá mức làm cho
chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện nay rừng đã đạt khoảng 400 500 cây/ha, rừng đã và đang được phục hồi trên toàn vùng, cây gỗ dần dần thay
thế cây Vầu, Nứa.
2.3.1.3. OĐVNCST 336 - 36
OĐVNCST 336 - 36 nằm ở xã Quang Minh, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn
La. Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm núi trung bình. Trạng thái ưu thế IIIA2.
Loài cây ưu thế Kháo vàng, Côm tầng, Dẻ gai độ tàn che 0,6. Cây bụi ưu thế là
Trọng đũa, Ớt rừng, Cọc rào có chiều cao trung bình 1,3 m, độ che phủ 20%.
Thảm tươi ưu thế: Sa nhân, Dương xỉ, Cỏ lá có chiều cao 0,5m, độ che phủ
20
1000 m
500 m
2-IIIA1
(2)
25 ha
1-IIB
(4)
(3)
3-IIIA2
Hình 2.1: Sơ đồ lập OĐVNCST
Hình 2.2: Sơ đồ lập OĐTCB
2.3.2.2. Lập ô đo đếm
Sau khi phân chia trạng thái rừng ở các OĐTCB, tiến hành lập ô đo đếm
(OĐĐ) số lượng 3 ô, diện tích mỗi ô là 1 ha (100 x 100m), ranh giới giữa các ô
được đo bằng địa bàn 3 chân, sai số khép kín cho phép là 1/200.
Trong mỗi OĐĐ phân thành 25 phân ô, được đánh số thứ tự từ 1 đến 25
theo nguyên tắc từ trái sang phải từ trên xuống dưới, mỗi phân ô có diện tích
400m2 (20 x 20m) (hình 2.3).
20 m
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
Hình 2.3: Sơ đồ lập OĐĐ
20 m
21
2.3.2.3. Thu thập số liệu trên hệ thống ô đo đếm
Đối tượng điều tra là các cây gỗ thuộc tầng cây cao (cây có đường kính
ngang ngực từ 6 cm trở lên). Trên hệ thống các OĐĐ (3 ô), ở mỗi ô trong hệ
Tên
cây
...
D1.3 (cm)
ĐT NB
HVN
(m)
HDC
(m)
DT (m)
ĐT NB
Phẩm
chất
Ghi
chú
22
2.3.2.4. Điều tra ô dạng bản
Trong mỗi phân ô đo đếm mang số hiệu lẻ, lập một ô dạng bản diện tích
16 m2 (4 x 4m) ở góc phía Tây - Bắc của phân ô đo đếm. Trong ô dạng bản tiến
hành điều tra những cây gỗ có D1.3 < 6 cm. Điều tra các chỉ tiêu: Tên loài,
chiều cao, đường kính tán, chất lượng, nguồn gốc. Kết quả được ghi vào biểu
thể tiêu chuẩn phân chia các trạng thái rừng như sau:
+ Kiểu trạng thái II: Rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khi
khai thác trắng, kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, chủ yếu là
những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng mọc nhanh, có thể
chia thành 2 kiểu phụ:
23
- Kiểu phụ IIA: Rừng phục hồi còn non và đặc trưng bởi lớp cây tiên
phong ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và có kết cấu 1 tầng, đường kính D
< 10 cm; ΣG < 10 m2/ha, rừng có trữ lượng nhỏ. Thuộc đối tượng nuôi dưỡng.
- Kiểu phụ IIB: Rừng cây tiên phong phục hồi phát triển đã lớn, đặc
trưng tổ thành gồm những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa
sáng, mọc nhanh, thành phần loài phức tạp, đã có sự phân hoá về tầng thứ và
tuổi. Đường kính cây cao phổ biến bình quân D > 10 cm; ΣG > 10 m2/ha.
Thuộc đối tượng nuôi dưỡng.
+ Kiểu phụ trạng thái III: Trạng thái đã qua khai thác chọn, là kiểu
trạng thái đã bị tác động của con người ở nhiều mức độ khác nhau, làm cho
kết cấu rừng có sự thay đổi. Tuỳ theo mức độ tác động, khả năng tái sinh và
cung cấp lâm sản mà có thể phân loại trạng thái rừng khác nhau:
- Kiểu phụ IIIA: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt, đang phục hồi,
khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoặc thay đổi cở bản,
trạng thái này có thể chia thành một số trạng thái:
Dạng trạng thái IIIA1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, cấu trúc rừng
đã bị phá vỡ hoàn toàn, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, tầng trên còn
sót lại một số cây cao nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo bụi rậm, tre nứa
xâm lấn. Độ tàn che P < 0,3; ΣG < 10 m2/ha; ΣGD>40 < 2 m2/ha; trữ lượng