chính sách bảo tồn và phát triển nghề, làng nghể hà nội giai đoạn năm 2010 tới năm 2020 - Pdf 24

CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
“CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
NGHỀ,LÀNG NGHỂ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN
NĂM 2010 TỚI NĂM 2020”
GVHD:LÊ THỊ THANH LOAN
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
–NHÓM 9 : LÊ VĂN
SƠN- 54825 LÊ VĂN
TÂN-541827 NGUYỄN
THỊ THẮM -541828
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I.MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH 2
II.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.Mục êu chung 2
2.Mục êu cụ thể 2
III.HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN CHÍNH SÁCH CÓ LIÊN QUAN 2
IV.TÌM HIỂU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ LÀNG NGHỀ HÀ NỘI 5
4.1 Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách 5
4.2 Công tác lập kế hoạch triển khai thực hiện 6
4.3 Phân cấp trong triển khai thực hiện 7
4.4 Nguồn lực 9
4.5 Nội dung triển khai 11
V.KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 13
1.Số lượng nghề và làng nghề 14
2.Số lượng việc làm,thu nhập của người lao động trong làng nghề 14
3.Giá trị sản xuất 15
4.Khoa học công nghệ 15
5.Môi trường 16
6.Phát huy giá trị văn hóa làng nghề 16
7.Xúc ến thương mại 17

động, giảm sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữ vững trật tự an ninh xã
hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, hạn chế
di dân tự do và bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc.
Tuy nhiên, phát triển nghề, làng nghề vẫn mang tính tự phát. Gần 80% các cơ sở
không đủ vốn để đầu tư đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng công
nghệ, thiết bị lạc hậu, thiếu nguyên liệu tại chỗ, vẫn phải phụ thuộc vào nguồn
nguyên liệu từ nơi khác, chưa có chợ đầu mối cung cấp nguyên liệu, phụ liệu. Sự
liên kết giữa các làng nghề, nghệ nhân, thợ thủ công và các doanh nghiệp trong các
lĩnh vực đào tạo nghề, cung cấp thông tin thị trường, tiêu thụ sản phẩm chưa được
chặt chẽ. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, một mặt do các sản
phẩm thủ công còn đơn điệu về mẫu mã, chất lượng chưa cao, hầu hết sản phẩm
chưa có thương hiệu nhãn mác hàng hoá nên sức cạnh tranh kém và thị trường xuất
khẩu đang bị thu hẹp, chưa khai thác được thế mạnh của thị trường trong nước, mặt
khác do thiếu thông tin thị trường, thiếu các trung tâm trưng bày giới thiệu sản
phẩm. Việc giữ gìn, tôn vinh và tuyên truyền bản sắc văn hóa dân tộc kết tinh trong
các sản phẩm truyền thống chưa được coi trọng. Môi trường bị ô nhiễm, cơ sở hạ
tầng và dịch vụ phục vụ sản xuất không đồng bộ.
Nguyên nhân cơ bản của các tồn tại trên một mặt do tác động của kinh tế thị
trường, mặt khác do chúng ta chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể về việc bảo
tồn và phát triển nghề, làng nghề của Thành phố.
Để nghề và làng nghề phát huy thế mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội phát
triển bền vững, thân thiện với môi trường, mang những sản phẩm có nét văn hoá
độc đáo riêng của từng địa phương, sử dụng nguồn lao động tại chỗ, gắn với phát
triển du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, nên vậy việc thực hiện
“Chính sách bảo tồn và phát triển nghề,làng nghề Hà Nội giai đoạntừ năm
2010 đến năm 2020” là một yêu cầu bức thiết hiện nay của mỗi làng, mỗi cơ sở và
của từng người dân cũng như tâm huyết của các Nghệ nhân, những người suốt đời
gắn bó với nghề, mong muốn giữ gìn được tinh hoa văn hóa và tâm hồn Việt, là
căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy hoạch, chương trình, kế hoạch hàng

môi trường, chất lượng sản phẩm, lao động và đào tạo;
- Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 về việc khuyến khích phát triển
công nghiệp nông thôn với những nội dung chủ yếu là hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức,
cá nhân khởi sự doanh nghiệp, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, xin ưu
đãi đầu tư, nâng cao năng lực quản lý, hợp lý hoá sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,
đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới và
ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, quản lý chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi
trường, đào tạo nghề, truyền nghề, cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tham
gia triển lãm, hội chợ, giới thiệu sản phẩm, tham gia các hiệp hội ngành nghề và
xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật;
- Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 về phát triển ngành nghề nông
thôn tập trung vào một số nội dung cụ thể như bảo tồn và phát triển làng nghề, tạo
mặt bằng sản xuất, ưu đãi về đầu tư tín dụng, xúc tiến thương mại, hỗ trợ về khoa
học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, cùng với các bộ, ngành,
các tỉnh thành phố trên toàn quốc, Thành phố Hà Nội cũ và tỉnh Hà Tây trước đây
đã xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể để phát triển ngành nghề
nông thôn, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất, khôi
phục và phát triển các nghề truyền thống, các làng nghề truyền thống, thúc đẩy thị
trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước như:
- Đề án số 34 ĐA/TU ngày 25/01/2005 của Thành ủy Hà Nội khôi phục, phát triển
nghề, làng nghề Hà Nội đến năm 2010 với nội dung là bổ sung các cơ chế chính
sách của thành phố khuyến khích phát triển nghề truyền thống, phát triển nghề mới
và hình thành các phố nghề, làng nghề gắn với du lịch văn hóa sinh thái, tạo việc
làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người lao động ở các làng nghề, tiếp tục xây
dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật trong làng nghề theo hướng vừa phục vụ sản
xuất vừa phục vụ nhu cầu sinh hoạt, xây dựng mô hình cụm sản xuất làng nghề tập
trung;
- Đề án số 19 ĐA/TU ngày 5/3/2007 của Thành ủy Hà Nội về phát triển du lịch Hà
Nội giai đoạn 2007 - 2015 trong đó xác định nhiệm vụ xây dựng điểm, tuyến du

- Quyết định số 120/2003/QĐ-UB ngày 02/10/2003 của UBND thành phố Hà Nội
ban hành Qui chế phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Hà Nội” và một số chế độ đối
với nghệ nhân;
- Quyết định số 454/QĐ-UB ngày 22/03/2006 của UBND tỉnh Hà Tây ban hành
Qui định tiêu chuẩn công nhận danh hiệu “Nghệ nhân Hà Tây” ngành nghề thủ
công mỹ nghệ truyền thống;
- Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02/5/2008 của UBND thành phố Hà Nội
ban hành “Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề Hà
Nội”.
Ngay sau khi hợp nhất địa giới hành chính, Thành phố Hà Nội đã ban hành các
quyết định:
- Quyết định số 69/2009/QĐ-UBND ngày 18/5/2009 của UBND thành phố Hà Nội
ban hành Quy chế phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Hà Nội ngành thủ công mỹ
nghệ;
- Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND 02/7/2009 của UBND thành phố Hà Nội ban
hành quy chế xét công nhận danh hiệu “làng nghề truyền thống Hà Nội”.
IV.TÌM HIỂU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN NGHỀ LÀNG NGHỀ HÀ NỘI
4.1 Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách.
Để nâng cao nhận thức của người dân về chính sách hỗ trợ phát triển nghề và
làng nghề, các Bộ, Ngành, tổ chức chính trị - xã hội đã phối hợp với nhau trong
công tác tuyên truyền về chính sách hỗ trợ này. Đẩy mạnh tuyên truyền qua
phương tiện truyền thông.
Sở công thương tổ chức hội nghị để tuyên truyền về chính sách.Họp báo,gặp mặt
với các đại diện làng nghề trên thành phố,các đơn vị có liên quan .
Tổ chức hội thi người dân tìm hiểu chính sách hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề
Hà Nội nhằm cung cấp kiến thức để phát triển nghề và làng nghề cho người dân ở
đây hiểu rõ chính sách nhà nước hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề hiện nay.
Tổ chức các lễ hội làng nghề truyền thống, có các hoạt động khuyến công
nhằm tuyên truyền, tập huấn, trang bị kiến thức cho người làng nghề về cách

a. Sở Công thương
- Xây dựng và thực hiện các quy hoạch phát triển nghề và làng nghề, quy hoạch
điểm công nghiệp làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
- Xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch hỗ trợ, phát triển nghề và làng
nghề trên địa bàn;
- Thực hiện công tác đào tạo nghề cho người lao động, nâng cao năng lực quản lý
và khởi sự doanh nghiệp cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề; công tác hỗ trợ
các cơ sở sản xuất làng nghề đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ
mới; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất mới;
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại cho các làng nghề, cơ sở sản xuất trong
làng nghề.
- Đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình.
b. Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Chủ trì cân đối nguồn vốn và phân bổ vốn cho Chương trình bảo tồn và phát triển
nghề và làng nghề.
- Phối hợp với các Sở, ban, ngành, các địa phương thực hiện chương trình.
c. Sở Tài chính
- Bố trí ngân sách để triển khai Chương trình theo đúng quy định hiện hành.
- Chủ trì hướng dẫn cơ chế tài chính đối với những chính sách hỗ trợ của Chương
trình.
- Phối hợp cùng Sở Công thương hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chi tiêu tài chính
thực hiện Chương trình.
d. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chủ trì xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất tại
các làng nghề.
- Cung cấp các dịch vụ nhằm phát triển vùng nguyên liệu như: cây, con giống,
phân bón, thuốc trừ sâu… đáp ứng nhu cầu của các làng nghề thủ công mỹ nghệ,
chế biến nông sản thực phẩm…
- Phối hợp với các Sở, ban, ngành, các địa phương thực hiện chương trình.
đ. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

4.4.1 Nguồn nhân lực
Tăng cường công tác đào tạo nghề theo hình thức truyền nghề, nhân cấy nghề.
Xây dựng cơ chế khuyến khích các nghệ nhân trực tiếp mở lớp truyền nghề, thợ
giỏi tham gia đào tạo, chú trọng đến các nghề truyền thống, cổ truyền. Khuyến
khích và hỗ trợ cho các làng nghề tự tổ chức và thành lập các Trung tâm đào tạo
nghề.
Thường xuyên tổ chức phong tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, bàn tay vàng
cho các lao động làng nghề, danh hiệu làng nghề truyền thống, nghề truyền thống;
Hàng năm tổ chức trao giải “Sản phẩm tiêu biểu” cho các sản phẩm mới kết hợp
với cuộc thi sản phẩm thủ công và tổ chức các cuộc thi tay nghề cho thợ thủ công.
Phát triển nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về kỹ
thuật, tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở
sản xuất tại làng nghề, dạy nghề cho lao động nông thôn, tổ chức cho các chủ
doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất, giao lưu, tham quan học hỏi kinh nghiệm phát
triển làng nghề ở trong và ngoài nước. Mỗi địa phương có chế độ ưu đãi để thu hút
các nghệ nhân, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi tham gia vào phát triển ngành nghề,
làng nghề.
Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị nhằm giới thiệu các kinh
nghiệm quản lý, sản xuất kinh doanh, khoa học công nghệ mới và các lĩnh vực liên
quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề.
4.4.2 Nguồn vốn
Việc huy động vốn để thực hiện chương trình bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề
trên địa bàn Thành phố với các nhiệm vụ cụ thể: bảo tồn và phát triển làng nghề
truyền thống; xây dựng làng nghề kết hợp với du lịch ; xây dựng, phát triển làng
nghề mới thông qua các chương trình đào tạo nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề
mới; xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề. Tổng kinh
phí dự kiến: 2.470 tỷ đồng, được phân giai đoạn thực hiện như sau :
Năm 2011
Lựa chọn từ 2 đến 3 làng cho mỗi chương trình để đầu tư, xây dựng thí điểm, sau
đó rút kinh nghiệm và nhân rộng. Cụ thể :

hóa, văn nghệ theo đặc thù của từng làng nghề. Có sơ đồ hướng dẫn hệ thống giao
thong trong làng nghề, các vị trí di tích lịch sử, trung tâm thương mại dịch vụ,
điểm đến của làng nghề được đặt ngay từ đầu làng bằng 2 ngôn ngữ Anh – Việt.
Phát hành tờ rơi giới thiệu quá trình hình thành phát triển nghề, làng nghề.
Hỗ trợ một số cơ sở sản xuất hoàn thiện việc tổ chức sản xuất và có điều
kiện cho khách làm thử một số công đoạn để lựa chọn là điểm đến trong làng nghề
Tập huấn kỹ năng phục vụ du lịch cho các hộ sản xuất
Xây dựng các tour du lịch ngay tại làng nghề kết hợp vớ cảnh quan thiên
nhiên, đồng thời gắn với các tour du lịch khác
Đảm bảo an ninh, an toàn, trật tự, văn minh thương mại.
4.5.2 Phát triển làng nghề kết hợp với việc bảo vệ môi trường.
Rà soát, đánh giá sự phân bố các cơ sở sản xuất (có ảnh hưởng đến môi
trường) trong làng nghề làm cơ sở đề xuất với chính quyền địa phương, di dời vào
khu vực sản xuất tập trung đã được quy hoạch.
Nghiên cứu giải pháp thu gom chất thải cần xử lý, xác lập vị trí đầu tư xây
dựng hệ thống xử lý sao cho thuận lợi về vận hành sử dụng, tiết kiệm về kinh tế, có
khả năng hoạt động lâu dài, bền vững.
Lựa chọn và lắp đặt thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường có công nghệ tiên tiến
cùng với một số cơ sở hạ tầng đồng bộ, phù hợp với điều kiện vận hành tại làng
nghề, chất thải sau khi xử lý phải đạt theo tiêu chuẩn chất thải công nghiệp theo
TCVN 5945 – 1995.
Thiết lập hệ thống quản lý, vận hành, bảo dưỡng thiết bị trong quá trình sử
dụng, xây dựng công trình, kế hoạch và dự trù nguồn kinh phí bảo trì hệ thống xử
lý, đảm bảo cho hệ thống hoạt động lâu dài, phát huy hiệu quả đầu tư.
4.5.3 Khôi phục các làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một
Xây dựng các phòng hoặc nhà trưng bày, bảo tàng nghề, làng nghề trên cơ sở
sưu tầm, thu thập các tư liệu, sản phẩm của nghề. Xây dựng khu trình diễn nghề
cho nghệ nhân, các hộ làm nghề phục vụ nhu cầu du lịch, văn hóa và phục vụ xúc
tiến thương mại nhằm tìm kiếm mở rộng thị trường. Xây dựng bộ giáo trình và tổ
chức các lớp đào tạo nghề cho người lao động.

ngoài nước vào các tuyến, các điểm du lịch làng nghề truyền thống; các Hội, Hiệp
hội, câu lạc bộ nghề được thành lập; thu nhập, đời sống của người lao động ở nông
thôn ngày càng được nâng cao đã đưa Hà Nội trở thành nơi hội tụ nhiều làng nghề
nhất cả nước, đặc biệt là nghề, làng nghề truyền thống với bề dày phát triển hàng
trăm năm.1.Số lượng nghề và làng nghề.Cụ thể:
1.Số lượng nghề và làng nghề
Hiện nay, Thành phố có 1.350 làng nghề và làng có nghề chiếm gần 59% tổng số
làng, trong đó 244 làng có nghề truyền thống. Số làng có nghề phân bố không đều
đa số tập trung chủ yếu ở các huyện: Phú Xuyên 124 làng, Thường Tín 125 làng,
Chương Mỹ 174 làng, Ứng Hoà 113 làng, Thanh Oai 101 làng, Ba Vì 91 làng ,
một số huyện có số lượng làng có nghề ít như: Thanh Trì 24 làng, Gia Lâm 22
làng, Từ Liêm 11 làng Hết năm 2009, đã có 272 làng nghề được Uỷ ban nhân
dân cấp bằng công nhận danh hiệu làng nghề (255 làng do Uỷ ban nhân dân tỉnh
Hà Tây trước đây công nhận và 01 làng thuộc huyện Mê Linh do Uỷ ban nhân dân
tỉnh Vĩnh Phúc công nhận), trong đó có 198 làng nghề truyền thống được công
nhận.
Đến nay, theo đánh giá của tổ chức JICA Nhật Bản, Thành phố Hà Nội có 47 nghề
trên tổng số 52 nghề của toàn quốc với hàng chục nhóm nghề đang có chiều hướng
phát triển như: gốm sứ, dệt may, da giày, điêu khắc, khảm trai, thêu ren, sơn mài,
mây tre đan, dát vàng bạc quỳ, đúc đồng, kim hoàn, chế biến nông sản thực phẩm,
cơ kim khí…, trong đó, có một số nhóm ngành nghề đang có xu hướng phát triển
nhanh như: gốm sứ, khảm trai, mây tre đan, sơn mài, điêu khắc…
2.Số lượng việc làm,thu nhập của người lao động trong làng nghề.
Hoạt động ngành nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đã thu hút
được số lao động tham gia sản xuất trong các làng có nghề là 626.557 người với
166.393 hộ sản xuất, 2.063 công ty cổ phần, 4.562 công ty TNHH, 1.466 Doanh
nghiệp tư nhân, 164 Hợp tác xã và 50 Hội, Hiệp hội, trong đó số lao động tại chỗ là
412.500 người (chiếm 64,93% tổng số lao động trong làng và chiếm 41,32% tổng
số lao động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên toàn Thành phố), và
số lao động từ các nơi khác đến làm thuê là 214.057; Số lao động trong các làng

Đông) mỗi làng đạt 416 tỷ đồng/năm, làng nghề gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia
Lâm) 350 tỷ đồng/năm, làng nghề dệt kim, sản xuất bánh kẹo La Phù (huyện Hoài
Đức) đạt 810 tỷ đồng/năm.
4.Khoa học công nghệ.
Do bước đầu kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản phẩm
của làng nghề đã tinh xảo, hiện đại hơn, năng suất lao động được nâng cao. Các
công đoạn sản xuất vốn sử dụng lao động cơ bắp trước đây như xay nghiền bột ở
làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, khoan, bào, cưa, xẻ ở làng nghề chế biến
lâm sản, kéo bễ quạt lò ở các làng nghề cơ kim khí, nghiền trộn đất ở làng nghề
gốm Bát Tràng nay đã thay thế bằng máy móc cơ khí, năng suất lao động được
nâng cao. Mặc dù có một số công đoạn được sử dụng bằng máy móc thiết bị song
đối với ngành nghề thủ công truyền thống như: gốm sứ, mây tre đan, làm nón, gỗ
mỹ nghệ, công đoạn sản xuất chính vẫn phải làm bằng tay, không thể áp dụng máy
móc cơ giới toàn bộ cho quy trình sản xuất, vì vậy sản phẩm làng nghề vẫn giữ
được nét độc đáo riêng có. Song do phần lớn máy móc công cụ là tự chế tạo,
chuyển đổi công năng hoặc có nguồn gốc do các doanh nghiệp quốc doanh thanh
lý hoặc nhập khẩu từ các nước có trình độ công nghệ thấp nên năng xuất và chất
lượng sản phẩm bị ảnh hưởng. Qua đó cũng có thể thấy về tiềm năng áp dụng khoa
học công nghệ để nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm thủ công nói chung và
thủ công mỹ nghệ nói riêng
5.Môi trường.
- Thiết lập vành đai xanh dọc sông Nhuệ, hành lang xanh dọc sông Tích, sông Đáy,
sông Cà Lồ đáp ứng môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp đã tạo cho nhân dân các
làng nghề ở các vùng trên nâng cao ý thức và có nhiều biện pháp để bảo đảm vệ
sinh môi trường nhất là ở các làng nghề gây ô nhiễm.
-Các cơ sở sản xuất đã bước đầu được rời xa khu dân cư,các biện pháp về bảo vệ
môi trường đã được chú trọng.Một số làng nghề đã có hệ thống xử lý nước thải
hiện đại tách riêng với nước thải sinh hoạt của địa phương.
- Công tác quản lý và những giải pháp bảo vệ môi trường đã được quan tâm. Chính
quyền địa phương tích cực tuyên truyền và chỉ đạo nhân dân thực hiện về bảo vệ

trong việc cấp quyền sử dụng đất, cho thuê đất lâu dài, chuyển giao kỹ thuật khoa
học công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, miễn giảm thuế, cho vay
lãi xuất ưu đãi…
Cơ quan quản lý nhà nước về làng nghề còn chồng chéo, các chính sách hỗ trợ cho
phát triển nghề và làng nghề còn bất cập, chưa hoàn chỉnh, chưa đi sâu và tác động
mạnh mẽ đến các cơ sở sản xuất trong làng nghề, chỉ tập trung vào các nghĩa vụ
của làng nghề, của các cơ sở sản xuất trong làng nghề mà chưa chú trọng nhiều đến
các quyền lợi.
- Các văn bản hướng dẫn nội dung khuyến công, phát triển nghề, làng nghề còn
chung chung, chưa xác định rõ, cụ thể các nội dung, hình thức thực hiện; chưa
hướng dẫn rõ và thiếu các định mức, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, đơn giá làm căn
cứ thiết kế, lập dự toán kinh phí cho các dự án khuyến công, phát triển nghề, làng
nghề; một số mức chi cụ thể đang áp dụng thấp không phù hợp nên việc lập, thẩm
định, phê duyệt các đề án còn chậm, triển khai một số hoạt động phát triển nghề,
làng nghề còn gặp khó khăn;
-Kinh phí ngân sách của địa phương dành cho công tác khuyến công, phát triển
nghề, làng nghề còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
- Chưa xây dựng và ban hành được bộ tiêu chuẩn quy định về mức hỗ trợ kinh phí
khuyến công từ ngân sách địa phương để thực hiện các đề án trên địa bàn;
- Chưa ban hành được văn bản hướng dẫn quy trình thống nhất về quản lý, đánh
giá các dự án khuyến công;
- Mạng lưới cán bộ quản lý và thực hiện công tác phát triển nghề, làng nghề mới có
ở cấp tỉnh, thành phố; Đối với cấp huyện với hàng chục làng nghề, hàng trăm
doanh nghiệp cũng chỉ có tối đa là 2 biên chế cho lĩnh vực quản lý nhà nước về
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; ở nhiều làng nghề, xã nghề có doanh thu hàng
trăm tỷ đồng với hàng nghìn hộ sản xuất nhưng chưa có người chuyên phụ trách
công tác quản lý nhà nước về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Vì vậy việc
truyền đạt, phổ biến, thực thi các cơ chế chính sách, việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm
tra, giám sát việc phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở các
làng, các xã còn phụ thuộc vào sự nhiệt tình với khả năng ít chuyên môn của lãnh

những mặt hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái nên đã ảnh hưởng không nhỏ
đến uy tín của sản phẩm làng nghề.
Lao động ở các làng nghề có phần bị hạn chế về trình độ học vấn, đa số không qua
đào tạo cơ bản nên gặp khó khăn khi tiếp thu công nghệ mới. Mặt khác phần đông
người lao động ở làng nghề chưa tách rời hẳn nông nghiệp nên tác phong sản xuất
công nghiệp và ý thức hoạt động nghề còn mang tính thời vụ rõ rệt.
Do việc sản xuất nhỏ lẻ, mang tính thời vụ nên công tác quản lý thu thuế đối với
hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề còn nhiều bất cập.
Các điểm công nghiệp làng nghề triển khai còn chậm và không đồng bộ về hạ tầng
đã làm lỡ cơ hội đầu tư của các cơ sở sản xuất.
Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về vai trò làng nghề chưa toàn
diện; Các cấp, các ngành chưa tập trung cao cho công tác phát triển nghề, làng
nghề.
Tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách về phát triển nghề, làng nghề từ Trung ương
đến địa phương còn nhiều bất cập, đang hoàn chỉnh và chưa thống nhất, đội ngũ
cán bộ ở cơ sở đa số chưa có chuyên môn, không chuyên trách và thường xuyên
thay đổi, chưa có mạng lưới khuyến công ở cơ sở;
Một số làng nghề sản xuất theo hướng có nhiều doanh nghiệp tổ chức sản xuất tập
trung với quy mô tương đối lớn thu hút lao động ngoài địa phương, tuy nhiên công
nghệ sản xuất thấp kém, không quan tâm đến môi trường, an toàn cháy nổ, phá vỡ
không gian làng nghề.
Các làng nghề chưa quan tâm chú trọng đến công tác xây dựng và phát triển
thương hiệu. Các sản phẩm của làng nghề chưa được quảng bá rộng rãi và tính
cạnh tranh của sản phẩm chưa cao.
Tỷ lệ lao động được đào tạo mang tính chuyên nghiệp còn ít, phần lớn người lao
động được đào tạo qua việc truyền nghề “cầm tay chỉ việc”.
Chưa có cơ chế thu hút các nguồn vốn khác, chưa có nguồn quỹ riêng để phục vụ
cho phát triển nghề, làng nghề.
Kinh phí ngân sách dành cho phát triển nghề, làng nghề còn ít. Nội dung công tác
khuyến công mới đáp ứng được một phần nhu cầu phát triển làng nghề, ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status