BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104 THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA LÂM NGHIỆP

CAO THẾ HIỆP

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG
TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104
THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ
HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CUỐI KHÓA KỸ SƯ
CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP

TP.HCM 08/2007


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA LÂM NGHIỆP

CAO THẾ HIỆP

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG
TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA1 TẠI TIỂU KHU 104
THUỘC THÔN BỜ HÀO – XÃ MÃ ĐÀ
HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN CUỐI KHÓA KỸ SƯ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Minh Cảnh


SUMMARY
Cao The Hiep, student of forestry faculty of Nong Lam University, Thu Duc
District, Ho Chi Minh City.
The thesis “First step research on some structural characteristics of
natural forest (IIIA1 type) at 104 sub - area – Bo Hao Hamlet – Ma Da Village –
Vinh Cuu District – Dong Nai Province” has been carried out from February to
July 2007.
Scientific Advisor: MSc. Nguyen Minh Canh
The main research methods of the thesis are mensurement and collection of
the data in the study fields. The software Excel 2003 was used to treat data and
establish the correlation models.
The research results could be summarized with some main contents as follows:
1. Structure of botanic species:
The number of species in natural forest (IIIA1 type) at study area is 59
species; Sapindaceace has the highest ratio (16.07 percent) with species
Xerospermun noronhianum.
2. Distribution of stem number according to tree height – rank (N/HVN)
Correlation of (N) according to height - rank (H) of natural forest (IIIA1 type)
at study area is well fitted by Weibull equation with  = 1,5 and  = 0,052.
3. Distribution of stem number according to diameter at breast height (N/D1.3)
Correlation of (N) according to diameter (D1,3), to be a mathematical model
with an Meyer equation as:
LnN% = 4,3582 – 0,1207*D1,3

or

N% = 78,11.e-0,1207*D1,3

4. Distribution of mass according to diameter at breast height (M/D1.3)


* Lời cảm ơn
* Tóm tắt
* Phiếu nhận xét của giáo viên hướng dẫn
* Phiếu nhận xét của giáo viên phản biện
* Mục lục------------------------------------------------------------------------------------ i
* Danh sách các chữ viết tắt ------------------------------------------------------------ iii
* Danh sách các bảng--------------------------------------------------------------------- iv
* Danh sách các hình --------------------------------------------------------------------- v
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU ------------------------------------------------------------------ 1
1.1. Đặt vấn đề ---------------------------------------------------------------------------- 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài -------------------------------------------------- 2
1.3. Giới hạn phạm vi và địa điểm vùng nghiên cứu ----------------------------- 2
CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN------------------ 4
2.1. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới ----------- 4
2.2. Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam ---------------- 6
2.3. Khái niệm và nguyên tắc chính trong phân chia trạng thái rừng -------- 9
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU ------------------------- 11
3. 1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu --------------------------------------------- 11
3.2. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu --------------------------------------- 12
3.3. Đặc điểm kinh tế xã hội ---------------------------------------------------------- 17
CHƯƠNG 4. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ------------ 24
4.1. Nội dung nghiên cứu -------------------------------------------------------------- 24
4.2. Phương pháp nghiên cứu -------------------------------------------------------- 24
4.2.1. Cơ sở phương pháp luận ------------------------------------------------- 24
4.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ------------------------------------------- 25

i


4.2.3. Nội dung điều tra và các biện pháp kỹ thuật ------------------------- 26

UBND:

Ủy ban nhân dân

Bộ NN & PTNT:

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

VAC:

Vườn ao chuồng

CBCNV:

Cán bộ công nhân viên

D1,3

Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 m, cm

D1,3_tn

Đường kính 1,3 m thực nghiệm

D1,3_lt

Đường kính 1,3 m tính theo lý thuyết

H


r

Hệ số tương quan

R

Biên độ biến động

R2

Hệ số xác định mức độ tương quan

S

Độ lệch tiêu chuẩn

S2

Phương sai mẫu

SK

Hệ số biểu thị cho độ lệch của phân bố

SY-X

Sai số của phương trình hồi quy

iii




Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài sản vô giá đối với con người và cuộc sống, là một hệ sinh thái
vô cùng phức tạp. Rừng giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như bảo vệ
môi trường sinh thái, cải thiện điều kiện khí hậu, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ đa
dạng sinh học … Bởi thế mà rừng được coi như là một lá phổi của trái đất.
Cùng với sự phát triển hiện nay của nhiều ngành công nghiệp, áp lực dân
số ngày càng gia tăng, cộng với sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân về
tầm quan trọng và các chức năng của rừng đã dẫn đến sự suy giảm về diện tích
cũng như chất lượng rừng một cách nghiêm trọng, làm giảm tác dụng của rừng
đối với môi trường, làm cho đất bị suy thoái do quá trình rữa trôi, xói mòn ngày
càng cao, lụt lội, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn đã góp phần phá hủy môi
trường sống của con người.
Theo Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO, 1990), ở các nước nhiệt đới,
tổng số diện tích rừng bị tàn phá và mất đi hàng năm là 16,8 triệu ha mỗi năm,
chiếm khoảng 1,2 % tổng số diện tích rừng của các nước thuộc vùng nhiệt đới.
Trong đó, Việt Nam là một nước thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, chủ yếu là
rừng nhiệt đới. Năm 1945, diện tích rừng nước ta còn khoảng 14,3 triệu ha,
chiếm 43 % tổng diện tích tự nhiên thì đến năm 1990 chỉ còn 9,3 triệu ha, chiếm
28,4 % tổng diện tích tự nhiên. Bên cạnh đó, tốc độ mất rừng ngày càng tăng
trong khi tốc độ trồng rừng còn rất hạn chế, tình trạng này đã làm cho rừng thoái
hóa rất nhanh cả về chất và lượng. Vấn đề này đã đặt ra cho các nhà lâm nghiệp
một nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng khôi phục lại rừng, đáp ứng nhu cầu
về gỗ, củi của con người và môi trường sinh thái, bảo đảm tính ổn định và phát
triển bền vững vốn rừng.

1


2


Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Do vậy đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót khi
đưa ra những nhận định chung về cấu trúc rừng tại khu vực nghiên cứu, vì vậy
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn để đề
tài được hoàn chỉnh hơn.
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong cuộc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế
thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài, nhưng do những hạn chế nhất
định, nhất là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng nhiệt đới, nên
đây chỉ là những kết quả bước đầu nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm
hiểu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên tại tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã
Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

3


Chương 2
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
2.1. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới
* Khái niệm về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp nên các thành phần cấu tạo nên
quần thể thực vật theo không gian và thời gian. Phân bố của quần thể thực vật
trong không gian có thể biểu hiện ở hai khía cạnh: theo chiều thẳng đứng (tính
thành tầng, tầng phiến) và theo chiều nằm ngang của rừng (trạng thái khảm). Đó
là sự chọn lọc mang tính quy luật trong tự nhiên. Cấu trúc là một trong những
nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể sinh vật.
Trên thế giới, thuật ngữ cấu trúc được sử dụng và phục vụ cho nhiều mục
đích khác nhau và nó có ý nghĩa khác nhau đối với từng tác giả.

rừng lớn tuổi hơn.
Theo Weise, trong việc nghiên cứu vị trí của cây rừng có đường kính bình
quân. Đối với rừng thuần loại, đều tuổi, một tầng, ông đã xác định đường kính
bình quân là cỡ đường kính của cây nằm ở vị trí thứ 57,5% tính từ cỡ nhỏ trong
cột số cây (ni) từ số liệu điều tra đo đếm.
Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố của cây rừng, chủ yếu
theo đường kính D1,3 có liên hệ với giai đoạn phát dục của lâm phần và các biện
pháp kinh doanh. Theo ông , sự phân bố cây theo đường kính có giá trị tiêu biểu
nhất cho lâm phần. Những quy luật phân bố mà ông xác định được ở rừng tự
nhiên được chấp nhận và kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố
đường kính của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất
nhiều ở các cấp đường kính nhỏ. Do bởi có nhiều loài, nhiều thế hệ cùng tồn tại.
Song ở các cỡ đường kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh
học hay do bởi vị trí thuận lợi trong rừng chúng ta mới có khả năng tồn tại và
phát triển. Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng
có nhiều thế hệ hay bởi các biện pháp chặt chọn không quy tắc nên phân bố

5


chiều cao của rừng thường có nhiều đỉnh và giới hạn của đường cong phân bố
nhiều đỉnh là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi.
Giáo sư N.V. Tretiakov đã đi đến kết luận, quy luật cấu trúc của những
phân tử rừng thường xuyên mang những đặc điểm đặc trưng hiện tại, không phụ
thuộc vào tuổi rừng, loài cây, điều kiện sinh trưởng và thậm chí điều này cũng
được chỉ ra đúng ngay cả lâm phần phức và hỗn loài.
Rutkowski Boleslaw (1963) đã nghiên cứu bằng phương pháp biểu đồ sự
phân bố cây theo đường kính trên một hecta theo đại lượng tương đối. Cách
dùng đường biểu thị đường kính và số cây theo đơn vị đã cho phép so sánh
những lâm phần khác nhau.

qua việc nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao, đường kính nhưng
kết quả này lại phục vụ cho mục tiêu tương đối khác.
Năm 1974, Đồng Sĩ Hiền khi lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng
cho rừng gỗ hỗn loài ở Miền Bắc nước ta, tác giả đã nghiên cứu phân bố đường
kính, phân bố chiều cao và phân bố của các nhân tố hình dạng thân cây. Qua kết
quả nghiên cứu ,tác giả đã rút ra kết luận là: quy luật cấu trúc của rừng tự nhiên
hỗn loài nước ta có dạng phân bố giảm theo đường kính và dạng phân bố nhiều
đỉnh theo chiều cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0,1 và f1,3 của các
loài cây trong rừng tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố
chuẩn và các quy luật này khác hẳn so với rừng thuần loại đều tuổi.
Nguyễn Ngọc Lung và những cộng sự (1986) đã nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng, tác giả đã tổng kết các quy luật khí hậu vùng
Thông và đã xây dựng bản đồ phân hạng đất trồng rừng, làm cơ sở cho việc đề
xuất các biện pháp kinh doanh. Về mặt cấu trúc rừng Thông ba lá , tác giả đã sơ
kết trên những cơ sở dữ liệu lớn, đã đo đạc trên những ô tiêu chuẩn có kích
thước khác nhau từ 1.000 m2 – 10.000 m2 đều thấy sự phân bố số cây theo cỡ
đường kính, chiều cao theo thời gian và trong không gian, đồng thời xây dựng
các phân bố đỉnh của hàm Pearson cho số cây theo cỡ kính. Quy luật chỉ tồn tại
một tầng phiến, tiêu biểu cho những lâm phần đều tuổi. Quy luật phân bố theo
đám trên mặt đất theo cách mọc, điểm này có liên quan đến quy cách khai thác,

7


tái sinh lại, và điều chỉnh mật độ trong nuôi dưỡng nhằm nâng cao năng suất
rừng trong tương lai.
Nguyễn Văn Trương (1983) trong phương pháp nghiên cứu đã sử dụng ô
tiêu chuẩn có diện tích từ 0,25 ha đến 1 ha để đo đếm các chỉ tiêu cần thiết về
D1,3, Hvn, Dtán,… của các cây có D1,3  1 cm. Cự ly cấp kính là 4 cm, chiều cao
là 2 m, cấp tiết diện ngang là 0,025 m2.

cầu về tính quy luật phân bố và các vấn đề khác trong nghiên cứu cấu trúc rừng.
Những kết quả nghiên cứu đạt được của một số tác giả về cấu trúc rừng sẽ
là tài liệu tham khảo quý báu cho tôi học tập và đi theo hướng nghiên cứu đã
định để thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
2.3. Khái niệm và nguyên tắc chính trong phân chia trạng thái rừng
Theo Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng 1984 (QPN6-84) các trạng thái
rừng chính được phân theo hệ thống phân loại của Loschaus (1962) như sau:
Nhóm kiểu I: Đất không có rừng hoặc hiện tại chưa hình thành rừng, chỉ
có cây cỏ, cây bụi hoặc cây gỗ, tre nứa có độ che phủ dưới mức 0,3. Tùy theo
hiện trạng nhóm này được chia thành:
Kiểu hiện trạng rừng
Kiểu IA: Trảng cỏ
Kiểu IB: Trảng cỏ, cây bụi
Kiểu IC: Trảng cỏ, cây bụi có cây gỗ rải rác
Nhóm kiểu II: Kiểu rừng phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ. Tuỳ
theo hiện trạng, nguồn gốc mà chia ra:
Kiểu IIA: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong
ưa sáng, mọc nhanh đều tuổi, một tầng.
Kiểu IIB: Rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này gồm những
quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần loài phức tạp
không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng. Vượt lên khỏi tán rừng kiểu này có thể
còn sót lại một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể.
Nhóm kiểu III: Kiểu rừng thứ sinh đã bị tác động.

9


Các quần thụ đã bị tác động khai phá bởi con người ở những mức độ khác
nhau làm cho kết cấu ổn định của rừng ít nhiều đã có sự thay đổi khác nhau. Tùy
theo mức độ tác động và khả năng cung cấp sản phẩm mà nhóm này được chia

3.1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Tiểu khu 104 thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
thuộc sự quản lý của Lâm trường Mã Đà .
3.1.1. Giới thiệu chung
Lâm trường Mã Đà được thành lập năm 1977 khi đó là một Lâm trường
quốc doanh với diện tích khá lớn bao gồm cả Lâm trường Hiếu Liêm và lòng hồ
Trị An ngày nay. Nhưng sau đó một thời gian, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết
định chia cắt ra thành Lâm trường Mã Đà và Lâm trường Hiếu Liêm và một
phần diện tích bị khai thác trắng làm lòng hồ Trị An. Kể từ năm 1997 Lâm
trường chuyển sang thành một Lâm trường hoạt động công ích và hiện nay đã sát
nhập cùng hai Lâm trường Vĩnh An và Hiếu Liêm thành một khu Bảo tồn thiên
nhiên Vĩnh Cửu.
Lâm trường Mã Đà có diện tích tự nhiên là 27.497 ha và có địa bàn nằm
trên hai xã: xã Mã Đà và xã Phú Lý thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai,
nhưng đa phần là thuộc xã Mã Đà và một diện tích rất nhỏ (220 ha) nằm trên địa
bàn xã Phú Lý.
Lâm trường Mã Đà nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai thuộc huyện Vĩnh
Cửu tỉnh Đồng Nai quản lý. Trong diện tích tự nhiên của Lâm trường bao gồm
có diện tích rừng tự nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp và khu dân cư,
diện tích đất trống, diện tích ao hồ, diện tích rừng trồng và một số diện tích khác
… Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 21.642,6 ha chiếm 78,7 % tổng diện tích
tự nhiên của Lâm trường. Rừng tự nhiên của Lâm trường Mã Đà chủ yếu là rừng
nghèo và rừng non đang được phục hồi, khoanh nuôi và xúc tiến tái sinh tự nhiên
sau khi bị chiến tranh tàn phá và hậu quả của việc khai thác quá mức trước kia.
Rừng trồng của Lâm trường bao gồm rất nhiều loài như: Tếch, Keo lá tràm, Sao

11


đen, Dầu, Bằng lăng … và diện tích rừng trồng này chủ yếu được trồng trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status