“vận dụng “phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học môn tiếng anh ở trung tâm gdtx yên lạc – vĩnh phúc - Pdf 24

1

MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu: 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: Với đề tài này tôi thực hiện các nhiệm vụ sau: 3
6. Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài này tôi tiến hành : 3
7. Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2011-2012 đến năm học 2012-2013 3
PHẦN II: NỘI DUNG 4
Chương I: Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 4
1.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì? 4
1.2. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực 6
1.3. Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường Trung học phổ thông 10
Chương II:Thực trạng vận dụng PPDH nói chung 16
2.1 Vài nét về Trung tâm GDTX Yên Lạc và đặc điểm của Anh văn 16
2.2. Thực trạng học tập môn Anh văn của Trung tâm GDTX Yên Lạc: 17
2.3. Các nguyên nhân chủ quan, khách quan của thực trạng. 18
Chương III:Thiết kế bài giảng dạy theo PPDH tích cực đối với môn tiếng Anh 19
3.1. Kỹ thuật mở bài - tạo không khí lớp học: 19
3.2. Quy trình dạy Viết theo PPDH tích cực được thực hiện theo 3 bước sau: 21
3.3. Dạy kỹ năng Nói cho học sinh 22
3.4. Dạy kỹ năng Đọc hiểu cho học sinh 23
PHẦN III. Kết quả đạt được, bài học kinh nghiệm và đề xuất 26
1. Kết quả đạt được, khảo nghiệm. 26
2. Bài học kinh nghiệm: 26
3. Những đề xuất kiến nghị : 26
HỘI ĐỒNG NHÀ TRƯỜNG NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 28

hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Để giúp người học đáp ứng được
những yêu cầu đó, việc cải cách, đổi mới giáo dục là một việc làm hết sức cần
thiết và cấp bách, trong đó, đổi mới phương pháp giáo dục là khâu then chốt
nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới giáo dục.
Cùng với xu hướng phát triển của thời đại về các lĩnh vực khoa học - công
nghệ, sự bùng nổ về thông tin, Giáo dục – Đào tạo cũng có những bước phát
triển mới. Trong những năm gần đây, Giáo dục – Đào tạo nước ta có nhiều đổi
mới về nội dung và phương pháp. Để đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực
có đủ khả năng phục vụ cho xã hội phát triển trong tương lai, việc đổi mới
phương pháp giảng dạy là một trong những yêu cầu bức thiết hiện nay. Phương
pháp giảng dạy tích cực lấy người học làm trung tâm là một trong những mục
tiêu giáo dục được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu, đúc kết từ thực tiễn và xây
dựng thành những lý luận mang tính khoa học và hệ thống.
Phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC) xuất hiện ở các nước phương
Tây từ đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hưởng
sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đó là cách thức dạy
học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH
tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của
người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học. Giáo
viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm
kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm. Họ
có vai trò là “trọng tài”, điều khiển tiến trình giờ dạy. PPDH này chú ý đến đối
tượng người học, coi trọng việc nâng cao khả năng cho người học; nêu tình
huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của người
học, từ đó hệ thống hóa các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức
cần nắm vững. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên em chọn đề tài nghiên
cứu: “Vận dụng “phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học môn
tiếng Anh ở Trung tâm GDTX Yên Lạc – Vĩnh Phúc”.

3

giáo, các bạn đồng nghiệp và của bản thân.
6.2.4. Phương pháp thực nghiệm: Được tiến hành theo một quy trình xác định nhằm
so sánh 2 phương pháp: truyền thống và phương phương pháp dạy tích cực.
7. Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2011-2012 đến năm học 2012-2013

4

PHẦN II: NỘI DUNG
Chương I: Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì?
1.1.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học:
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005).
Luật Giáo dục, Điều 5.2, có ghi: “Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người
học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
Điều 28.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
1.1.2. Thế nào là tính tích cực học tập?
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và
phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên,
cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển xã hội là một trong những nhiệm
vụ chủ yếu của giáo dục.
Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở

theo phương pháp thụ động.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học,
nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy.
Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng
giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng
PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen
với lối học tập thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động
để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa
sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả
của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì
mới thành công. Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân
biệt với "Dạy và học thụ động".
1.1.4. Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm
trung tâm.
Từ thập kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và
trong nước, một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc cần
thiết phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh
làm trung tâm.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương
như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học
hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh
hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp
cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên.
6

Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho
một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên
khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông
báo - đồng loạt". Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm
của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách

người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra
theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm
được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn
mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
7

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà
còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh
biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.
1.2.2. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy
học.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa
học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu
óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho học
sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng
phải được chú trọng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo
cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập
sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự
học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo
viên.
1.2.3. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự
phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự
điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận
lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều
chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà
nhà trường phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con
người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá
không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học
mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những
tình huống thực tế.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là
một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời
hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn
đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người
thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học
sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ
năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là
chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên
đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới
có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố
vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học
sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành
9

nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi
diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau:
Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới

của cuộc sống hiện tại và tương
lai. Những điều đã học cần
thiết, bổ ích cho bản thân học
sinh và cho sự phát triển xã hội.
Nội dung
Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau:
SGK, GV, các tài liệu khoa học
phù hợp, thí nghiệm, bảng tàng,
thực tế…: gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và
nhu cầu của HS.

- Tình huống thực tế, bối cảnh
và môi trường địa phương

- Những vấn đề học sinh quan
tâm.
Phương Các phương pháp diễn giảng, Các phương pháp tìm tòi, điều
10

pháp truyền thụ kiến thức một chiều. tra, giải quyết vấn đề; dạy học
tương tác.
Hình thức
tổ chức
Cố định: Giới hạn trong 4 bức
tường của lớp học, giáo viên đối
diện với cả lớp.
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp,
ở phòng thí nghiệm, ở hiện

gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực
tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh
doanh. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những
11

vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng
đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như
một mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải
quyết vấn đề thường như sau:
+ Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề;
- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
- Phát hiện vấn đề cần giải quyết
+ Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất cách giải quyết;
- Lập kế hoạch giải quyết;
- Thực hiện kế hoạch giải quyết.
+ Kết luận:
- Thảo luận kết quả và đánh giá;
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
- Phát biểu kết luận;
- Đề xuất vấn đề mới.
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện
cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả
làm việc của học sinh.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề.
Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần.
Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích,
yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ
định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao
cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công
mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc
tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các
thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi
đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết
quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước
toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình
bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
Làm việc chung cả lớp :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm
13

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong
nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong
bài.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các

Cách tiến hành có thể như sau :
- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy
định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai
- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai
+ Vì sao em lại ứng xử như vậy ?
+ Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử ? Khi nhận được
cách ứng xử ( đúng hoặc sai )
+ Lớp thảo luận, nhận xét : Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay
chưa phù hợp ? Chưa phù hợp ở điểm nào ? Vì sao ?
+ Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống.
Những điều cần lưu ý khi sử dụng :
o Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại
o Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
o Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc
đề
o Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia
o Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
1.3.5. Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin
làm tiền đề cho buổi thảo luận.
* Cách tiến hành
- Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước
nhóm
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không
loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

16

Chương II:
Thực trạng vận dụng PPDH nói chung và PPDH tích cực nói riêng trong
quá trình dạy học môn tiếng Anh ở Trung tâm GDTX Yên Lạc

2.1 Vài nét về Trung tâm GDTX Yên Lạc và đặc điểm của Anh văn
2.1.1. Vài nét về Trung tâm GDTX Yên Lạc và học viên, học sinh của
Trung tâm GDTX Yên Lạc:
Trung tâm GDTX Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập
bởi Quyết định số 378/QĐ-CT ngày 29/02/1996 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh
Phú.
Cơ quan quản lý trực tiếp là Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc.
Nhà trường nằm trên diện tích đất 6,298m
2
tại Thị trấn Yên Lạc
Nhiệm vụ của Trung tâm GDTX cấp huyện được ban hành tại Quyết định
số 01/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/01/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT như
sau:
1. Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
a) Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến
thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ
thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình
dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền
núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
d) Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học

được đưa và để xếp loại học lực của học viên nếu được học (các môn học chính
là: Văn, Toán, Lý, Hoá, Sinh, Văn, Sử, Địa); (Các môn học khuyến khích: Tiếng
Anh, Tin học, GDCD)
- Là môn học trong các môn cơ sở của chương trình đào tạo Trung cấp
nghề; là môn chung đối với các lớp đào tạo TCCN, Cao đẳng và ĐH mà nhà
trường liên kết đào tạo các chuyên ngành đáp ứng nhu cầu người học.
2.2. Thực trạng học tập môn Anh văn của Trung tâm GDTX Yên Lạc:
- Học viên BTTHPT không muốn học vì là môn học không bắt buộc.
- Chất lượng đầu vào học sinh thấp, vì đối tượng tuyển sinh là mắt sàng
thứ tư trong công tác tuyển sinh đầu vào.
- Học viên các lớp liên kết lười học tiếng Anh, coi tiếng Anh là môn chung,
không trú trọng học tập. Nếu học chỉ là chống đối, cốt sao thi được điểm 5.
- Đội ngũ giáo viên mỏng.
18

2.3. Các nguyên nhân chủ quan, khách quan của thực trạng.
- Không được tăng cường đội ngũ giảng dạy (chỉ có 02 giáo viên, trong đó
01 là CBQL)
- Trang thiết bị nghe, nhìn phục vụ cho công tác dạy học hầu như không
có.
- Chưa được quan tâm đúng mức của các cơ quan QLGD của Sở GD&ĐT
Vĩnh Phúc.
- Phụ huynh học sinh không ủng hộ việc dạy các môn không bắt buộc để
dành thời gian học các môn học học bắt buộc theo quy định và học thêm, học
chuyên đề.
mới;
- Tạo môi trường thuận lợi cho bài học mới;
- Gây hứng thú cho bài học mới;
- Giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
- Chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;
- Tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
- Tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động giao tiếp kế
tiếp.
Các hình thức và thủ thuật vào bài:
Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tượng học sinh
cụ thể của mình, giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuật vào
bài cho phù hợp.
3.1.1. Tạo môi trường thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:
- Chào hỏi học sinh;
- Tự giới thiệu về mình;
- Hỏi chuyện thông thường tự nhiên;
- Kể chuyện vui
b) Tạo thế chủ động, tự tin cho học sinh:
20

- Thăm hỏi học sinh;
- Tạo cơ hội cho học sinh được giới thiệu/nói về mình, hỏi các câu hỏi đáp
lại
c) ổn định lớp, tập trung sự chú ý, gây hứng thú bằng cách bắt đầu ngay bằng
một hoạt động học tập nào đó liên quan đến bài học, ví dụ:
- A short listening task;
- Observing a picture then ask and answer about the picture;
- A riddle
- A language game (crosswords, noughts and crosses, etc)

- Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới.
- Khai thác các kiến thức có sẵn của học sinh.
- Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa phương hay các tình
huống gần gũi với học sinh và thay thế các tình huống trong sách nếu cần.
Khi tiến hành phần này, cần chú ý một số điểm sau:
- Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
- Cần tạo cơ hội cho học sinh hỏi lại giáo viên hoặc hỏi lẫn nhau để gây
hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh.
- Luôn quan tâm đến tâm lý lứa tuổi và sở thích của học sinh để đưa ra
những thủ thuật phù hợp, ví dụ như kích thích trí tò mò, yêu cầu đoán tranh,
đoán câu trả lời v.v
- Cần chú ý thay đổi hình thức mở bài để gây hứng thú cho học sinh.

Như đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làm
quen và cảm thấy hứng thú với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ôn luyện lại
những kiến thức đã học có liên quan đến bài mới hoặc để giáo viên tạo những
nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động của bài mới. Với ý nghĩa đó, phần
mở bài đôi khi không có ranh giới cụ thể mà luôn được tiến hành phối hợp với
phần giới thiệu ngữ liệu.
3.2. Quy trình dạy Viết theo PPDH tích cực được thực hiện theo 3 bước
sau:
3.2.1. Trước khi viết (Pre-writing)
- Giới thiệu bài viết mẫu (phần a).
- Yêu cầu học sinh đọc kĩ để tìm hiểu cấu trúc của bài viết (lưu ý cách
diễn đạt ngôn ngữ trong văn bản viết).
- GV cần làm rõ nghĩa từ mới và mẫu câu.
3.2.2. Trong khi viết (While-writing)
- GV nêu yêu cầu bài viết (phần b) và có thể cho gợi ý.
- HS thảo luận theo cặp hoặc nhóm, sau đó cá nhân HS tự viết.
- HS cần bám sát bài viết mẫu, các gợi ý để viết theo yêu cầu.

- Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để HS tự rút ra cách sử dụng từ và cấu trúc
câu.
- Giáo viên yêu cầu bài nói.
3.3.2. Luyện nói có kiểm soát (Controlled practice)
- Học sinh dựa vào tình huống gợi ý (qua tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu
cho sẵn hoặc bài hội thoại mẫu) để luyện nói theo yêu cầu.
23

- HS luyện nói theo cá nhân/ cặp /nhóm dưới sự kiểm soát của của GV
(sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ pháp, gợi ý từ …)
- GV gọi cá nhân hoặc cặp HS trình bày (nói lại) phần thực hành nói theo
yêu cầu.
3.3.3. Luyện nói tự do (Free practice/ Production)
- HS nói về kinh nghiệm bản thân, bạn bè, người thân trong gia đình hoặc
về quê hương, đất nước hay địa phương nơI mình ở.
- GV không nên hạn chế về ý tưởng cũng như ngôn ngữ; nên để HS tự do
nói, phát huy khả năng sáng tạo của bản thân.
Để thực hiện mục này giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:
- Cần phối hợp sử dụng thường xuyên các hình thức luyện tập nói theo
cặp (pairs) hoặc theo nhóm (groups) để các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng
Anh trong lớp qua đó các em có thể cảm thấy tự tin và mạnh dạn hơn trong giao
tiếp.
- Cần hướng dẫn cách tiến hành, làm rõ yêu cầu bài tập hoặc gợi ý hay
cung cấp ngữ liệu trước khi cho học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm. Việc
hướng dẫn và gợi ý cho phần luyện nói rất cần sự sáng tạo và thủ thuật phong
phú của giáo viên, không nên chỉ bám sát thuần tuý vào sách.
- Ngữ cảnh cần được giới thiệu rõ ràng. Sử dụng thêm các giáo cụ trực
quan để gợi ý hay tạo tình huống.
- Có thể mở rộng tình huống, khai thác các tình huống có liên quan đến
chính hoàn cảnh của địa phương, khuyến khích liên hệ đến tình hình cụ thể của

nghe hiểu; sắp xếp trật tự nội dung; những bài tập chuyển hoá, bài tập viết theo
mẫu v.v.
c/ Các hoạt động sau khi thực hiện bài:
Các hoạt động sau khi thực hiện bài thường gồm những bài tập ứng dụng
mở rộng dựa trên bài vừa học, thông qua các kỹ năng nói hoặc viết.
d/ Ba bước luyện đọc hiểu:
3.4.1. Trước khi đọc (Pre-reading):
Các hoạt động trước khi đọc gồm những hoạt động nhằm đạt được những mục đích
sau:
- Gây hứng thú;
- Giới thiệu ngữ cảnh, chủ đề;
- Tạo nhu cầu , mục đích đọc;
- Đoán trước nội dung bài đọc;
- Nêu những điều muốn biết về nội dung sắp đọc;
- Giới thiệu trước từ vựng, ngữ pháp mới giúp cho học sinh hiểu được bài đọc;
3.4.2. Trong khi đọc (While-reading):
Các hoạt động luyện tập trong khi đọc nhằm giúp học sinh hiểu bài đọc.
Tuỳ theo mục đích nội dung của từng bài đọc, sẽ có những dạng câu hỏi và bài
tập khác nhau. Những dạng bài tập phổ biến gồm:
25

- Check/tick the correct answers;
- True/ false
- Complete the sentences;
- Fill in the chart;
- Make a list of
- Matching;
- Answer the questions on the text;
- What does mean?
- What does stand for/ refer to?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status