BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN HOÀNG GIANG
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đặc biệt khi Việt
Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại
thế giới WTO thì việc mua bán, trao đổi hàng hoá ngày càng
được chú trọng và quan tâm. Người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa
chọn, nhiều cơ hội để tìm cho mình một loại sản phẩm phù hợp nhất và giá cả lại phải
chăng. Trong các bạn, có lẽ không ai là không biết đến sản phẩm bột giặt OMO của tập
đoàn Ulinever. Và chúng ta cũng biết rằng khi một thương hiệu đã chiếm được khối óc
của người tiêu dùng thì đích đến cho nó là chiếm trái tim của họ. Điều này đúng với
OMO - thương hiệu bột giặt nổi tiếng tại thị trường Việt Nam. Đây là một trong những lí
do quan trọng đầu tiên thu hút nhóm chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu vế sản phẩm này.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, đối với mỗi gia đình, bột giặt là một trong những
sản phẩm tiêu dùng thiết yếu. Điều kiện sống càng phát triển thì nhu cầu của con người
về những sản phẩm hoàn thiện cũng tăng lên. Theo chúng tôi, OMO đã đáp ứng tốt được
phần nào mong muốn của khách hàng về chất lượng sản phẩm và việc phân phối đến tận
tay khách hàng. Một sản phẩm muốn đứng vững trên thị trường, muốn tạo được niềm tin
về chất lượng nơi người tiêu dùng không phải dễ. Song, OMO đã làm được điều ấy. Và
giờ đây, sản phẩm này đã, đang và sẽ càng khẳng định thương hiệu của mình trên thị
trường Việt Nam và nước ngoài.
Trên đây là một vài lí do chủ yếu khiến chúng tôi chọn OMO là sản phẩm để tìm
hiểu và nghiên cứu.
Nhóm 7 chúng tôi nghiên cứu đề tài: “ Mô tả khái quát các nhân tố môi trường
của bột giặt OMO trên thị trường Việt Nam. Phân tích ưu, nhược điểm của chính sách
phân phối của bột giặt OMO và đưa ra đề xuất”. Việc nghiên cứu này rất cần thiết để có
thể giữ vững vị trí của OMO trên thị trường. Nhóm chúng tôi nghĩ rằng, việc tìm hiểu,
nghiên cứu này cần được diễn ra thường xuyên để có thể theo dõi được biến động của
thị trường, để đưa ra được các giải pháp kịp thời, phù hợp.
Đây là lần đầu tiên thực hiện đề tài này nên nhóm chúng tôi không tránh khỏi
thiếu sót. Mong các bạn và thầy cô góp ý để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
2. Môi trường bên ngoài:
Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, môi trường kinh tế, môi trường
chính trị và pháp luật, môi trường văn hóa – tôn giáo…
NHÓM 7 – HK6B Page 2
BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN HOÀNG GIANG
Sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường nói trên đã đem lại cho doanh nghiệp nhiều
điểm mạnh cũng như điểm yếu hay tạo cho doanh nghiệp những cơ hội, thách thức khác
nhau. Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Unilever nói chung và
quá trình phân phối sản phẩm Omo nói riêng.
• Điểm mạnh (Strengths):
- Sản phẩm Omo của Unilever đã kết hợp được ba yếu tố: độ an toàn cho da tay, độ
giặt tẩy trắng và hương thơm của bột giặt vào cùng một sản phẩm tung ra thị
trường đã thu hút được sự yêu thích và đã được các bà nội trợ Việt Nam rất tin
dùng và lựa chọn (chiếm 60% thị phần tiêu dùng).
- Được sự hỗ trợ của Unilever toàn cầu nên có nguồn tài chính vững mạnh.
- Sản phẩm Omo có giá bán tương đối có thể chấp nhận được trong khi chất lượng
sản phẩm lại cao.
- Môi trường văn hóa của Unilever mạnh, đội ngũ nhân viên trí thức với tính thần
trách nhiệm cao.
- Nắm bắt được tâm lý người Việt Nam luôn đề cao lòng nhân ái nên Unilever thực
hiện các chương trình nhân đạo như: Omo – áo trắng ngời sáng tương lai, triệu
tấm lòng vàng, tết làm điều phúc sung túc cả năm…đã thu hút được nhiều sự chú
ý của mọi tầng lớp dân cư.
• Điểm yếu (Weaknesses):
- Giá cả của Omo vẫn cao hơn so với các loại bột giặt thường. Người tiêu dùng ở
nông thôn thường dùng những loại bột giặt thường giá thấp nên Unilever không
chiếm được thị phần ở nông thôn.
- Unilever là công ty có nguồn gốc Châu Âu nên chiến lược quảng bá sản phẩm còn
chưa phù hợp với văn hóa Á Đông.
• Cơ hội (Opportunities):
cho công ty bán được nhiều hàng và thu lợi nhuận lớn.
Omo là hàng hóa tiêu dùng cá nhân, do vậy kênh phân phối cũng có sự khác biệt so
với các mặt hàng khác.
Thứ nhất, là một kênh trực tiếp từ người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng.
NHÓM 7 – HK6B Page 4
BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN HOÀNG GIANG
Các loại hình thông tin đại chúng bao gồm cả phát thanh, truyền hình, báo chí và
internet càng trở nên phổ biến hơn, và có ảnh hưởng mạnh đến việc tiêu dùng của dân
chúng.
Chính vậy, công ty đã đưa vào sử dụng lực lượng bán hàng tận nhà, hay bán hàng
qua thư, đặt hàng qua thư, bán qua Catalog… Các hình thức này cho phép người tiêu dùng
mua sản phẩm nhờ các phương tiện thông tin quảng cáo mà không cần gặp trực tiếp người
bán.
* Ưu điểm :
-Thông tin rộng rãi được nhiều người tiêu dùng biết đến.
-Tiết kiệm được nhiều thời gian tìm kiếm thông tin về sản phẩm và hạn chế thời gian
đi mua sắm.
Thông tin về sản phẩm được cung cấp miễn phí và rộng rãi trên các phương tiện
thông tin đại chúng nên người tiêu dùng có thể dễ dàng biết được và có cơ hội lựa chọn
hàng hóa theo ý thích của mình và sản phẩm Omo gần đây được quảng cáo & PR rất nhiều
với những chương trình mới mẻ kích thích được khả năng tiêu dùng của công chúng sau khi
đã có nhu cầu mua sản phẩm với kênh phân phối đa dạng này người tiêu dùng có thể lựa
chọn hình thức mua hàng phù hợp bán trực tiếp qua tivi,đài,báo chí,internet…họ có thể tìm
thấy thông tin ở bất cứ nơi đâu. Nhờ vậy việc tìm mua sản phẩm trở nên khá dễ dàng. Đặt
biệt, họ có thể ngồi tại nhà hay bất cứ đâu cũng có thể mua được hàng bằng cách đặt hàng
trực tiếp trên internet, điện thoại.. Hàng đặt mua được mang đến tận nhà đảm bảo thời gian
và chất lượng.
NHÓM 7 – HK6B Page 5
xuất và người tiêu dùng .
Nhà sản xuất
Nhà bán lẻ
Người tiêu dùng
Tổng quan về thị trường Việt Nam : với những đặc điểm đặc thù như 75% trên 82
triệu dân sống ở nông thôn, thị trường truyền thống bán lẻ phức tạp và chiếm đa số với hơn
450.000 cửa hiệu, cửa hàng bán sỉ vẫn còn thống lĩnh. Mặt khác, dựa trên thói quen mua
hàng của người tiêu dùng Việt Nam để lựa chọn kênh phân phối như qua các đại lí, hệ
thống siêu thị, hay nhà phân phối…cho phù hợp. Người tiêu dùng Việt Nam có thói quen
mua hàng ngày, thay vì tới siêu thị vào ngày cuối tuần để mua hàng đủ dùng cho cả tuần.
Unilever biết tận dụng những kênh sẵn có như hệ thống các chợ, các nhà buôn sĩ.
Do xu hướng tiêu dùng chung ngày nay của người Việt là ngày càng tiếp cận gần hơn
với các kênh phân phối hiện đại như siêu thị cửa hàng tự chọn. Chính vì vậy, công ty
Unilever Việt Nam đã tiến hành chiến lược phân phối các sản phẩm của mình thông qua các
kênh bán lẻ này.
Cụ thể, sản phẩm Omo được bán tại các siêu thị bán lẻ như Big C, chuỗi siêu thị
Co.op mart, hệ thống Maximax…Các siêu thị này phân phối trực tiếp sản phẩm đến tay
người tiêu dùng cuối cùng, bằng cách cho người tiêu dùng tự lựa chọn mặt hàng, dòng sản
phẩm mình ưa thích và phù hợp.
NHÓM 7 – HK6B Page 7
BÀI THẢO LUẬN GVHD: NGUYỄN HOÀNG GIANG
Kênh phân phối này tập trung hướng đến người tiêu dùng cuối cùng, tiêu thụ với số
lượng nhỏ nhưng thường xuyên.
* Ưu điểm :
- Cho người tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu lựa chọn mặt hàng ưa thích nhất : người
tiêu dùng khi đến các cửa hàng bán lẻ có thể gặp đủ loại sản phẩm với mức giá phù hợp với
nhu cầu của bản thân và gia đình nhất.
- Đáp ứng nhu cầu lựa chọn ngay lập tức : khin cần hàng hóa người tiêu dùng đến