tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều” - Pdf 24


1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hóa với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành nước công nghiệp và hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế là con người, nguồn lực người Việt Nam được phát
triển trên cơ sở mặt bằng dân trí cao.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế,
đòi hỏi chúng ta phải đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết Đại hội Đảng X đã chỉ rõ về giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo
của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều”.
Hiện nay, chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục và đánh giá chất
lượng giáo dục.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK
giáo dục phổ thông là tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Thực
hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ
chức và hướng dẫn của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo,
góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học; rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Ở trường THPT, môn hóa học có vị trí, vai trò rất quan trọng. Nó cung
cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về các chất, sự
biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và
con người. Những tri thức này, giúp học sinh có nhận thức khoa học về thế

môn thi theo hình thức trắc nghiệm và nhất là môn hóa học cần phải quan
tâm.
Xuất phát từ những vấn đề trên trong quá trình giảng dạy bộ môn hóa
học tại trường THPT Triệu sơn 2 tôi luôn trăn trở, tìm tòi, vận dụng các
phương pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy. Vì vậy trong khuôn khổ bài
viết này, tôi xin đưa ra một kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong giảng dạy là
“Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập
hóa học dạng kim loại phản ứng với dung dịch axit” .
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

3

- Củng cố phương pháp giải bài tập hay. Rèn luyện khả năng tư duy
thông minh, tích cực sáng tạo nhằm tạo hứng thú học tập bộ môn hoá học của
học sinh THPT.
- Nghiên cứu xây dựng và sưu tập một số bài toán hướng dẫn học sinh
thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập hóa học dạng kim loại phản
ứng với dung dịch axit”.
III. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc giải bài tập
hoá học.
- Sưu tập và xây dựng một số bài toán hoá học dạng kim loại phản ứng với
dung dịch axit để rèn luyện trí thông minh cho học sinh THPT.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm trong quá trình
dạy học trên lớp và hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà. Nghiên cứu lí
thuyết dựa vào: sách giáo khoa, sách bài tập hóa học phổ thông, các nội dung
lí thuyết và bài tập hóa học, định luật bảo toàn elctron, bảo toàn nguyên tố,
bảo toàn khối lượng làm cơ sở.

Bài tập hóa học có thể hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất.
Khi ôn tập học sinh sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức.
Thực tế cho thấy học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập.
Bài tập hóa học ở trường THPT rất đa dạng và phong phú cả nội dung và
thể loại. Trong kỳ thi học sinh giỏi, thi đại học, cao đẳng ta thường gặp các
bài tập có nội dung kiến thức được nâng cao mở rộng và đào sâu nội dung
kiến thức chương trình và SGK.
Để giải được những bài tập được nâng cao mở rộng, đào sâu, có tính
chất tổng hợp kiến thức đòi hỏi học sinh phải nắm vững, chắc kiến thức trong
chương trình hóa học phổ thông, phải được nâng cao, mở rộng, đào sâu kiến
thức theo từng nội dung của chương trình. Cùng với việc nâng cao mở rộng
và đào sâu kiến thức hóa học, học sinh phải được rèn luyện các năng lực như
phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực suy luận; năng lực tổng hợp kiến
thức; năng lực tự học, tự đọc, tự tìm tòi; độc lập suy nghĩ và linh hoạt sáng tạo
trong học tập.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong chương trình môn hóa học ở trường phổ thông các dạng bài tập
rất phong phú và đa dạng, một trong các dạng phổ biến điển hình là bài toán
của kim loại tác dụng với axit. Mỗi dạng bài tập thường gắn với nhiều phương
pháp giải khác nhau ngoài cách giải thông thường còn có các cách giải
nhanh hơn. Đặc biệt khi vận dụng công thức giải nhanh bài toán hóa học để
đến đích sớm nhất và điều này rất có ý nghĩa với học sinh lớp 12 trong hình
thức thi trắc nghiệm hiện nay.

5

Nhưng vận dụng nó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong quá
trình dạy học? Trong quá trình nghiên cứu tôi tìm câu trả lời cho các vấn đề
sau:
Thứ nhất: Bài tập kim loại tác dụng với dung dịch axit có thể phân thành


6

những dạng bài tập nào? Do đó, các em thường lờ đi các công thức tính nhanh
và giải theo các cách giải thông thường.
Từ thực trạng trên, tôi luôn trăn trở, băn khoăn là làm thể nào để học sinh
biết, hiểu, nhớ, thiết lập và vận dụng được công thức tính nhanh vào giải bài
tập hoá học nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học.
Trong quá trình giảng dạy tôi đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm
cho mình, giúp học sinh giải quyết nhanh những bài tập kim loại tác dụng với
dung dịch axit và tạo sự tự tin cho học sinh trước khi bước vào các kì thi. Tôi
đã áp dụng và thấy có những hiệu quả nhất định nên mạnh dạn viết ra đề tài
“ Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập
hóa học dạng kim loại phản ứng với dung dịch axit”, chia sẻ cùng với quý
đồng nghiệp cùng tham khảo và có ý kiến góp ý xây dựng giúp tôi hoàn thiện
hơn trong công tác giảng dạy.
2. Kết quả của thưc trạng
Từ thực trạng nêu trên trong những năm giảng dạy tôi nhận thấy tỉ lệ học
sinh yếu môn Hóa học ở các khối lớp vẫn chiếm từ 3,0 - 8,0 % / năm, chất
lượng học sinh khá, giỏi của bộ môn chỉ đạt: 3%-5% /năm như vậy với kết
quả nêu trên thì việc áp dụng các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học là
rất cần thiết trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
Thực nghiệm sư phạm đã được thực hiện ở hai lớp 12B2 và 12B4, đều ban
tự nhiên – trường THPT Triệu Sơn 2, năm học 2011 – 2012. Lớp 12B2 là
lớp thực nghiệm, lớp 12B4 là lớp đối chứng. Sử dụng phương pháp thống kê
kết quả, tôi thấy lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp
đối chứng.
Năm học 2012 – 2013, tôi tiếp tục thử nghiệm đề tài trên hai lớp 12C6 và
12C9, đều ban cơ bản – trường THPT Triệu Sơn 2. Lớp 12C6 là lớp thực
nghiệm, lớp 12C9 là lớp đối chứng. Học sinh tại hai lớp 12C6 và 12C9 được

Để đảm bảo tính khách quan thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân
theo kế hoạch dạy học, thời khoá biểu của nhà trường và PPCT của Bộ GD &
ĐT. Cụ thể trong Chương đại cương của kim loại, khi hướng dẫn học sinh làm
bài tập về kim loại tác dụng với axit, tại lớp đối chứng, GV dạy HS giải bài
theo cách thông thường (lập tỉ lệ số mol → chia trường hợp → viết phương
trình phản ứng xảy ra → dựa vào phương trình để tính kết quả); Tại lớp thực
nghiệm, giáo viên hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính
nhanh dạng bài tập kim loại tác dụng với dung axit (hướng dẫn thiết lập
công thức tính nhanh, bài tập ví dụ vận dụng công thức tính nhanh, bài tập
học sinh tự giải).
1. Thiết lập các công thức tính toán
Từ những cơ sở lý thuyết, sự kết hợp giữa các phương pháp (phương
pháp bảo toàn electron; bảo toàn nguyên tố; bảo toàn khối lượng), tôi đã
hướng dấn học sinh lớp thực nghiệm tiến hành thiết lập các công thức tính
toán cho các dạng axit.
a. Dạng 1: Dạng axit chỉ có tính axit

8→
+
AxitKL
Muối + H
2
(Thường gặp: HCl, H
2
SO
4
loãng )

H H
n n
<

= >
2
. 2
kl H
a n n
=
(1)
Trong đó : a là hóa trị của kim loại
n
kl
là số mol kim loại phản ứng
• Tính số mol axit phản ứng
Cho kim loại M tác dụng với axit H
b
A và giải phóng khí H
2
Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố ta có:
H
b
A
2
2
H
n
b


2
2
.
m u o i k l H A
m m n M
b
= +
(3)

Trong đó: M
A
là khối lượng mol của gốc axit
Chú ý: Đối với phương pháp này không chỉ giới hạn ở dạng kim loại phản
ứng với axit mà có thể mở rộng cho dạng:
KL + dung dịch / H
2
O > H
2
.

9

Cũng sử dụng công thức
2
. 2
kl H
a n n
=

Hay dạng kim loại phản ưng với halogen:

;;;; NHNONNONO

Sơ đồ phản ứng 2:

KL + H
2
SO
4


Muối sunfat + SP khử X + H
2
O
Trong đó: Sản phẩm khử có thể là:
SHSSO
22
;;

• Tính số mol kim loại phản ứng ( hoặc số mol sản phẩm khử)
Cho kim loại M phản ứng với dung dịch axit (HNO
3
; H
2
SO
4
đặc nóng) thu
được muối và sản phẩm khử X( X có thể là: NO
2
; NO; N
2

+5
/S
+6
+ c.e. X
c.n
x
n
X

=>
. .
k l X
a n c n
=
(5)
Trong đó: n
X
số mol của sản phẩm khử
• Tính số mol gốc axit trong muối
M + H
b
A > M
b
A
a
+ X(sản phẩm khử) + H
2
O
Gọi b là hóa trị của gốc axit H
b

⇒ = =

Vậy :
A X
c
n n
b
=
(6)

Trong đó: n
A
số mol gốc axit trong muối
• Tính số mol axit phản ứng
Ta có:
Số mol axit phản ứng = số mol gốc axit trong muối + tổng số mol
nguyên tố phi kim trong sản phẩm khử
TH: X chứa một nguyên tố phi kim ( X có thể là: NO
2
; NO; SO
2
; S; H
2
S). ax
itpu X X X
c c b
n n n n

Giải:

Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt số mol Al là x mol, Mg là ymol.
Pư: 2Al + 6HCl → 2AlCl
3
+ 3H
2
Mg + 2HCl → MgCl
2
+ H
2

Ta có: n
2
H
= 0,075 mol => 1,5x + y = 0,075 (1)
Khối lượng hỗn hợp: 27x + 24y = 0,855 (2)
Xaxitpu
n
b
bc
n
2
+
=11



Ví dụ 2. Cho 11,9 gam hỗn hợp gồm Zn, Al tan hoàn toàn trong dung dịch
H
2
SO
4
loãng dư thấy có 8,96 lit khí (đkc) thoát ra. Khối lượng hỗn hợp muối
sunfat khan thu được là:
Giải:

Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt số mol Al là x mol, Zn là ymol.
Pư: 2Al + 3H
2
SO
4
→ Al
2
(SO
4
)
3
+ 3H
2
Zn + H
2
SO
4
→ ZnSO
4

2
muoi kl H A
m m n M gam
b
= + = + =

Ví dụ 3. Cho 1,67 gam hỗn hợp gồm hai kim loại ở 2 chu kỳ liên tiếp thuộc
nhóm IIA tác dụng hết với dung dịch HCl (dư), thoát ra 0,672 lít khí H
2
(ở
đktc). Hai kim loại đó là (Mg= 24, Ca= 40, Sr= 87, Ba = 137)
Giải:

12


Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt công thức TB của hai kim loại là
M

Pư:
M
+ 2HCl →
M
Cl
2
+ H
2

Ta có: n

Ta dùng công thức :
2
. 2
kl H
a n n
=
=> n
hhkl
= 0,03 mol
=>
M
=
03,0
67,1
=55,67. đk M
A
<
M
<M
B
, A, B ở hai chu kỳ liên tiếp
nhóm II
A
=> M
A
=40 (Ca); M
B
=87 (Sr)

Nhận xét: Với 2 cách giải trên trong 3 ví dụ đều đưa đến một kết quả

SO
4
loãng thấy có V
lít khí (đktc) bay ra. Giá trị của V là
Giải:
Áp dụng công thức tính nhanh có thể giải nhanh bài toán như sau:
Ta dùng công thức :
2
. 2
kl H
a n n
=

n
Al
= 0,2 mol => 3.0,2 = 2. n
H
2
=> n
H
2
= 0,3 mol
=> V = 0,3.22,4 = 6,72 lit

13

b. Dạng 2: Dạng axit có tính oxi hóa mạnh ( HNO
3
; H
2

. 3 2 .
0 , 6
M a a
= =

=> a = 2, M = 64 , M là Cu

Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
Ta dùng công thức : a.n
lk
= c.n
X

n
NO
= 0,2 mol

a. n
kl
= 3. 0,2 => n
kl
= 0,6/a mol
=>
1 9 , 2
. 3 2 .
0 , 6
M a a
= =

=> a = 2, M = 64 , M là Cu

3 Zn +8 HNO
3
→ 3Zn(NO
3
)
2
+ 2NO +4H
2
O (2)
Mg +4HNO
3
→ Mg(NO
3
)
2
+ 2NO
2
+ 2H
2
O (3)
Zn +4 HNO
3
→ Zn(NO
3
)
2
+ 2NO
2
+2H
2

=0,1 => z + t = 0,05 (2)
a + b = n
SO
2
=0,1 (3)
24( x+z+ a) + 65(y+ t + b) = 12,9 (4)

14

Khối lượng của muối:
m
muoi
= m
Mg(NO
3
)
2
+ m
MgSO
4
+ m
Zn(NO
3
)
2
+ m
ZnSO
4
m gam
= + × + × + × × =

Ví dụ 3. Hoà tan hoàn toàn hỗn hợp A gồm Fe, Al, Cu trong 100 ml dung
dịch HNO
3
(vừa đủ), thu được 0,015 mol NO, 0,005 mol N
2
O và dung dịch D.
Tính nồng độ mol/lít của dung dịch HNO
3
.
Giải:

Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Pư: Al +4 HNO
3
→ Al(NO
3
)
3
+ NO +2H
2
O (1)
Fe+4 HNO
3
→ Fe(NO
3
)
3

2
O +15H
2
O (5)
4Cu +10HNO
3
→ 4Cu(NO
3
)
2
+ N
2
O + 5H
2
O (6)
Đặt số mol của khí NO, N
2
O trong pư 1, 2, 3, 4,5 6 lần lượt là x, y,z,a, b, c .
Ta có các pt: x+ y + z =n
NO
= 0,015 (1)
a + b+ c = n
N
2
O
=0,005 (2)
Theo ptpư ta có:
n
HNO
3

Xaxitpu
n
b
bc
n
2+
=

3 2
3
1 2
. 2 .
3 1 4 1
.0 , 0 1 5 2 . 0 , 0 0 5 0 , 1 1
1 1
H N O N O N O
H N O
c b c b
n n n
b b
n m o l
+ +
= +
+ +
⇒ = + =

3
3
3
0,11

2
= 2. x
Phần 2: ta có a.n
kl
= c.n
x
= 8.y
=> do cung khối lượng của 1 kim loại hóa trị không đổi nên:
2.x = 8.y => x = 4y
Ví dụ 5. : Hoà tan m gam Al vào dung dịch HNO
3
rất loãng chỉ thu được hỗn
hợp khí gồm 0,015 mol N
2
O và 0,01 mol NO. Giá trị của m là
Giải:
Ta dùng công thức : a.n
lk
= c.n
X


3.n
Al
= 8.0,015 + 3.0,01 => n
Al
= 0,05 mol
=> m
Al
= 0,05 .27 = 1,35 gam

đặc, nóng (dư), sinh ra V lít khí
SO
2

(sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là
A. 4,48. B. 6,72. C. 3,36. D. 2,24.
Câu 6. Hoà tan m gam Al bằng dung dịch HCl (dư), thu được 3,36 lít H
2

(ở
đktc). Giá trị của m là
A. 4,05. B. 2,70. C. 5,40. D. 1,35.
Câu 7. Hoà tan 5,6 gam Fe bằng dung dịch HNO
3

loãng (dư), sinh ra V lít khí
NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là
A. 6,72. B. 4,48. C. 2,24. D. 3,36.
Câu 8. Cho 10 gam hỗn hợp gồm Fe và Cu tác dụng với dung dịch H2SO4
loãng (dư). Sau phản ứng thu được 2,24 lít khí hiđro (đktc), dung dịch X và m
gam chất rắn không tan. Giá trị của m là (Cho H = 1, Fe = 56, Cu = 64)
A. 6,4 gam. B. 3,4 gam. C. 5,6 gam. D. 4,4 gam.
Câu 9. Cho 20 gam hỗn hợp bột Mg và Fe tác dụng hết với dung dịch HCl
thấy có 1 gam khí H
2
bay ra. Lượng muối clorua tạo ra trong dung dịch là bao
nhiêu gam ?
A. 40,5g. B. 45,5g. C. 55,5g. D. 60,5g.
Câu 10. Cho m gam hỗn hợp X gồm Al, Cu vào dung dịch HCl (dư), sau khi
kết thúc phản ứng sinh ra 3,36 lít khí (ở đktc). Nếu cho m gam hỗn hợp X trên

khử duy nhất) thoát ra là:
A. 4,48 lít. B. 6,72 lít. C. 2,24 lít. D. 3,36 lít.
Câu 15. Cho 1,86 gam hỗn hợp Al và Mg tác dụng với dung dịch HNO
3

loãng dư thì thu được 560 ml lít khí N
2
O (đktc, sản phẩm khử duy nhất) bay
ra. Khối lượng (gam) muối nitrat tạo ra trong dung dịch là:
A. 40,5 B. 14,62 C. 24,16 . D. 14,26
Đáp án
Câu

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
B C D B D B C D C D B C B A D

IV. KIỂM NGHIỆM
1. Năm học 2011 – 2012
Kết quả thống kê điểm kiểm tại 2 lớp 12B2(lớp thực nghiệm) và 12B4
(lớp đối chứng), hai lớp đều thuộc ban tự nhiên cho kết quả như sau:
Thống kê điểm kiểm tra trước tác động với ban học tự nhiên
0 → < 3

3 → < 5 5 → < 7 7 → < 9 9 → 10
Lớp

số
SL

% SL

5,54
12B4

48
0
0%

8
16,7%

26

54,2%

12

25,0%

2
4,1%

5,68

18

Độ chênh lệch kết quả ở 2 lớp không cao, độ chênh lệch điểm trung
bình trước tác động là 5,68 – 5,54 = 0,14. Kết quả thu được của hai lớp gần
như tương đương. Nhưng kết quả cao hơn nghiêng về phía lớp đối chứng.
Thống kê điểm kiểm tra sau tác động với ban học tự nhiên
0 → < 3

25

54,3%

5
10,9%

7,8
12B
4
48
0
0%

5
10,4%

28

58,3%

13

27,1%

2
4,2%
6,4
Bài kiểm tra sau tác động của 2 lớp 12B2 và 12B4: Điểm trung bình chênh
lệch nhau nhiều, độ chênh lệch là 7,8 – 6,4 = 1,4. Kết quả cao nghiêng về phía

4,1%

8
16,3%

31

63,3%

7
14,3%

1
2,0%

4,9
12C9

47
1
2,1%

6
12,8%

32

68,1%

8

49
0
0%
4
8,2%
32

65,3%

11

22,4%

2
4,1%
6,6
12C9

47
0
0%
5
10,6%

33

70,2%

7
15,0%


20

C. KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy hướng dẫn học sinh thiết lập
và vận dụng công thức tinh nhanh đã nâng cao được chất lượng dạy học, tạo
hứng thú học tập cho học sinh, pháp huy được tính tích cực chủ động của học
sinh đồng thời tăng cường và rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh.
Đặc biệt khi vận dụng công thức tính nhanh học sinh tìm được kết quả
nhanh và chính xác trong thời gian ngắn, rất phù hợp với hình thức thi trắc
nghiệm khách quan. Mặt khác, việc thiết lập và vận dụng công thức giải
nhanh áp dụng được cho rất nhiều dạng bài tập khác nhau, cho nhiều đối
tượng học sinh khác nhau (Giỏi, Khá, TB và yếu), giúp các em hiểu, vận dụng
và khắc sâu được những kiến thức đã học, yêu thích môn học.
II. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT

Qua thực tế giảng dạy và đúc rút kinh nghiệm bước đầu, tôi có một vài

A. ĐẶT VẤN ĐỀ 01

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 01
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 02
III. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 03
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 03

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 04
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 05
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 06
IV. KIỂM NGHIỆM 17

C. KẾT LUẬN

I. KẾT LUẬN 20
II. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 20
3SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH THIẾT LẬP VÀ VẬN DỤNG
CÔNG THỨC TÍNH NHANH BÀI TẬP HÓA HỌC DẠNG
KIM LOẠI PHẢN ỨNG VỚI DUNG DỊCH AXIT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status