nguồn sử liệu hương ước thăng long - hà nội trước năm 1945 - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ THÙY HIÊN
NGUỒN SỬ LIỆU HƯƠNG ƯỚC THĂNG LONG-HÀ
NỘI TRƯỚC NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Sử học và Sử liệu học
Mã số: 62 22 58 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2014
Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Lịch sử - Trường Đại học KHXH&NV
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Xuân Hằng
PGS.TS. Vũ Văn Quân
Giới thiệu 1:……………………………………………………
Giới thiệu 2:……………………………………………………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp cơ sở chấm luận án
Tiến sĩ họp tại……………………………………………………
vào hồi …… giờ …….ngày …… tháng……. năm……
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hương ước là một cụm từ quen thuộc trong đời sống xã hội, lại cũng
là một chủ đề hấp dẫn các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực học thuật khác
nhau. Việc nghiên cứu từ nhiều góc độ, với những khung lý thuyết, hệ phương
pháp và thước đo khác nhau đã đem đến một hiểu biết căn bản về lịch sử phát
triển, về vai trò của hương ước trong quản lý làng xã cổ truyền, về một loại hình
văn bản pháp luật của các cộng đồng xã hội cấp cơ sở; về hương ước Việt Nam
trong đối sánh với hương ước Trung Hoa và hương ước, luật làng của một số
quốc gia khác cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở Đông Bắc Á như

tiếp giữa hương ước cổ với hương ước cải lương hồi đầu thế kỷ XX.
1.3. Dù là loại hình tài liệu quen thuộc, song thực tế việc sử dụng, khai
thác nguồn tài liệu hương ước còn rất nhiều điều đáng bàn. Hiện tượng tùy tiện,
cẩu thả trong công bố giới thiệu tư liệu, đặc biệt việc thiếu tôn trọng tính toàn
vẹn của văn bản hay nhầm lẫn giữa các niên đại lập, sao hương ước dễ khiến
người sử dụng nhầm lẫn và hệ quả là sai lệch của kết quả nghiên cứu. Việc khai
thác có khi thiếu sự phê phán nghiêm túc, khi lại vì định kiến chủ quan mà coi
thường một bộ phận hương ước giá trị của sử liệu… Nghiên cứu hương ước
Thăng Long-Hà Nội sẽ góp phần chỉ ra một số nguyên tắc mang tính phương
pháp luận trong việc khai thác, sử dụng nguồn hương ước của Thăng Long-Hà
Nội nói riêng, mở rộng ra là của hương ước Việt Nam, hướng đến việc khai
thác đúng và hiệu quả hơn đối với nguồn tài liệu này.
1.4. Hương ước còn là vấn đề của thực tiễn đòi hỏi nhà nghiên cứu phải
nhận chân đầy đủ về bản chất, các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát
triển của hương ước, đặc biệt mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh/nhu cầu tự
2
thân/từ bên trong/từ bên dưới của chủ thể hương ước với yếu tố ngoại sinh/nhu
cầu kiểm sóat của nhà nước/từ bên ngoài/từ bên trên để việc thực hiện xây dựng
quy ước làng văn hóa (còn được biết đến với tên gọi “hương ước mới”) hiện
nay có được hiệu quả thực sự, có sức sống trong đời sống xã hội. Để đưa ra lời
giải cho bài toán hóc búa mà thực tiễn đang đặt ra cho các nhà quản lý cần phải
có một sự hiểu biết thấu đáo từ chính quá khứ đã qua. Việc nghiên cứu quá
trình phát triển hương ước Thăng Long-Hà Nội sẽ góp phần cung cấp luận cứ
khoa học cho việc xây dựng, quản lý xã hội cơ sở hiện đại.
2. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá giá trị sử liệu của hương ước Thăng
Long-Hà Nội, đặc biệt đối với nghiên cứu lịch sử văn hóa của khu vực trên cơ
sở đặc điểm, tính chất của nguồn; Góp phần tìm hiểu những vấn đề chung của
hương ước Việt Nam, từ lịch sử phát triển, điều kiện hình thành cho đến đặc
điểm và giá trị sử liệu của hương ước Việt Nam; Đề xuất phương pháp khai

Các phương pháp lịch sử và phương pháp lô gíc được dùng khi phác họa
một số nét thuộc lịch sử văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
5. Đóng góp của luận án
- Làm sáng tỏ những đặc trưng hình thức và nội dung của khối hương
ước Thăng Long - Hà Nội với tư cách hương ước của đô thị trong dòng chung
hương ước Việt Nam.
- Làm rõ giá trị phản ánh lịch sử văn hóa Thăng Long-Hà Nội của nguồn
sử liệu hương ước đặt trong đối sánh với những loại nguồn khác.
- Góp phần nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn về lịch sử hương
ước Việt Nam, đặc biệt về điều kiện hình thành và các giai đoạn phát triển.
4
- Đề xuất cách thức khai thác hương ước hiệu quả.
- Đóng góp vào cơ sở khoa học trong việc xây dựng hương ước, quy ước
hiện nay.
5. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
được cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Vài nét về hương ước và hương ước Thăng Long-Hà Nội
Chương 3: Các giai đoạn chuyển đổi của hương ước Thăng Long-Hà Nội
Chương 4: Lịch sử, văn hóa Thăng Long-Hà Nội qua hương ước
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Các công trình gián tiếp liên quan đến đề tài
1.1.1.Công trình nghiên cứu về làng xã
Mặc dù không chọn hương ước làm đối tượng nghiên cứu, trong những
công trình này hương ước thường được sử dụng làm dẫn liệu minh họa cho
phong tục tập quán, hoặc các quan hệ xã hội nội làng, liên làng hay siêu làng;
nhiều công trình còn dành để phân tích sâu vai trò quản lý xã hội nông thôn
Việt Nam truyền thống của hương ước, vì vậy đã phản ánh quan điểm của
người nghiên cứu, từ định nghĩa, đến chức năng, vai trò của hương ước trong

Nghiên cứu so sánh
Dựa trên sự tương đồng và dị biệt giữa hương ước Việt Nam với hương
quy của Trung Quốc, hương ước Hàn Quốc, Triều Tiên, hay luật làng của Nhật
Bản giúp đi đến nhận thức sâu hơn về hương ước Việt Nam.
6
Nhóm nghiên cứu văn bản hương ước cụ thể
Đây là những nghiên cứu “điểm” song hành với nghiên cứu “diện” ở trên
cùng nhằm làm nổi bật những nét khái quát chung nhất về hương ước Việt
Nam.
Nhóm nghiên cứu về hương ước ở một địa bàn, thuộc một giai đoạn cụ
thể
Khảo cứu nội dung và hình thức của hương ước, từ đó một mặt để hiểu
tính sinh động, đa dạng của hương ước theo nhiều thước đo như yếu tố địa lý,
nơi lưu giữ, thời kỳ lịch sử, mặt khác lại góp phần vào một hiểu biết khái quát
về hương ước Việt Nam nói chung.
1.2.2.Các công trình về hương ước Thăng Long-Hà Nội
1.2.2.1. Các công trình nghiên cứu trong đó hương ước xuất hiện với tư
cách là dẫn liệu
Đã có một số công trình dựa hoàn toàn vào nguồn hương ước của Hà Nội
hiện nay để tìm hiểu những vấn đề của lịch sử, văn hóa Hà Nội. Tuy nhiên, thực
tế cũng mới chỉ có một số ít hương ước của Thăng Long-Hà Nội được sử dụng.
1.2.2.2. Sưu tầm, dịch thuật và công bố
Những công trình tuyển chọn, giới thiệu, dịch, sưu tầm hương ước Thăng
Long - Hà Nội với phạm vi không gian Hà Nội trước khi Hà Tây và một phần
Hòa Bình, Vĩnh Phúc được sáp nhập vào. Danh mục, thư mục hương ước Hà
Nội tại hai kho Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin Khoa học Xã hội
cũng đã được công bố giúp người đọc, người nghiên cứu nhanh chóng và dễ
dàng tiếp cận nguồn văn bản này. Những phần tổng quan với tính cách một bộ
phận trong mỗi công trình đã giới thiệu các giá trị chung của mỗi tập hợp văn
bản.

yếu được viết tay, soạn thảo vào nửa đầu thế kỷ XX và hơn 1200 văn bản
hương ước được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, trong đó khoảng trên 50 văn
bản được soạn vào các thế kỷ XVIII, XIX, còn lại là thế kỷ XX
2.2.3. Hương ước lưu giữ tại những nơi khác
Hệ thống các thư viện, lưu trữ của trung ương và cấp tỉnh (chẳng hạn
Trung tâm lưu trữ quốc gia I) lưu giữ bản gốc, hoặc bản sao hương ước từ hai
kho Viện NCHN và Viện TTKHXH. Một số lượng chưa được thống kê, nhưng
chắc chắn là không hề nhỏ hiện vẫn lưu lạc trong các cộng đồng sản sinh ra
chúng.
2.3. Hương ước Thăng Long-Hà Nội
2.3.1. Địa điểm hình thành hương ước
Trên cơ sở xác định những địa điểm có vấn đề: 4 trường hợp xuất hiện
nhiều địa danh trên cùng văn bản; 3 trường hợp có sự vênh mang tính đồng đại
giữa địa danh trang bìa với nội dung hương ước; Định vị 7 địa danh không rõ,
cho thấy 61 văn bản, trừ 2 hương ước của Văn hội huyện Thọ Xương, và 1 của
tổng Đông Thọ, thuộc về 44 xã, phường, trại của 10 tổng của 2 huyện. Trong đó
hương ước có ở 6/8 tổng thuộc huyện Thọ Xương; 5 tổng thuộc huyện Vĩnh
Thuận.
2.3.2. Niên đại của hương ước
Thông tin về yếu tố thời gian trong các hương ước Thăng Long-Hà Nội
tương đối phong phú với thời gian lập, đệ trình, phê duyệt, sao chép, sửa đổi, bổ
sung. Trên cơ sở xác định lại 7 hương ước có thông tin về niên đại, nhưng cần
phải làm rõ; xác định niên đại lập đối với 12 hương ước không ghi năm lập dựa
trên thông tin phê duyệt, nội dung hương ước…. cho thấy trong dòng chung của
lịch sử hương ước Việt Nam, thậm chí ngay cả với hương ước ở khu vực Hà
Nội, thì hương ước Thăng Long-Hà Nội có niên đại muộn hơn rất nhiều.
9
2.3.3. Bản gốc và bản sao
Trong số 61 văn bản, có 19 văn bản có dấu viện EFEO, đều là văn bản
lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Hai văn bản gốc là Kim Ngân đình thị

3.1. Hương ước cổ (trước năm 1906)
3.1.1. Sự xuất hiện
Đặc điểm dân cư ở Thăng Long-Hà Nội khác với các nơi do đây là nơi tụ
hội bốn phương. Điều này cản trở việc xuất hiện của hương ước, dẫn đến hương
ước xuất hiện muộn và thưa thớt so với các nơi khác. Tuy nhiên nhu cầu cố kết
theo các tổ chức nghề nghiệp, tầng lớp (hội, phố ) lại là lực đẩy cho sự phát
triển của loại hình khoán ước. Ở Thăng Long-Hà Nội, loại hình khoán ước phổ
biến hơn trong giai đọan này, và lại muộn bị thay thế bởi hương ước so với
những nơi khác. Có thể thấy, điều kiện hình thành, mật độ, thời điểm, nhịp độ
phát triển khác biệt của hương ước Thăng Long-Hà Nội với các khu vực khác.
3.1.2. Đặc điểm hình thức
Tổng số hương ước có niên đại trước năm 1906 gồm 16 văn bản. Tất cả
hương ước giai đoạn này đều được viết bằng chữ Hán, phần nhiều viết tay, 2
bản khắc in. Phần lớn đều là các bản sao chép nên không tránh khỏi sự cắt xén
so với bản gốc. Các hương ước về cơ bản có một cấu trúc chung với 5 yếu tố,
song trong từng trường hợp cụ thể lại có sự khác biệt. Tổng số điều lệ đa dạng
từ dưới 10 cho tới trên 50, thường chỉ được liệt kê, song cá biệt có trường hợp
ghi rõ số điều khoản có trong nội dung
3.1.3. Đặc điểm nội dung
Quy nội dung của hương ước về 5 lĩnh vực: đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội, bảo an, văn hóa tín ngưỡng, có sự khác biệt rất lớn về nội dung phản ánh
của các bản hương ước, cho thấy nhu cầu của các cộng đồng rất khác nhau. Hai
11
lĩnh vực được quy định nhiều nhất liên quan đến đời sống xã hội và đời sống
văn hóa tín ngưỡng.
3.2. Giai đoạn chuyển tiếp (từ năm 1906 đến trước ngày 12-8-1921)
3.2.1. Điều kiện ra đời
Từ khỏang năm 1906 chính quyền một số tỉnh Bắc Kỳ, trong đó có Hà
Đông đã từng bước can thiệp vào đời sống làng, thôn, phường, trại, tiến hành
từng bước bước chậm nhưng chắc chắn và hiệu quả chính sách cải lương hương

3.3.2. Đặc điểm hình thức
Khác với giai đọan chuyển tiếp trước đó, đến đây hình thức các văn bản
hương ước có sự tương đồng cao do được biên soạn theo mẫu. Căn bản vẫn là
các bản hương ước chữ quốc ngữ, có dung lượng, số điều khoản ít nhiều khác
biệt. Tính khuôn mẫu thể hiện rõ ràng ở sự vênh giữa mục lục và nội dung, biểu
hiện của việc biên sọan lấy lệ với nhiều mục bỏ trống, những quy định mang
tính giả định hoặc đưa vào thì tương lai… Tuy nhiên, phân tích hệ thống về mặt
hình thức vẫn thấy được đặc điểm kinh tế, xã hội… có tác động nhất định đến
sự khác biệt về hình thức hương ước giữa các cộng đồng.
3.3.3. Đặc điểm nội dung
Một mặt, tính khuôn mẫu làm cho hương ước giảm tính sinh động, đa
dạng, mang bản sắc rõ rệt của các cộng đồng chủ thể. Mặt khác, không thể phủ
nhận với việc đưa về một mẫu chung với khá đầy đủ các mặt quy ước về đời
sống làng thôn, phường, trại, rõ ràng đã tăng khả năng cung cấp thông tin đầy
đủ và đa dạng về đời sống cộng đồng cơ sở xã hội, tăng khả năng khai thác của
nhà nghiên cứu.
13
Tuy nhiên, mức độ đáng tin cậy lại cần phải được lưu ý, có sự khác biệt
giữa từng vấn đề, khía cạnh Nhà nghiên cứu phải khai thác một cách có phê
phán, tuyệt đối tránh việc chỉ trích dẫn từng điều khoản đơn lẻ khi cần mà
không đặt trong tổng thể của hương ước cũng như trong sự so sánh với các
nguồn sử liệu khác.
CHƯƠNG 4. LỊCH SỬ VĂN HÓA THĂNG LONG-HÀ NỘI QUA
NGUỒN HƯƠNG ƯỚC
4.1. Đời sống chính trị
4.1.1. Bộ máy quản lý cấp cơ sở
4.1.1.1. Bộ máy quản lý hành chính
Đội ngũ chức dịch, lý dịch qua thời gian đã được phản ánh ngày càng rõ
nét. Đặc điểm xã hội đô thị được thể hiện qua những quy định về thời hạn, trách
nhiệm, quyền lợi của đội ngũ này.

ruộng đất đa dạng, kết hợp nhiều cách thức khác nhau, trong đó phần lớn là
dành cho họat động tế tự và đấu giá hay cho thuê để công dùng. Với khuôn mẫu
hương ước cải lương, dù hình thức phân quân giữa các thành viên được quy
định trong hầu khắp các hương ước, thì thực tế đó lại không phải là thực tế diễn
ra mà mang tính hình thức.
4.2.2. Kết cấu kinh tế
Hiện lên rất mờ nhạt, chủ yếu với một số thông tin về những thôn,
phường, trại chuyên nghề nông nghiệp, thủ công nghiệp hay thương nghiệp.
4.3. Đời sống xã hội
4.3.1. Quản lý dân cư
4.3.1.1. Thị dân – Nông dân
Kết cấu thị dân-nông dân hiện lên phản ánh đặc điểm cư dân khác biệt
của đô thị Thăng Long-Hà Nội. Do là nơi trung tâm tụ hội của bốn phương, nên
15
ở đây có hai luồng di cư từ Thăng Long-Hà Nội ra ngoài và ngược lại. Điều này
khiến cho vấn đề quản lý dân cư trở thành vấn đề trọng tâm trong mối quan tâm
của các cộng đồng chủ thể. Trong cách quản lý khối cư dân này, các cộng đồng
có xu hướng vừa cởi mở đón nhận, lại vừa ràng buộc chắc chắn bằng quy địnhh
rõ trách nhiệm của người ngụ cư cũng như của người làng bảo lãnh và cho trú
ngụ.
4.3.1.2. Quản lý đô thị
Trong môi cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội có ít nhiều khác biệt với khu vực
xung quanh, cư dân Thăng Long-Hà Nội đã tạo dựng nên cảnh quan, môi
trường sống, hình thành nên lối sống đô thị của riêng mình, trong đó đan xen cả
tốt lẫn xấu. Chính vì vậy, các quy định về vấn đề vệ sinh, bảo vệ mỹ quan, bảo
vệ thuần phong mỹ tục được đề ra trong các bản hương ước.
4.3.2. Bảo vệ trật tự trị an
Việc tuần phòng bảo vệ đồng điền, trông coi trộm cắp trong thôn,
phường, trại,… là một nội dung quan trọng được phản ánh. Hình ảnh người
tuần được hiện lên rất phong phú đa dạng về lứa tuổi, tên gọi, quyền lợi, trách

gốc của chi phí dành cho việc tế tự. Sự đa dạng về tổng chi phí như vậy có thể
bắt nguồn từ mức độ phản ánh khác nhau (đầy đủ hoặc không) của từng văn bản
hương ước, cũng có thể phụ thuộc và diện tích, số dân của các cộng đồng, song
phần nào đó cũng gợi mở về điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội có sự
phân hóa ngay trong chính đô thị này.
4.5. Giáo dục
Khía cạnh giáo dục hiện lên qua những quy ước khuyến học, từ miễn trừ
tạp dịch, tuần phòng… cho học trò, kẻ sĩ, tới lệ mừng, khao vọng (đón rước,
mừng tiền, hiện vật…) đối với người đỗ đạt. Qũy khuyến học gồm ruộng đất,
17
tiền bạc ở một số nơi cũng được hiện lên qua hương ước. Ở đây cũng thấy sự đa
dạng, khác biệt mang tính lịch đại và đồng đại.
KẾT LUẬN
1. Hương ước Thăng Long-Hà Nội, với mật độ, tỷ lệ, khung thời gian so
với các loại hình sử liệu văn bản khác của Thăng Long-Hà Nội như địa bạ, văn
bia thì rất khiêm tốn. Tuy nhiên, với đặc điểm phản ánh phong tục tập quán
riêng của từng cộng đồng, đây là nguồn cung cấp bổ sung, thậm chí là duy nhất
những thông tin mà những nguồn khác không có được như việc sử dụng ruộng
đất công, vấn đề quản lý dân cư đô thị, đời sống tế tự ở cơ sở xã hội, về các tổ
chức xã hội nội và liên làng, thôn, phường trại. Hơn nữa, hệ thống văn bản
hương ước đã phần nào cho thấy bóng dáng, đặc trưng đô thị, bổ sung cho các
nguồn khác phản ánh đặc tính “đô thị yếu” của Thăng Long-Hà Nội, nơi có
những khía cạnh riêng biệt nhưng vẫn bị níu kéo, thậm chí chi phối bởi yếu tố
làng xã.
2. Mang sắc thái đô thị, phản ánh sắc thái đô thị, đồng thời hương ước
Thăng Long-Hà Nội có thể được xem là đại diện của bộ phận hương ước “đô
thị” trong dòng chung hương ước Việt Nam. Tính riêng ấy không phải là do
một cá nhân, một chủ thể nào dựng ra một khuôn mẫu hương ước riêng cho khu
vực đô thị, mà là kết quả của sự nhào nặn bởi nhiều yếu tố. Hương ước vốn là
quá trình văn bản hóa của những tục lệ, những quy ước giữa các thành viên của

ấy nằm trong một trong những địa bàn thực dân Pháp chọn để từng bước thử
nghiệm cải lương hương chính, can thiệp vào đời sống xã hội ở tận cấp cơ sở ở
Bắc Kỳ (khỏang năm 1906-trước tháng 8 năm 1921). Dưới tác động của những
chủ trương, chính sách của Pháp, hương ước Thăng Long-Hà Nội có sự thay
19
đổi dần cả về hình thức và nội dung. Cùng với hương ước ở một số địa phương
khác như Bắc Ninh, Phúc Yên , hương ước Thăng Long-Hà Nội – với tính
cách là một bộ phận của hương ước Hà Đông bấy giờ - không chỉ là nguồn tài
liệu góp phần tìm hiểu về cải lương hương chính ở Bắc Kỳ trước năm 1921,
một giai đọan mới bắt đầu được quan tâm nhiều ở những năm gần đây nhưng
vẫn gặp nhiều khó khăn bởi thiếu vắng nguồn tài liệu – mà bản thân chúng còn
hé mở về một giai đọan “tiền hương ước cải lương”, hay “cải lương hương ước
thí điểm”, giúp mở rộng hiểu biết về giai đọan hương ước cải lương (hương ước
cận đại) Việt Nam với một khung niên đại và cả những đặc điểm khác với nhận
thức chung xưa nay.
4. Từ hương ước Thăng Long-Hà Nội cũng góp phần làm nổi rõ hơn một
đặc điểm lớn của hương ước Việt Nam, đó là luôn trong dòng chảy liên tục.
Điều này không chỉ thẻ hiện thông qua quá trình tự sửa đổi, điều chỉnh của các
cộng đồng với kết quả là những bản hương ước tục biên ở cả giai đoạn hương
ước cổ lẫn hương ước cải lương, mà ngay ở bước chuyển tiếp từ hương ước cổ
sang hương ước cải lương vốn xưa nay vẫn thường được nhìn nhận như hai giai
đọan tách biệt. Đặc điểm này cũng buộc nhà nghiên cứu phải nhìn nhận lại cách
thức tiến hành cải lương hương chính ở Bắc Kỳ, cũng như đánh giá một cách
đầy đủ hơn về cải lương hương chính ở Bắc Kỳ hồi đầu thế kỷ XX.
5. Các nhà nghiên cứu đi trước đã đánh giá rất nhiều về hương ước với tư
cách một loại hình văn bản quản lý làng xã, hoặc dưới góc độ văn hóa, chỉ ra
những mặt tích cực cần kế thừa, cũng như những điểm hạn chế cần khắc phục
hoặc loại bỏ.
Nhìn lại lịch sử phát triển của hương ước Thăng Long-Hà Nội, giai đoạn
hương ước cổ, yếu tố can thiệp của Nhà nước không rõ ràng, trong khi nội dung

21
6. Giá trị hương ước có thể tìm thấy dưới nhiều góc độ, phục vụ nhiều đề
tài nghiên cứu, từ những công trình nghiên cứu về văn bản học, văn tự học, lịch
sử, luật pháp. Riêng dưới góc độ lịch sử, đây là một nguồn có khả năng phản
ánh lịch sử văn hóa của một không gian cụ thể, từ đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn hương ước lại có những đặc điểm
riêng về hình thức và nội dung. Ở đây, nhà nghiên cứu cần nắm vững đặc điểm
ra đời của từng giai đọan hương ước. Với hương ước cổ, nhà nghiên cứu có khả
năng khai thác được những thông tin chi tiết, mang tính riêng biệt của từng
cộng đồng chủ thể hương ước, nhưng thông tin thường tập trung ở một vài khía
cạnh như tế tự, Bởi vậy, nhà nghiên cứu cần phải bổ sung bằng những nguồn
khác để hiểu được đầy đủ về đối tượng nghiên cứu. Đối với giai đoạn hương
ước cải lương, nhà nghiên cứu có thể trông đợi ở một phổ rộng hơn các lĩnh vực
phản ánh, song mỗi lĩnh vực cũng chỉ tập trung ở một vài loại thông tin nhất
định, chẳng hạn tình hình sử dụng ruộng đất công, cheo lệ, tang lệ Tuy nhiên,
ngòai việc kết hợp những nguồn khác như địa bạ, văn bia, truyền miệng, phải
đặc biệt thận trọng khi khai thác thông tin từ một bản hương ước về một cộng
đồng cụ thể, bởi nguồn ấy mang tính khuôn mẫu, mâu thuẫn lẫn nhau nên phải
nhìn toàn diện, tổng thể, thậm chí phải đặt trong hệ thống loại hình mới có thể
khai thác được những thông tin đáng tin cậy.
Một điều cần lưu ý nữa là phải phân biệt giữa quy ước trên văn bản với
hiệu quả thực tiễn. Cho đến nay, đánh giá việc tuân thủ quy ước thành văn của
các cộng đồng hầu như là việc rất khó khăn bởi thiếu vắng nguồn tư liệu. Hiện
nay, nhiều nghiên cứu đồng nhất quy định trong hương ước với thực tế lịch sử.
Trong khi chưa có thêm tư liệu giúp đo đếm một cách cụ thể tác động của các
quy ước trong thực tiễn, việc so sánh với các nguồn khác là điều bắt buộc đối
với các nghiên cứu lịch sử.
22
7. Nghiên cứu hương ước Thăng Long-Hà Nội còn có ý nghĩa đóng góp
vào cơ sở khoa học cho việc triển khai xây dựng hương ước, quy ước hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status