SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VĂN
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI HỌC -
TRƯỜNG THCS NGUYÊN LÝ
Phần một: đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
a, Cơ sở lý luận
Nghị quyết trung ương IV về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo
đã chỉ rõ " Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả câc cấp học, các bậc học cần áp
dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực và
tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, phải thường xuyên khơi dạy, rèn luyện
và phát triển năng lực tự học, tự nghiện cứu năng lực nghĩa và làm một cách tự chủ.
Năng lực tự đặt và giải quyết vấn đề ngay trong quá trình học tập ở nhà trường đi đôi
với vai trò mới của thầy là người hướng dẫn cho người học biết tự mình tìm kiến
thức, xử lí những tình huống, biết làm việc cá nhân, với bạn với thầy, với tập thể,
biết chuyển quá trình đào tạo của mình, là người trọng tài đánh giá, kết quả học tập,
là người cố vấn giúp người học tự đánh giá, tự điều chỉnh theo yêu cầu của mục tiêu
người học.
Thực tế của quá trình dạy và học trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay
đòi hỏi người dạy nói chung và dạy Văn nói riêng cần phải có những đổi mới về mặt
phương pháp dạy học sao cho phù hợp với yêu cầu lấy học sinh làm trung tâm. Do
- Việc chuẩn bị bài của giáo viên và học sinh
- Cách tiến hành thảo luận nhóm
- Cách giới thiệu bài trong Đọc - hiểu văn bản
- Cách dạy truyện kí
Phần hai: Giải quyết vấn đề:
A Quá trình nghiên cứu:
I. Việc triển khai thực hiện chương trình và sách giáo khoa:
.Ưu điểm:
- Thực chất đổi mới PPDH là đổi mới về quan niệm dạy học toàn diện,từ chỗ
thày dạy thụ động đến chỗ trò chủ động tích cực, từ chỗ thày độc thoại đến chỗ thầy
trò đối thoại, trò - trò đối thoại, từ chỗ thầy áp đặt cho học sinh đến chỗ học theo nhu
cầu, từ chỗ chỉ tập trung vào giáo viên đến chỗ chỗ tập trung vào học sinh, từ chỗ tập
trung vào nội dung đến quá trình nhận thức, từ chỗ dạy đến chỗ học, từ chỗ kiến
thức của thày đến cách học của trò.
- Sách giáo khoa viết theo lối đồng tâm, tích hợp và lối mở nên mục tiêu của
người học là: Học để biết, học để làm, học để tồn tại và chung sống với mọi người.
Vì vậy, mà qua các bài học, H/s đã biết hành động, biết thích ứng, biết giao tiếp ứng
xử, biết tự khẳng định mình.
- Phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học dưới sự hướng
dẫn của giáo viên. Đồng thời đã đổi mới được PP theo hướng tăng cường sự tương
tác giữa thày và trò; trò - trò; trò - thầy; thầy,trò - tài liệu và ngược lại.
- Đổi mới việc lựa chọn hệ thống văn bản rút ngắn hơn so với CT cũ, có nhiều
văn bản mới được đưa vào ở các lĩnh vực khác nhau, học theo từng cụm bài, số
lượng bài ôn tập tăng, số lượng bài chương trình địa phương có ở cả 3 phân môn.
Đặc biệt, các bài tổng kết, ôn tập ở lớp 9 giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức toàn
cấp.
- Bám sát vào tiến trình lịch sử VH để lựa chọn các tác phẩm tiêu biểu cho các
thể loại của mỗi giai đoạn văn học. Lấy VHVN làm trục chính và bổ xung các tác
nội dung bài học, yêu cầu cần đạt của bài học để có được một quy trình soạn bài với
các bước hợp lý, nhằm định ra các hoạt động và dự kiến thực hiện các hoạt động đó.
- Trước hết là xác định mục tiêu của bài học: Từ trước chúng ta vẫn quan
niệm đó là mục tiêu của thầy nhưng không đó còn phải là mục tiêu của trò.
+ Mục tiêu cần xác định cụ thể, rõ ràng thì giáo viên mới dễ dàng hình dung
ra các hoạt động của giáo viên và học sinh.
+ Cụ thể hóa mục tiêu dưới dạng các động từ như hiểu, phân tích, cảm nhận,
rèn luyện
VD: Sau bài học , học sinh hiểu rõ được sức mạnh của tình yêu thương con
người, hiểu được đặc sắc nghệ thuật của văn bản, rèn các kĩ năng đọc, kể chuyện
diễn cảm, phân tích các nhân vật và tình huống truyện.
Xác định các kiến thức trọng tâm, mối liên hệ giữa các kiến thức, những vấn
đề khó cần giải quyết, yếu tố tích hợp (Hoặc có cần tích hợp hay không, tích hợp
ngang hay tích hợp dọc, tích hợp với môn học nào khác ). Đồng thời còn phải xác
định phương tiện dạy học cần thiết, các phương tiện dạy học đó làm thế nào cho
khoa học.
Trên cơ sở những kiến thức trọng tâm cùng với mục tiêu của bài học và các
ĐDDH có được, giáo viên xem xét cân nhắc các nội dung, các hoạt động có thể tổ
chức cho học sinh làm việc dưới hình thức nào để tự phát hiện và lĩnh hội kiến thức
mới.
VD: Khi dạy bài ''Sang thu'' ở lớp 9
Khổ 3: Những biến chuyển trong lòng cảnh vật
Giáo viên cần định hướng ở mục này nên cho h/s thảo luận nhóm. Giáo viên
cần dự kiến nội dung cụ thể cho học sinh tự tìm tòi và đi đến nhận thức kiến thức
mới.
Hay trong mục 2 của bài ''Kiều ở lầu Ngưng bích'' SGK lớp 9. Giáo viên có
thể cho h/s tự tìm hiểu nỗi lòng thương nhớ của Kiều từ đó cảm nhận được tấm lòng
thủy chung, hiếu thảo, vị tha của nàng. Sở dĩ tôi chọn mục này cho học sinh làm việc
vì đây là kiến thức trọng tâm của bài là kiến thức mà sau bài học h/s phải cảm nhận
được. Mặt khác, kiến thức này lại liên quan đến yếu tố miêu tả nội tâm trong văn bản
Để trả lời được câu hỏi này, giáo viên gợi ý học sinh vận dụng kiến thức địa lý
để giải thích.
Giáo viên cũng cần hình dung ra những khó khăn vướng mắc mà học sinh
mình sẽ gặp phải khi tự lực tiếp cận tri thức mới và dự kiến giải đáp cho các em.
+ Dự kiến hình thức tổ chức và thời gian làm việc cho học sinh. Những vấn
đề, bài tập hoặc câu hỏi dễ và đơn giản, giáo viên nên tổ chức cho học sinh làm việc
cá nhân, trong khoảng thời gian là hai phút rồi tổ chức cho các em báo cáo kết quả
làm việc, bổ sung ý kiến cho nhau theo hình thức học tập cả lớp.
Với những vấn đề những bài tập tương đối khó và phức tạp, h/s cần phải liên
hệ kiến thức đã học, vốn hiểu biết, suy nghĩ, tranh luận mới có thể tìm ra kết luận
đúng, giáo viên nên tổ chức cho h/s làm việc theo nhóm.
Như ở VD trên, giáo viên cần tổ chức cho h/s:
?Tìm và chỉ ra yếu tố nghị luận trong hai đoạn trích: H/s làm việc cá nhân
? Vai trò của yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự: H/s làm việc theo nhóm.
- Lập kế hoạch chi tiết về hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình
dạy học trên lớp theo tinh thần ''Thầy là người hướng dẫn, trò hoạt động''.
Cụ thể: Hoạt động 1: Chuẩn bị vào bài mới: Học sinh nhắc lại kiến thức cũ có
liên quanđến nội dung bài mới, giáo viên tóm tắt các ý chính sau khi h/s phát biểu và
dẫn dắt học sinh vào bài mới.
Hoạt động 2: Cả lớp cùng làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tìm ra
kiến thức qua hệ thống câu hỏi theo trình tự: Câu hỏi nhận biết -> Câu hỏi phân tích,
giải thích -> Câu hỏi tổng kết, bình.
Tóm lại: Công việc chuẩn bị của giáo viên được thực hiện trong giáo án có 3
phần mà mọi đồng nghiệp đã tiến hành:
- Mục tiêu bài học: Hoạt động học sinh cần thực hiện và kiến thức kỹ năng h/s
có thể đạt được sau bài học.
- Phương tiện dạy học trong đó có sách giáo khoa.
- Hoạt động trên lớp của giáo viên và học sinh.
Vì một tiết học chỉ giới hạn trong 45 phút nên chỉ chọn 1 hoặc 2 vấn đề cho
học sinh tự làm việc, còn các nội dung khác giáo viên vẫn tiến hành dạy học theo các
nên nhanh chóng làm cho học sinh nhận thức được sự không đúng của thông tin đó
mà không làm ảnh hưởng đến cảm xúc, lòng tự trọng của học sinh.
+ Khi học sinh trình bày, giáo viên phải nghe cẩn thận những điều học sinh
nói để hiểu các em định nói gì hoặc ghi chép nhanh lại những điểm cơ bản của mỗi ý
kiến để chuẩn xác kiến thức.
+ Khi thảo luận giáo viên phải biết khi nào kết thúc thảo luận sau khi phần lớn
h/s đã trao đổi ý kiến. Giáo viên thông báo cho học sinh việc kết thúc thảo luận bằng
câu hỏi: Còn có ý kiến nào khác không trước khi chúng ta cùng thống nhất ý kiến
này? Để cho những học sinh chưa bao giờ được nói biết rằng mình cần được nói
ngay lúc đó.
- Sau khi thảo luận:
+ Giáo viên phải tổng kết những ý kiến phát biểu thống nhất và chưa thống
nhất để mình tham gia vào những ý kiến chưa thống nhất và bổ xung thêm những ý
cần thiết. Những ý kiến chưa thống nhất có thể sắp xếp cho học sinh thảo luận vào
lúc khác(tiết ôn tập).
+ Đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần, thái độ làm việc của học
sinh để thưởng điểm hoặc trừ điểm cho cá nhân của nhóm.
3. Thấy được vai trò của việc giới thiệu bài mới trong tiết học
Giới thiệu bài là giới thiệu tri thức mới mà học sinh đang khát vọng. Đối với
giờ giảng văn thì những phút vào bài rất quan trọng, nó thu hút học sinh ngay vào
công việc. Trong thực tế hiện nay, trong giờ dạy văn có giáo viên không giới thiệu
bài mới, có giáo viên sau khi kiểm tra miệng viết ngay lên bảng tên bài học mới. Có
giáo viên giới thiệu bài một cách tùy tiện.
Có nhiều cách giới thiệu bài mới nhằm khơi gợi, cuốn hút học sinh, kích thích
năng lực tư duy, năng lực phán đoán của học sinh. Với những cách giới thiệu bài tôi
đã và đang áp dụng, xin trình bày để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo và trao
đổi:
Cách 1: Đưa bài mới vào hệ thống kiến thức cũ.
Cách giới thiệu này khắc sâu được kiến thức cơ bản, giúp học sinh dễ ôn, dễ
nhớ, phát triển tư duy lôgic, có khả năng hệ thống hóa kiến thức.
Con người Việt Nam bé nhỏ nhưng đã đánh thắng đế quốc Mĩ khổng lồ. Sức
mạnh vô địch ấy của dân tộc ta đã có truyền thống từ khi Thánh Gióng ra đời. Hôm
nay, chúng ta trở về dĩ vãng để xem Thánh Gióng của chúng ta đánh thắng giặc Ân
như thế nào?
Cách 5: Tạo nên mâu thuẫn giữa vốn hiểu biết và khả năng giải quyết
vấn đề của cuộc sống.
Nhờ văn học, các em hiểu và thực hiện được mối quan hệ giữa con người và
xã hội, giữa con người và thiên nhiên. Bởi vậy, giới thiệu bài mới theo hướng này
vừa kích thích được hoạt động ý chí vừa hình thành quan điểm thực tiễn cho học
sinh.
VD: Với văn bản'' Thông tin về trái đất năm 2000'' Ngữ văn 8, tôi giới thiệu:
Hôm nay, trong tiết học này cô trò chúng ta sẽ biết vấn đề gì cần phải giải
quyêt giữa con người và môi trường.
Như vậy, có nhiều cách giới thiệu bài để gây hứng thú cho học sinh. Giáo viên
không được bỏ qua hoặc làm tùy tiện phần này.
4.Hướng dẫn quá trình tự học cho học sinh
Để một giờ học trên lớp thành công thì cần thực hiện tốt công việc chuẩn bị
bài. Công việc này cần cả hai đối tượng: Thày và trò cùng tham gia.
Với học sinh, giáo viên phải cung cấp cho học sinh cách chuẩn bị bài theo một dàn ý
bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Đọc kỹ phần kết quả cần đạt và phần ghi nhớ,
- Đọc kỹ văn bản nhiều lần(có thể là đọc thầm, đọc to hoặc đọc diễn cảm).
Đối với thơ ckhi đọc cần chú ý tới nhịp thơ,
- Tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời của văn bản,
- Tìm hiểu chú thích(xem các chú thích đó có từ Hán Việt không, có từ địa
phương không, có thành ngữ, điển tích, điển cố không ) để rút ra đặc sắc nghệ thuật
của văn bản,
- Tóm tắt văn bản(nếu là truyện) học thuộc lòng trước(nếu là thơ),
- Phân đoạn văn bản,
Tìm chủ đề văn bản,
III. Kết quả thu được qua áp dụng sáng kiến so với yêu cầu đặt ra và so với
năm học chưa áp dụng sáng kiến.
Sau một thời gia áp dụng những kinh nghiệm trên, tôi thấy chất lượng giờ dạy
tăng lên rõ rệt. Thày trò phối hợp nhịp nhàng trong giờ học.
Về phía giáo viên: Hoàn toàn chủ động trong giờ học, không phải nói nhiều
trong tiết học.
Về phía học sinh: Các em hứng thú với môn học, say mê khám phá kiến
thức.Số học sinh đạt yêu cầu môn học ngày càng tăng.
Qua khảo sát chất lượng 3 năm học, tôi có kết quả cụ thể sau:
Năm học 2003-2004 2004-2005 2005-2006
Số học sinh được khảo sát 20 20 20
Số học sinh đạt yêu cầu 10 11 10
Số học sinh đạt khá 2 5 6
Số học sinh đạt giỏi 1 2 3
Qua bảng thống kê trên tôi thấy việc áp dụng những kinh nghiệm dạy học theo
quan điểm tích cực, tích hợp là hết sức cần thiết.
B. Kết luận đề tài:
Trong nỗ lực tìm kiếm một phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu của
việc đổi mới công tác dạy và học thì dạy học theo sáng kiến là một việc làm tất yếu
để đáp ứng tốt những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người
học làm trung tâm.
Dạy học theo xu hướng sáng kiến không chỉ nâng cao khả năng tư duy độc
lập, tăng cường khả năng sáng tạo trong học tập, kích thích lòng ham muốn, tìm tòi
khám phá những kiến thức mới của học sinh mà còn góp phần làm hoàn thiện khả
năng chuyên môn và kỹ năng sư phạm của giáo viên trong quá trình chuẩn bị và