Đổi mới phương pháp dạy học môn kinh tế chínhtrị theo hướng phát huy tính tích cực ,sáng tạo của người học ở các trường, - Pdf 32

1

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học vinh
====== ======

Nguyễn thị huynh

Đổi mới phơng pháp dạy học môn kinh tế chính trị theo hớng
phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học ở các
trờng, lớp trung cấp kinh tế
(Qua khảo sát tại trờng Cao đẳng GTVT Miền Trung )

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Chuyên ngành: LL & PP giảng dạy chính trị
Mã số : 60.14.11

Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Học viên : Nguyễn thị huynh


2

Vinh - 2008

mở đầu
1. tính cấp thiết của đề tài

Phơng pháp dạy học (PPDH) là một trong những nhân tố quan trọng hàng
đầu, trực tiếp quyết định chất lợng giáo dục - đào tạo. Thế nhng, sử dụng PPDH
nào để nâng cao chất lợng, hiệu quả giáo dục - đào tạo là một trong những vấn

Trong những năm qua, việc đổi mới PPDH trong các nhà trờng đã có nhiều
chuyển biến tích cực, từng bớc khắc phục những hạn chế của PPTT, góp phần
quan trọng trong việc nâng cao chất lợng giáo dục. Tuy nhiên, việc đổi mới
PPDH môn KTCT trong trờng, lớp trung cấp kinh tế còn nhiều hạn chế, giáo viên
chủ yếu đang sử dụng PPTT để truyền đạt tri thức, việc đổi mới PPDH để phát
huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh còn rất lúng túng. Mặt khác, về mặt tâm
lý, đa số học sinh cho rằng môn KTCT là môn học phụ, cho nên chủ yếu là học
đối phó, chất lợng dạy học cha tơng xứng với vị trí, vai trò quan trọng của bộ môn.
Vì vậy, việc đổi mới PPDH môn KTCT trong các trờng, lớp trung cấp kinh tế để
nâng cao chất lợng dạy học bộ môn là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Dựa vào lý luận và thực tiễn dạy học hiện nay cùng với những hiểu biết và
kinh nghiệm công tác của bản thân, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Đổi mới
PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học ở
các trờng, lớp trung cấp kinh tế làm đề tài luận văn thạc sĩ để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài Đổi mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng
tạo của ngời học trong các trờng, lớp trung cấp kinh tế đợc nghiên cứu trong
hoàn cảnh toàn ngành đang thực hiện chủ trơng của Đảng về Đổi mới mạnh
mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục các môn khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao chất lợng hiệu quả công tác giảng dạy và
học tập lí luận nhằm góp phần giáo dục đào tạo nguồn nhân lực toàn diện cho
tiến trình hội nhập và thực hiện Quyết định của Thủ Tớng Chính Phủ số
494/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về phê duyệt Đề án: Một số biện pháp nâng cao
chất lợng và hiệu quả giảng dạy, học tập các bộ môn khoa học Mác - Lênin, t t-


4

ởng Hồ Chí Minh trong các trờng Đại học, Cao Đẳng; môn chính trị trong các trờng trung học chuyên nghiệp và dạy nghề [3, 3].
Trớc khi đề tài đợc nghiên cứu thì đã có một số công trình khoa học về đổi

THPT, trong đó có một số bài về kinh tế chính trị. Nxb Giáo dục, năm 2002.
5. Tạ Duy Hùng, Luận văn thạc sĩ với đề tài Sử dụng phơng pháp nêu vấn
đề trong dạy học kinh tế chính trị Mác - Lênin cho sinh viên trờng Cao đẳng
hoá chất đã nêu lên đợc một số biện pháp vận dụng vào dạy học môn KTCT
để phát triển t duy cho sinh viên. Song, trong dạy học, đối với mỗi bài giảng,
tiết giảng không phải chỉ sử dụng PPNVĐ mà còn phải sử dụng nhiều PPDH
khác mới có thể vừa trang bị đầy đủ nội dung kiến thức của môn học vừa rèn
luyện đợc các kỹ năng cho sinh viên.
Ngoài ra, các đề tài luận văn thạc sĩ, các bài báo về PPDH của các môn
khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh đăng trên các tạp chí giáo dục. Nhng, đối với Đổi mới PPDH môn KTCT trong các trờng, lớp trung cấp kinh tế
để phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học thì cha có công trình nào
nghiên cứu. Do vậy, đổi mới nh thế nào? Phơng hớng, giải pháp để đổi mới là
gì? thì cha có một cơ sở lý luận khoa học để giáo viên trung cấp kinh tế có thể áp
dụng vào thực hiện đổi mới PPDH bộ môn. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài "Đổi
mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời
học ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế" là nhằm xây dựng lý luận cho việc đổi
mới PPDH môn KTCT ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

- Mục tiêu: Xây dựng các phơng hớng, giải pháp về đổi mới PPDH môn
KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh ở các trờng, lớp
trung cấp kinh tế nhằm nâng cao chất lợng, hiệu quả dạy học bộ môn, góp phần
nâng cao chất lợng đào tạo của nhà trờng và của ngành giáo dục.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
+/ Nghiên cứu lý luận về PPDH và đổi mới PPDH các môn khoa học Mác
- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh; về chủ trơng phát triển giáo dục - đào tạo của
Đảng và Nhà nớc ta để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.


6

- Về thực tiễn: góp phần nâng cao chất lợng dạy học môn KTCT trung cấp
kinh tế, và để vận dụng vào giảng dạy học phần KTCT cho hệ Cao đẳng vào
năm học 2008 - 2009 và sau này ở trờng Cao đẳng GTVT Miền Trung.


7

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của phơng pháp dạy học và sự cần thiết phải
đổi mới phơng pháp dạy học môn kinh tế chính trị
Chơng 2: Thực trạng dạy học môn kinh tế chính trị ở các trờng, lớp
trung cấp kinh tế
Chơng 3: Phơng hớng, giải pháp đổi mới PPDH môn KTCT theo hớng
phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học


8

Chơng 1
lý luận phơng pháp dạy học và sự cần thiết phải
đổi mới phơng pháp dạy học môn kinh tế chính trị
1.1. Khái niệm phơng pháp, phơng pháp dạy học và các nhân
tố ảnh hởng đến phơng pháp dạy học

1.1.1. Phơng pháp và phơng pháp dạy học
1.1.1.1. Khái niệm phơng pháp
Thuật ngữ phơng pháp đợc bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ "methodos" có

Nh vậy, PPDH bao gồm phơng pháp giảng dạy của giáo viên và phơng pháp
học tập của học sinh, hai phơng pháp hoạt động tác động, chi phối lẫn nhau nhng
hớng tới mục tiêu chung. Trên cơ sở đó, chúng ta hiểu PPDH là tổng hợp những
cách thức hoạt động giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh nhằm thực
hiện các nhiệm vụ dạy học để đạt mục đích giáo dục và đào tạo.
PPDH có những dấu hiệu đặc trng sau:
+/ Phản ánh hình thức vận động của nội dung dạy học.
+/ Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh.
+/ Phản ánh cách thức hoạt động, tơng tác, trao đổi thông tin (truyền đạt,
lĩnh hội) giữa giáo viên và học sinh.
+/ Phản ánh cách thức tổ chức điều khiển, chỉ đạo, tổ chức hoạt động nhận
thức và kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức của học sinh.
Trong thực tiễn dạy học, việc sử dụng phơng pháp phải phụ thuộc vào mục
tiêu, nội dung dạy học, phơng pháp, đối tợng học sinh và điều kiện vật chất của
nhà trờng, và lịch sử phát triển của giáo dục - đào tạo cũng là lịch sử của việc
nghiên cứu, hình thành và phát triển các PPDH khác nhau.
1.1.2. Phơng pháp dạy học truyền thống và PPDH tích cực
1.1.2.1. Phơng pháp dạy học truyền thống
PPDH truyền thống là cách thức dạy học quen thuộc đợc áp dụng phổ biến
ở nớc ta từ trớc tới nay. Đặc điểm nổi bật của PPDH truyền thống là thông báo tái hiện, tức là chỉ tính chất thông báo, truyền đạt kiến thức thông qua lời giảng
của giáo viên và tái hiện kiến thức sau khi đã lĩnh hội của học sinh. Thực hiện


10

PPDH này, giáo án của giáo viên đợc thiết kế theo một đờng thẳng từ trên
xuống, chung cho mọi đối tợng. Giờ lên lớp, giáo viên là tâm điểm của mọi
hoạt động dạy học, với nhiệm vụ là thuyết trình, diễn giảng những nội dung
kiến thức đã đợc chuẩn bị sẵn cho học sinh, học sinh tiếp nhận những kiến thức
đó một cách thụ động thông qua nghe, nhìn, cùng t duy theo lời giảng của giáo

T tởng về PPDH tích cực có mầm mống từ thời cổ đại, đợc phát triển từ
những năm 20 và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỷ XX tại các nớc
Châu âu, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực trí tuệ của thế hệ trẻ trong thời đại
khoa học - công nghệ hiện đại, khuyến khích hoạt động tự học, phát huy sáng
kiến của học sinh.
PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể mà là một khái niệm theo
nghĩa rộng, bao gồm những quan điểm, hình thức, phơng pháp, kĩ thuật dạy học
nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của ngời học.
"Tích cực" trong PPDH tích cực đợc dùng với ý nghĩa là hoạt động chủ
động, trái nghĩa với không linh hoạt, thụ động, chứ không dùng theo nghĩa trái
với tiêu cực. Với ý nghĩa đó, PPDH tích cực là cách dạy hớng tới việc trao
quyền cho học sinh, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, chống lại
thói quen học tập thụ động - tức là tập trung vào việc phát huy tính tích cực
hoạt động học của học sinh chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cực
hoạt động dạy của giáo viên. Cụ thể là giáo viên chỉ đóng vai trò là ngời chỉ
đạo, hớng dẫn học sinh phơng pháp tự học, dẫn dắt các em tiếp thu kiến thức,
rèn luyện kĩ năng. Về phía học sinh, mục tiêu là lĩnh hội kiến thức và rèn luyện
các kĩ năng, cho nên, trong quá trình học tập phải thực sự chủ động nghiên cứu,
tìm tòi, khám phá những tri thức mới. Có thể nói, cả giáo viên và học sinh đều
hớng tới nội dung dạy học, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận đã đợc xây dựng
trong các chơng trình môn học và mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn nhằm
giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
* Đặc trng của phơng pháp dạy học tích cực
- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm hay dạy học hớng vào ngời học, dạy
học tập trung vào ngời học... các thuật ngữ đó có chung một nội hàm là nhấn
mạnh hoạt động học tập của học sinh và vai trò của học sinh trong QTDH, nó
khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động giảng dạy





13

ngời học phơng pháp học tập. Nhà s phạm Đức Desterwerg đã không ngần ngại
khi viết: Ngời thầy giáo tồi là ngời thầy mang chân lý đến sẵn, còn ngời thầy
giáo giỏi là ngời thầy biết dạy học sinh tìm ra chân lý.
- Tăng cờng học tập cá thể kết hợp với học tập hợp tác
PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh.
Song, năng lực và ý chí của học sinh trong một lớp không thể đồng nhất, dẫn
đến sự phân hoá về mức độ hiểu biết và lĩnh hội tri thức cũng nh hoàn thành
nhiệm vụ học tập. Vì vậy, nếu áp dụng PPDH tích cực càng nhiều thì sự phân
hoá ngày càng lớn. Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải gắn dạy học cá thể với dạy
học hợp tác nhằm tạo điều kiện để các cá nhân trong lớp giúp đỡ nhau trong học
tập. Hơn nữa, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều có thể hình thành
bằng con đờng hoạt động độc lập thuần tuý, trái lại, thông qua hoạt động tập thể
(nhóm, tổ) mà ý kiến, quan niệm, nhân cách của mỗi cá nhân đợc điều chỉnh
theo hớng ngày càng hoàn thiện hơn, đồng thời hình thành ý thức tổ chức, kỷ
luật, ý thức tập thể. Bởi nhóm, tổ học tập là môi trờng giao tiếp tạo mối quan hệ
thân

thiện

giữa

các



nhân

1.1.2.3. Một số phơng pháp dạy học tích cực cần vận dụng vào quá
trình dạy học môn kinh tế chính trị ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế
* Phơng pháp vấn đáp (đàm thoại)
Phơng pháp vấn đáp (PPVĐ) có nguồn gốc lịch sử gắn liền với tên tuổi
của nhà hiền triết nổi tiếng cổ Hylạp Sôcrat (khoảng 470 - 399 TCN), ông chống
đối lại mọi kiểu dạy học giáo điều và đã xây dựng một PPDH độc đáo đó là phơng pháp đàm thoại - tranh luận. Qua cuộc đàm thoại giữa Sôcrat và Gorgias về
Tu từ pháp cho ta thấy, trong PPVĐ, giáo viên khéo léo dẫn dắt học sinh bằng
một hệ thống câu hỏi, thông qua câu hỏi và câu trả lời mà học sinh tự tìm ra chân
lý. PPVĐ đòi hỏi ở học sinh một sự suy nghĩ trí tuệ căng thẳng nhng thú vị. Vì
vậy, hiện nay PPVĐ trở thành một PPDH quan trọng trong dạy học.
Thực chất của PPVĐ trong dạy học môn KTCT, là trong giờ lên lớp, giáo
viên đặt ra một hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể trao đổi qua lại
với nhau (thậm chí tranh luận nhau) dới sự dẫn dắt của giáo viên để đạt tới mục
tiêu dạy học. Hệ thống câu hỏi và lời giải đáp là nguồn kiến thức chủ yếu mà
giáo viên muốn trang bị cho học sinh, và qua đó học sinh sẽ lĩnh hội đợc kiến
thức và rèn luyện kỹ năng nói, t duy.
Có nhiều hình thức vấn đáp nh vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi
yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học để trả lời trực tiếp mà không cần
suy luận; Vấn đáp giải thích - minh hoạ: nhằm mục đích giải thích làm sáng
tỏ một vấn đề nào đó, có kèm theo những ví dụ minh hoạ cho lời giải thích để
học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phơng pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ
trợ của phơng tiện nghe nhìn; Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic): giáo viên đặt
ra câu hỏi có tính chất nêu vấn đề buộc học sinh luôn ở trong tình huống có vấn
đề, căng thẳng trí tuệ và tự lực tìm lời giải đáp dới sự dẫn dắt của giáo viên.
Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên tổ chức sự tìm tòi, kích thích sự ham muốn hiểu


15

biết cho học sinh, khuyến khích học sinh tự lực phát hiện chân lý. Kết quả của

giáo viên nêu ra có thể ngay lập tức trở thành mâu thuẫn nội tâm của học sinh.
Vì vậy, đòi hỏi ở giáo viên một trình độ khéo léo với những thủ thuật s phạm để
chuyển hoá mâu thuẫn của bài toán (mâu thuẫn bên ngoài) thành mâu thuẫn
nội tâm (mâu thuẫn bên trong) của mỗi học sinh. Thực hiện bài toán sáng tạo
có tác dụng khắc sâu kiến thức và rèn luyện t duy sáng tạo cho học sinh.
Xuất phát từ bản chất nêu trên, chúng ta có thể và cần phải vận dụng
PPNVĐ vào các bài giảng KTCT của trung cấp kinh tế nhằm phát huy tính tích
cực nhận thức và t duy sáng tạo cho học sinh, giúp cho học sinh làm quen với
các tình huống nhận thức và cách thức giải quyết các vấn đề trong học tập cũng
nh trong thực tiễn đời sống. Nội dung môn KTCT tuy trừu tợng, nhng cũng rất
gần gũi với thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội, cho nên việc tạo tình huống
có vấn đề để học sinh tự lực giải quyết là rất cần thiết.
Việc nêu và giải quyết một vấn đề phải thực hiện theo các bớc:
- Đề xuất vấn đề: giáo viên nêu vấn đề, học sinh tiếp nhận và chuẩn bị giải quyết.
- Nghiên cứu và giải quyết vấn đề: học sinh nghiên cứu và giải quyết vấn đề
theo sự hớng dẫn của giáo viên.
- Kết luận vấn đề: học sinh vận dụng những kiến thức vừa mới tìm tòi để kết
luận vấn đề. Giáo viên theo dõi và cũng cố, bỗ sung rồi cuối cùng kết luận vấn đề.
Đối với học sinh hệ trung cấp, việc tự nghiên cứu để giải quyết một vấn đề
nhận thức là rất khó khăn. Vì vậy, giáo viên phải hớng dẫn học sinh xác định
xung quanh vấn đề đó có những nội dung kiến thức nào liên quan, trong đó, nội
dung kiến thức nào đã học, đã biết và nội dung kiến thức nào cần phải tìm tòi,
nghiên cứu. Từ đó xác định mối quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm, hớng
học sinh vào tập trung suy nghĩ và giải quyết. Mỗi học sinh phải t duy và làm
việc độc lập. Nếu làm việc theo nhóm thì mỗi nhóm, các thành viên phải tự
mình suy nghĩ, đa ra ý kiến riêng để cuối cùng tập hợp ý kiến của cả nhóm và
rút ra kết luận. Đó chính là lời giải đáp của nhóm cho vấn đề cần giải quyết.
Cuối cùng là sự tổng hợp ý kiến, nhận xét và kết luận của giáo viên.



Nói tóm lại, nêu vấn đề là PPDH có khả năng phát huy tính tích cực nhận


18

thức và t duy sáng tạo của học sinh. PPDH này đang đợc đánh giá cao và sử
dụng rất rộng rãi trên thế giới. Bởi xã hội hiện đại đang phát triển nhanh theo
cơ chế thị trờng, cạnh tranh gay gắt thì việc phát hiện và giải quyết hợp lý
những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn trở thành yêu cầu quan trọng. Vì vậy, tập
cho học sinh biết phát hiện, giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập
môn KTCT là rất cần thiết. Tuỳ theo nội dung dạy học, chúng ta đặt vấn đề một
cách phù hợp nhằm kích thích t duy học sinh.
* Phơng pháp hoạt động nhóm (PPHĐN)
Hoạt động nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, và cũng là một
trong những PPDH tích cực có tác dụng phát huy đợc tính tích cực, sáng tạo
của ngời học. Dạy học theo nhóm thờng tạo ra môi trờng học tập cởi mở, ở đó,
mỗi thành viên có điều kiện trao đổi, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập.
Học sinh khá, giỏi sẽ giúp đỡ những học sinh trung bình và yếu. Thông qua đó,
tất cả học sinh đều phát huy tính tích cực t duy và kỹ năng làm việc tập thể, kỹ
năng giao tiếp, tổ chức, tinh thần hợp tác và hoà nhập cộng đồng.
Trong PPHĐN, lớp học đợc chia thành các nhóm nhỏ từ 4 - 6 ngời, với
một khoảng thời gian xác định, mỗi nhóm hoàn thành các nhiệm vụ học tập
theo yêu cầu của giáo viên, trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả
làm việc của mỗi nhóm đợc trình bày và đánh giá trớc toàn lớp. Giáo viên tập
hợp tất cả các ý kiến, chỉ ra những điểm chung và sự khác biệt của các ý kiến,
chỉ ra những ý kiến đúng, cha đúng, rồi thực hiện phân tích, tổng hợp, rút ra kết
luận chung nhất và đúng đắn làm lời giải đáp cho vấn đề đợc nêu.
Hoạt động nhóm thờng đợc sử dụng kết hợp với PPNVĐ trong các giờ giảng,
hoặc sau khi kết thúc một nội dung kiến thức nhất định nào đó nhằm luyện tập,
cũng cố, khắc sâu chủ đề đã học, hoặc có thể tìm hiểu một vấn đề mới.

chế nh khi vận dụng vào dạy học thờng mất nhiều thời gian do khả năng nhận
thức và giải quyết vấn đề của học sinh có hạn, cho nên giáo viên khó có thể
giảng dạy hết chơng trình theo thời gian quy định nếu kĩ năng vận dụng các phơng pháp đó cha thành thạo, đồng thời, khó áp dụng đối với học sinh có ý thức
học tập kém. Mặc dù vậy, nhng chúng ta có thể và cần thiết áp dụng các PPDH
tích cực vào dạy học môn KTCT để phát huy tính tích cực nhận thức, t duy sáng
tạo cho học sinh nhằm nâng chất lợng dạy học bộ môn.


20

1.1.3. Các nhân tố ảnh hởng đến phơng pháp dạy học
Trong QTDH, việc sử dụng PPDH nào phải phụ thuộc vào mục tiêu, nội
dung, phơng pháp và phơng tiện dạy học; vào quy luật về sự thống nhất giữa
hoạt động dạy và hoạt động học, sự phụ thuộc giữa PPDH với khả năng đáp
ứng và lĩnh hội của từng học sinh. Bởi vậy, các nhân tố ảnh hởng đến các
PPDH đợc xác định nh sau:
- Mục tiêu và nhiệm vụ dạy học: Mục tiêu dạy học là cái đích cần đạt tới
của hoạt động dạy học. Từ mục tiêu dạy học, giáo viên xác định nhiệm vụ và
PPDH phù hợp. Mục tiêu dạy học hiện nay là những con ngời phát triển toàn
diện. Vì vậy, nhiệm vụ dạy học là làm thế nào vừa trang bị kiến thức, vừa rèn
luyện các kỹ năng cho học sinh, đồng thời rèn luyện cho các em có đợc phơng
pháp lĩnh hội kiến thức đó. Muốn đạt tới mục tiêu đó phải sử dụng phối hợp các
PPDH, đặc biệt là các PPDH tích cực.
- Nội dung dạy học: Phơng pháp là hình thức vận động của nội dung. Cho
nên, việc lựa chọn PPDH phải dựa vào nội dung dạy học. Nếu nội dung kiến
thức của môn học có tính trừu tợng, khó hiểu thì phải sử dụng kết hợp PPTT với
các PPDH tích cực. Ngợc lại, nội dung dạy học gần với thực tiễn đời sống xã
hội thì cần sử dụng PPDH tích cực để nâng cao nhận thức và rèn luyện kỹ năng
t duy, vận dụng cho học sinh.
- Giáo viên - chủ thể của hoạt động dạy: Việc lựa chọn PPDH có phù hợp

- Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ hiện đại, xu hớng
phổ biến của loài ngời là tìm cách rút ngắn con đờng, thời gian đến với chân lý,
tính tích cực nhận thức và sáng tạo trong t duy của con ngời không ngừng đợc
phát huy. Vì vậy, trong dạy học cần phải lựa chọn những phơng pháp có khả
năng vừa trang bị kiến thức, vừa rèn luyện cho học sinh phơng pháp lĩnh hội
kiến thức cũng nh các kỹ năng t duy sáng tạo, vận dụng....
- Lợng thông tin về khoa học công nghệ ngày càng tăng nhanh
Nếu nh năm 1750, khi bắt đầu cuộc cách mạng kỷ thuật lần thứ hai, trên
toàn thế giới mới có 10 tạp chí khoa học thì sau 100 năm (1850) đã có 100 tạp
chí; năm 1980 có 100.000 tạp chí; năm 2000 đã có tới trên 1000.000 tạp chí
khoa học. Hàng năm, có tới 4 - 5 triệu bài báo; 300.000 báo cáo khoa học;
110.000 tên sách và có tới 400.000 phát minh, sáng chế về các lĩnh vực khoa
học đợc công bố. Theo sự tính toán và nhận xét của các nhà khoa học thì


22

khoảng 7 - 10 năm, khối lợng thông tin tăng lên gấp 2 lần, 2/3 lợng tri thức và
hơn 90% lợng thông tin khoa học mà loài ngời thu lợm đợc chỉ trong thế kỷ
XX, đặc biệt trong vài thập niên gần đây [6, 179].
- Thời gian từ khi phát minh ra những nguyên lý khoa học đến khi ứng dụng
vào thực tiễn sản xuất và đời sống ngày càng rút ngắn lại.
- Số lợng các nhà khoa học tăng lên rất nhanh. Nền kinh tế tri thức ngày
càng phát triển đang đòi hỏi đội ngũ lao động thực sự có năng lực và trình độ
cao, đặc biệt là những nhà khoa học công nghệ giỏi.
- Loài ngời đã đạt đợc những thành tựu vô cùng to lớn trong các lĩnh vực
điện tử, lợng tử, kĩ thuật hạt nhân, đại dơng học, sinh thái học, công nghệ gen...,
xuất hiện những phạm trù mới nh "cách mạng liên tuyến", "môi trờng tin tức",
"môi trờng thông minh", "bộ nhớ xã hội... và xuất hiện nhiều lĩnh vực nghiên cứu
mới, nảy sinh nhiều ngành nghề mới, khoa học - công nghệ hiện đại đã thâm

PPTT - phơng pháp phát huy tính tích cực của ngời dạy, còn ngời học thì thụ
động, lời suy nghĩ trớc những vấn đề nhận thức. Nội dung dạy học còn đang bó
hẹp trong sách giáo khoa và mang tính lý thuyết, xa rời thực tiễn; coi trọng ghi
nhớ kiến thức và tái hiện nó khi giáo viên yêu cầu trong giờ học, khi làm bài
kiểm tra, bài thi. Còn các kĩ năng t duy sáng tạo, phân tích, tổng hợp, vận dụng,
đánh giá.. cha đợc quan tâm đúng mức; cha hình thành ở học sinh thói quen tự
học. ở các trờng trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, việc sử dụng PPDH của
giáo viên chủ yếu vẫn là PPTT, thầy giảng trò nghe, thầy đọc trò chép. Việc
tiếp thu kiến thức của học sinh còn rất hạn chế do tính chất thụ động chứ cha
nói đến việc rèn luyện các kỹ năng.
Dạy học môn KTCT ở trờng, lớp trung cấp kinh tế cũng không nằm ngoài
thực trạng đó. Do nội dung trừu tợng, khái quát cao, cho nên giáo viên chủ yếu
sử dụng PPTT. Nội dung kiến thức giáo viên truyền đạt chủ yếu là lý thuyết và
có tính chất rập khuôn với nội dung trong giáo trình, ít đợc minh hoạ bằng thực
tiễn. Về phía học sinh, với tâm lý luôn cho rằng đó là những môn học phụ,
không quan trọng, ít đầu t thời gian cho việc học tập môn học này, lúc kiểm tra,
thi thì tìm mọi biện pháp quay cóp tài liệu. Vì vậy, kết quả dạy học không tơng
xứng với tầm quan trọng của bộ môn.


25

Để khắc phục những tồn tại và nâng cao chất lợng dạy học bộ môn, thì
hơn ai hết, giáo viên phải đổi mới PPDH, đa học sinh vào nề nếp học tập
nghiêm túc. áp dụng PPDH tích cực vào dạy học để tích cực hoá hoạt động
nhận thức của học sinh; tăng cờng gắn lý luận với thực tiễn để học sinh thấy rõ
vai trò quan trọng của môn học đối với thực tiễn cuộc sống, với thực tiễn xây
dựng và phát triển của dân tộc ta. Làm đợc nh vậy là góp phần hiện thực hoá
chủ trơng của Đảng về đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo
dục các môn học chủ nghĩa Mác - Lênin và T tởng Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status