MỤC LỤC
Mục lục
Phần thứ nhất: Lý do chọn đề tài
Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phương pháp cung cấp ngữ liệu
mới khi giảng dạy tiếng anh đối với học sinh Trung học cơ sở
2.2. Những khuynh hướng học sinh học từ mới và những khó khăn
của học sinh trong khi học từ mới
2.3. Tìm hiểu thực trạng về khuynh hướng học từ mới của học sinh
trường Trung học cơ sở Hà Tây.
2.4. Cách thức giúp học sinh giải quyết những khó khăn trong việc
học từ vựng
Phần thứ ba: Kết luận
Phụ lục: Vui học tiếng Anh qua thơ
Tài liệu tham khảo
Trang
Phần thứ nhất
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việc học từ mới là một phần rất quan trọng trong việc học hỏi bất cứ một
ngôn ngữ nào. Đặc biệt việc học từ mới tiếng Anh đối với học sinh Trung học
cơ sở lại càng quan trọng hơn vì từ mới là một phần cấu tạo nên câu và nó sẽ
là mọi nền tảng vững chắc tạo đà cho các em trong các năm học sau này. Tuy
nhiên không phải ai cũng thành công trong việc hướng dẫn học sinh học tốt từ
vựng. Đặc biệt là những giáo viên mới ra trường và công tác ở các trường
không thuận lợi. Bởi vì nếu chúng ta dạy từ vựng cho học sinh mà học sinh
chỉ hiểu nghĩa, chỉ nhận biết mặt chữ thì việc học từ vựng chưa có hiệu quả.
Tôi đã mạnh dạn làm đề tài nghiên cứu này với hi vọng tìm được những tài
liệu và kinh nghiệm hữu ích của những người đi trước để giúp cho bản thân và
những ai đọc tài liệu này. Từ đó sẽ có một hướng giúp học sinh học từ vựng
có hiệu quả hơn và giúp học sinh phát huy hết khả năng của mình trong việc
của con người.
Như vậy từ là cơ sở hay vật liệu cơ bản để xây dựng ngôn ngữ, mỗi con
người có có được một ngôn ngữ nào đó chính là họ tập hợp được những từ,
hay nói cách khác là họ có một vốn từ vựng của một ngôn ngữ. Do vậy, từ
vựng chính là vốn từ của một ngôn ngữ.
Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội
dung ngữ nghĩa) mà mỗi cá nhân tích luỹ được trong ký ức của mình. Vốn từ
ở từng người cụ thể không ai giống ai. Vốn từ nhiều hay ít, đa dạng hay đơn
giản tuỳ thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự tiếp xúc giao lưu
văn hoá ngôn ngữ của từng người.
Vốn từ được tích luỹ trong đầu óc con người không phải là một mớ hỗn tạp
và được tổ chức thành một hệ thống liên tưởng nhất định. Có thể nói từ ngữ
phải được tồn tại trong đầu óc con người như là một hệ thống thì mới được
tích luỹ nhanh chóng và được sử dụng một cách dễ dàng.
Dựa vào tần số sử dụng từ trong đời sống, người ta chi vốn từ thành vốn từ
tích cực và vốn từ thụ động.
Trong tiếng Anh, sự phân định từ loại nghĩa là xếp tất cả các từ của một
ngôn ngữ thành những lớp, những nhóm căn cứ vào đặc trưng ngữ pháp của
chúng. Phát triển và mở rộng vốn từ cho học sinh cần mở rộng theo từ loại
như danh từ, động từ, tính từ…
Tính hệ thống của ngôn ngữ nói chung, của từ nói riêng là cơ sở để xây
dựng phương pháp mở rộng vốn từ. Dạy từ ngữ còn tính đến đặc điểm của từ
trong hệ thống ngôn ngữ, trong quan hệ với hiện thực khách quan. Dạy từ ngữ
không thể xem xét từ một cách cô lập, riêng lẻ mà phải thấy được mối quan hệ
với các từ khác. Có nghĩa là dạy từ phải tính đến quan hệ ý nghĩa của từ với
các từ khác bao quanh, các chức năng khác nhau. Do đó, khi giảng dạy từ,
phải đặt nó trong mối quan hệ với các từ xung quanh trong hệ thống ngôn ngữ.
Vì vậy, chúng tôi chọn tính hệ thống của từ làm cơ sở lý luận cho đề tài của
mình.
Khi có một vốn từ nhất định, muốn sử dụng được vốn từ đó trong hoạt động
b) Cơ sở tâm lý ngôn ngữ học
Tâm lý ngôn ngữ học là một khoa học liên ngành, nghiên cứu hoạt động tâm
lý trong quá trình sử dụng ngôn ngữ và hình thành ngôn ngữ ở con người.
Muốn sử dụng từ ngữ trong hoạt động giao tiếp thì đầu tiên người sử dụng
phải có năng lực từ ngữ, nghĩa là phải có một vốn từ phong phú, đa dạng được
sắp xếp một cách có khoa học.
Nghiên cứu quá trình phát triển vốn từ, tâm lý ngôn ngữ học hiện đại cho
thấy từ tích luỹ trong đầu óc chúng ta theo mối liên tưởng nào đó. Nói về sự
liên tưởng các từ, khi kích thích gần nghĩa sẽ đo được phản ứng như nhau.
Còn khi thay đổi kích thích thì không đo được phản ứng.
Chúng ta thực sự nắm nghĩa của từ khi chúng ta nắm được hệ thống các mối
quan hệ, nắm được sự đối lập trong quá trình sử dụng chúng trong hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ. Hiện tượng tâm lý nàycó vai trò rất quan trọng trong
giảng dạy ngữ liệu mới. Chúng ta có thể làm giàu kiến thức ngôn ngữ cho học
sinh dựa trên quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ thông qua các hoạt động giao tiếp.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
a) Đối với giáo viên
Đa số giáo viên đều mong muốn giờ dạy của mình thành công. Thấy được ý
nghĩa và tác dụng của việc cung cấp ngữ liệu mới. Việc dạy của giáo viên
được tiến hành một cách có kế hoạch, mang tính chủ động qua các giờ dạy và
học. Có không ít giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, hiểu biết sâu sắc về
phương pháp dạy học bộ môn, kiến thức vững vàng, có tay nghề khá và nhạy
cảm trước những đòi hỏi mới của xã hội đã có nhiều giờ dạy tốt.
Về nhận thức: Phần lớn giáo viên chưa nhận thức được vai trò, vị trí của
việc ứng dụng ngữ liệu mới vào việc thực hành phát triển các kỹ năng thông
qua hoạt động giao tiếp. Nhiều giáo viên cho rằng việc củng cố lại ngữ liệu
mới chỉ là phần phụ nên chưa quan tâm nhiều đến việc kiểm tra việc lĩnh hội
ngôn ngữ của các em; dần đần quên đi phương pháp củng cố lại kiến thức
trong việc phát triển các kỹ năng thông qua các hoạt động giao tiếp nhằm kích
thích sự quan tâm và hứng thú của các em vào bài học và vô hình chung đã
Kinh thì là con em của những gia đình nghèo vào xã Hà Tây làm ăn sinh sống,
cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, ngoài giờ đến trường các em còn phải phụ
giúp gia đình, không có thời gian học bài và chuẩn bị bài. Chính vì vậy mà các
em thường hay vắng học và không học bài. Môn Tiếng Anh không khó lắm
nhưng đòi hỏi phải chuyên cần, chịu khó và không thể học dồn vào một thời
gian ngắn mà phải học liên tục không thể để mất kiến thức và hổng kiến thức.
Các em phần lớn học yếu do tiếp thu kiến thức chậm và hay nghỉ học nhiều
nên bị hổng kiến thức. Khi đã học yếu thì các em học yếu thì các em rất chán
nản và muốn bỏ học. Do đó người giáo viên cần phải khéo léo để giúp các em
thêm tự tin vào việc học ở trường nói chung và môn Tiếng Anh nói riêng. Cần
tạo không khí học tập thoải mái vui vẻ, tích cực để giúp các em chủ động lĩnh
hội kiến thức, tự giác ôn bài, học bài ( nhất là đối với học sinh yếu kém).
2.2. Những khuynh hướng học sinh học từ mới và những khó khăn của
học sinh trong khi học từ mới.
2.2.1.Học thuộc lòng từ.
Với cách học này chúng ta thường thấy học sinh học “go” là đi, “ school”
là trường, “no” là không, “table” là bàn, “ chair” là ghế
Những khó khăn chúng ta thường thấy là học sinh dễ quên và các em
thường lắp ghép từ theo cảm tính như nghĩa tiếng Việt như “ eat morning”
nghĩa là ăn sáng, hoặc “ no table”, “ She is a girl beautiful”
2.2.2.Học từ bằng cách học thuộc lòng nguyên câu, học thuộc bài đàm
thoại.
Ví dụ: I’m going to school.
Học sinh có thể hiểu nghĩa của câu trên là “ Tôi đang đí đến trường”.
Nhưng khi chúng ta hỏi từ “ go” nghĩa là gì và nó có chức năng gì trong câu
thì các em lại không biết. Nghĩa là các em chỉ nhận biết nghĩa của từ khi đọc
hết câu thôi.
2.2.3. Viết từ nhiều lần.
Chúng ta thường thấy học sinh học từ bằng cách viết từ vào những tờ giấy
hoặc trên bảng. Việc học như thế này giúp học sinh nhớ từ khi viết, khi đọc và
Khuynh hướng học từ mới của học sinh trường Trung học cơ sở Hà Tây:
Qua điều tra 240 em ở 4 khối 6, 7, 8 và 9 tôi nhận được kết quả sau:
Câu hỏi: Em thường học từ mới bằng cách nào?
Thu được kết quả qua bảng sau:
Bảng 1:
STT Vấn đề điều tra Biểu hiện cách học của học sinh. Số HS Tỉ lệ %
1 Cách học từ mới Viết nhiều lần
Đọc thuộc lòng
Học thuộc lòng nguyên câu
Đọc như đánh vần tiếng Việt
Học từ trong từ điển
94
72
50
12
12
39%
30%
21%
5%
5%
Những trở ngại mà các em gặp phải khi học theo các cách trên:
Với những cách học trên của học sinh và theo phân tích trong chương trình
một thì học sinh trường Trung học cơ sở Hà Tây gặp những trở ngại như sau:
- 96 em học từ mới bằng cách viết từ nhiều lần thì vốn từ của các em rất
nhiều tuy nhiên các em thường gặp khó khăn trong khi nói và đây là tình trạng
chung của học sinh Việt Nam.
- 72 em học từ mới bằng cách đọc thuộc lòng từng từ. Các em đọc chuẩn
và hiểu được người ta nói tiếng Anh với mình khi giao tiếp, nhưng các em sẽ
lúng túng khi viết, và tất nhiên sẽ sai lỗi chính tả.
48
72
20%
30%
2.3.2. Những nguyên nhân tác động đến phương cách học từ mới và hứng
thú học từ mới của học sinh.
a) Nguyên nhân chủ quan.
Học sinh ở cấp Trung học cơ sở bước đầu học môn tiếng Anh cho nên các
em có rất nhiều bỡ ngỡ và các em chưa biết phát huy hết khả năng của mình,
trong việc nghiên cứu một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ.
Điều kiện cơ sở vật chất trang bị
b) Nguyên nhân khách quan.
Sở dĩ kết quả học sinh không thích học phần từ mới hơn những phần khác
trong bài theo tôi có một nguyên nhân là do đa số các thầy cô phương pháp
dạy là dịch ra tiếng Việt. Điều này làm cho giờ dạy từ mới trở nên tẻ nhạt vì
giáo viên thường ít tạo được những ấn tượng đặc biệt cho học sinh trong khi
giới thiệu từ mới. Học sinh không thường được kích thích sự tò mò về từ vựng
mới sắp học. Và tất nhiên nó không tạo cho học sinh những hứng thú khi học
từ mới. Bên cạnh đó trường Trung học cơ sở Hà Tây đa số là giáo viên tuổi
nghề không cao. Các thầy cô đa số là giáo viên mới ra trường chưa am hiểu
nhiều phong tuc tập quán của đồng bào địa phương. Đặc biệt là sự hạn chế về
ngôn ngữ dẫn đến việc giao tiếp, khai thác để truyền thụ kiến thức cho học
sinh còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Trong giảng dạy do thời gian hạn
hẹp nên giáo viên chưa chú ý và chưa thường xuyên tái hiện củng cố kiến thức
cũ để xây dựng kiến thức mới có hệ thống mà chủ yếu tập trung chú ý trình tự
của một tiết dạy, hơn nữa do học sinh tiếp thu kiến thức chậm nên phần lớn
thời gian tiết học dành cho phần lý thuết của bài học, ít thời gian luyện tập có
hướng dẫn rèn luyện kỹ năng vận dụng giải bài tập vận dụng ngữ liệu đã cung
cấp trước đó cho học sinh. Mặt khác các thầy cô giáo chưa có kế hoạch phù
hợp cho việc lấp những kiến thức hẫng hụt ở lớp dưới để tạo tạo điệu kiện cho
câu mới.
Có những từ mới mà chúng ta không thể tách rời khi dạy cho học sinh, mà
phải dạy trong cụm từ, trong ngữ cảnh. Và giáo viên cần phải giải thích rõ
điều này cho học sinh.
Khi giới thiệu từ mới xong giáo viên nên kiểm tra việc nắm bài của học
sinh bằng cách đưa tình huống để học sinh sử dụng từ vừa học để tái tạo lại
những câu trong bài. Hoặc nếu trình độ lớp khá hơn chúng ta có thể yêu cầu
học sinh đặt câu có từ vừa học. Việc làm này vừa kiểm tra việc sử dụng từ vừa
học của học sinh kết hợp với việc ôn từ đã học trong các bài trước. Và đặc biệt
là khuyến khích học sinh dùng từ mới để thực hành nói tiếng Anh trong lớp.
Sơ đồ dưới đây toát lên tầm quan trọng của việc thực hành luyện tập tiếng
Anh:
- The Process of Vocabulary Expansion:
presented practice
+ Unknown > Passive Vocabulary >Active Vocabulary
looked up in
dictionaries
Besides, there is always an oppsite process regularly occurring in the
language learner’s memory.
little practice no practice
+ Active Vocabulary >Passive Vocabulary >Unknown
Ở Việt Nam chúng ta, việc học ngoại ngữ có nhiều hạn chế. Vì chúng ta
học ngoại ngữ trong điều kiện không có môi trường tiếng. Nghĩa là học sinh
chúng ta ít có cơ hội để thực hành ngôn ngữ ở ngoài đời thật. Vì chúng ta ít
được tiếp xúc với người bản xứ (người Anh, người Mỹ ). Hoặc là học sinh
chúng ta không đủ mạnh dạn để giao tiếp với người nước ngoài mặc dù các
em có rất nhiều từ mới và cấu trúc câu. Vì các em không có nhiều cơ hội nói
tiếng Anh hoặc nghe tiếng Anh được nói trong lớp. Vì vậy nhiệm vụ của
người giáo viên là bên cạnh việc dạy từ mới, giúp học sinh nhớ từ kĩ, hiểu
cách sử dụng của từ, thì giáo viên nên cho học sinh luyện tập ngôn ngữ bằng
thấy vật thật.
a2) DÙNG TRANH ẢNH
Chúng ta cũng có thể giới thiệu bằng cách dùng tranh ảnh kết hợp giảng
giải. Tranh ảnh có thể vẽ trực tiếp lên bảng, vẽ trước ở nhà, dùng hình gậy đơn
giảng, hoặc sử dụng tranh từ sách báo. Chúng ta chỉ vào tranh nói tình huống
để học sinh đoán nghĩa của từ.
Ví dụ: Hôm nay chúng ta dạy từ “ beach” chúng ta có thể dùng một tranh
vẽ về bờ biển có đông người
Giáo viên nói rõ ràng: “ Trong tranh này họ đang ở “beach” vậy khi nhìn
vào tranh các em có thể đoán được nghĩa “beach” trong tiếng Việt là gì
không?”
a3) DÙNG CỬ CHỈ, ĐIỆU BỘ
Chúng ta có thể dùng điệu bộ, hành động và những biểu lộ trên nétt mặt để
giới thiệu từ mới cho học sinh, chúng ta còn dùng phương pháp này với hầu
hết những động từ chỉ hành động và một số tính từ chỉ trạng thái
Dạy từ bằng trực quan là một phương pháp rất hiệu quả. Nó nhanh chóng,
thú vị và tạo được ấn tượng trong lơp. Dĩ nhiên không phải tất cû mọi từ đều
có thể dạy bằng phương pháp trực quan, mà chúng ta chỉ nên sử dụng phương
pháp này đối với những từ mà chúng ta có thể giới thiệu cho học sinh một
cách nhanh chóng, dễ dàng.
a4) DÙNG VÍ DỤ
Chúng ta có thể giảng nghĩa của từ bằng cách đưa ra những ví dụ đơn giản.
Một ví dụ tốt để dạy từ là một ví dụ phải kiến thức một cách rõ ràng nghĩa của
từ đối với người chưa hề biết từ đó. Cách dạy từ bằng ví dụ đặc biệt hữu ích
với những từ trừu tượng như love, happines.
a5)DỊCH THẲNG RA TIẾNG VIỆT HAY TIẾNG MẸ ĐẺ CỦA HỌC
SINH
Đây là một phương pháp đơn giản nhất, rõ ràng nhất để dạy nghĩa của một
từ. Nhưng nếu chúng ta dịch thẳng ra như vậy sẽ không tạo được cho học sinh
một ấn tượng nào về từ mới và học sinhßẽ khó biết được cách dùng từ này
- Giáo viên lần lượt đọc bằng tiếng Việt những từ có trên bảng.
- Học sinh đánh dấu (V) vào từ có trong giấy mà giáo viên đọc.
- Giáo viên cứ lần lượt đọc những từ trên bảng bằng tiếng Việt. Học sinh
nào có đánh dấu X đủ 5 từ trong giấy trước tiên đó là người chiến thắng.
b3) VOCABULARY RACE:
Mục đích:
Trò chơi này rất đơn giản không cần phải chuẩn bị nhưng rất thú vị vì
học sinh có động cơ thi đua trong học tập.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên chọn hai học sinh từ hai nhóm khác nhau lên bảng. Giáo
viên chia bảng làm hai và cho học sinh thời gian cố định hai phút.
+ Học sinh viết những từ chúng đã học trong bài vào cột đúng. các bạn
còn lại trong nhóm cổ vũ bạn bằng cách nhắc câu trả lời cho đồng đội của
mình. Nhóm nào nhiều từ nhất thì thắng cuộc.
b4) ORGANIZING WORDS:
Mục đích:
Ôn từ mới, giúp học sinh luyện tập phân loại từ: danh từ, động từ, tính
từ, trạng từ, giới từ…
Cách tiến hành:
+ Giáo viên chọn một số từ trong một bài và viết vào “flipchart”.
+ Học sinh làm việc theo nhóm hay cặp để sắp xếp.
Ví dụ:
Bài 10: HEALTH AND HYGIENE – Sách Tiếng Anh 7:
Flipchart:
touch tidy surgery strange polish painful neglect iron
scared serious dentist harvest appointment fill cavity
Nouns Verbs Adjectives
surgery
dentist
harvest
a chair a television a stereo
Ví dụ: Hay khi dạy bài 3: AT HOME – Tiết 1 – Phần A1 -Trang 29 –30
Sách Tiếng Anh 7, giáo viên có thể giúp học sinh ôn tập lại từ vựng đã học khi
cho học sinh thảo luận chủ đề “Những đồ vật trong nhà tắm, nhà bếp… và
học sinh có thể lên dàn ý sau khi giáo viên giải thích cuộc sống tiện nghi, thoải
mái ở thành phố, thị trấn và xem tranh ảnh như sau:
washing machine dryer refrigerator
kitchen
dishwasher electric stove
a tub a sink
bathroom
a shower
rice milk beef
chicken food and drink
fish vegetables fruits
Ví d ụ:
Khi dạy bài 4: SCHEDDULES . Tiết 1 A1-1,4 –Trang 29 –31- Sách
Tiếng Anh 7, giáo viên có thể giúp học sinh vẽ sơ đồ các môn học trong nhà
trường:
Math Vietnamese language & Literature History
Biology Physics
Geography Subjects Fine Arts
Physical Education Civic Education
Music English Technology Chemistry
b6) NOUGHTS AND CROSSES
Mục đích:
Giúp học sinh đặt câu dùng từ mới học.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên kẻ bảng có 9 ô.
+ Học sinh thực hành theo cặp. Một học sinh chép lại khung trên bảng
lên bảng sửa.
Ví dụ:
Chủ đề: clothes
rsesd = dress bseluo = blouse
tshri = skirt stsruoer = trousers
b8) FINDING FRIENDS
Mục đích:
Dùng thủ thuật hay trò chơi này khi từ mới được dạy có phần liên kết
giữa tính từ với danh từ, hoặc những từ theo sau động từ hay danh từ…
(collocation problems).
Cách tiến hành:
+ Giáo viên kẻ bảng và yêu cầu học sinh ( ♦ ) mà chúng nghĩ là “đi’ với
nhau (go together).
Ví dụ: dark eyes; dark hair…
Nếu từ nào không “đi” được thì chúng bỏ trống. Nếu không chắc cắn
thì (?), ví dụ: black hair (?).
Vì thường mất nhiều thời gian để kiểm tra nên giáo viên chú ý đến
những chỗ mà học sinh hay sai hoặc (?) do ảnh hưởng của tiếng phổ thông
hoặc tiếng Bahnar-tiếng mẹ đẻ của các em.
eyes nose Hair
big
♦ ♦
small
long
♦
short
dark
♦
black
♦
vegetables. He gets up early and
goes to bed late.
b11) GUESS THE PICTURE
Mục đích:
Giúp học sinh luyện tập từ mới một cách có ý nghĩa.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên chuẩn bị tranh theo cỡ giấy A
4
.
+ Giáo viên mời một học sinh lên trước lớp và chọn một trong nhiều
bức tranh. Bảo đảm các bạn khác trong lớp không thấy bức tranh đó. Nhưng
học sinh ngồi trong lớp đoán tranh bằng cách hỏi: “Is it a __?”
+ Học sinh đầu tiên đoán đúng tranh thì mờ lên bảng chọn một tranh và
trò chơi tiếp tục.
b12) MATCHING
Mục đích:
Giúp học sinh biết cách nối các từ mới với định nghĩa từ đó bằng tiếng
Anh, tranh ảnh hay tiếng Việt hoặc tiếng Bahnar tương đương nhằm để tiết
kiệm thời gian cho hoạt động sao đó.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên viết từ mới ở cột trái của bảng. Sau đó giáo viên viết phần
định nghĩa hay tranh vẽ ở cột phải.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng và nối kết từ với định nghĩa hoặc
tranh bằng cách vẽ một đường nối giữa từ và định nghĩa hay tranh ảnh. Bốn
hay năm học sinh có thể lên bảng đồng thời. Kiểm tra phần làm của học sinh
bằng cách hỏi cả lớp “ Do you agree? “
Ví dụ:
Khi dạy từ vựng bài 7 – THE WORLD OF WORK – Tiết 4. Phần B 1.
The worker – Trang 76 –77 - Sách Tiếng Anh 7, giáo viên trình bày từ vựng
lên bảng trên bảng phụ dưới đây:
wash my face
thuång
get dressed
brush my teeth
get up
go to school
have
breakfast
* Hoặc tương tự khi dạy bài 9 -A FIRST-AID COURSE – Tiết 1.
Getting started & Listen and Read – Trang 80 – 81- Sách Tiếng Anh 8, sau khi
dạy các từ:
Emergency (n): tình trạng khẩn cấp, cấp cứu (giải thích nghĩa
của từ)
Ambulance (n): xe cứu thương (tranh)
Conscious (adj): còn tỉnh, tỉnh táo >< unconscious (adj): bất tỉnh
Bleeding badly (v): chảy máu (nhiều)
Giáo viên cũng có thể kiểm tra viêïc nhớ từ của học sinh bằng
trò chơi tương tự để gây hứng thú cho học sinh.
b14) WHAT AND WHERE
Mục đích:
Giúp học sinh nhớ từ mới hay ôn lại từ đã học.
Cách tiến hành:
+ Trước khi dạy tiếp bài 4 –BIG OR SMALL – Tiết 5. Phần C 1 và 3.
Getting ready for school – Trang 49- Sách Tiếng Anh 6, giáo viên gợi mở giúp
học sinh đưa ra từ và viết từ vựng mà các em đã học ở tiết trước vào các ô trên
bảng như hình vẽ dưới đây:wash my face
Việt hay tranh theo trật tự lộn xộn và yêu cầu học sinh đọc từ đó bằng tiếng
Anh. Nếu có thời gian, yêu cầu học sinh lên bảng và viết lại bằng tiếng Anh
(không được xem sách vở).
b16) HANG MAN
Mục đích:
Luyện tập đoán từ vựng đã học.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên chọn một từ và cho học sinh biết từ đó có bao nhiêu
“letters” bằng cách viết bấy nhiêu ( _ ). Mỗi ( _ ) thay cho một chữ
cái – “a letter”. Giáo viên đừng nói hay viết từ đó ra.
Ví dụ: ( HAIR) 5
- Học sinh đọc 1 “letter” trong từ đó. 6
A
8
7 4
- S
s
-> “A” giáo viên ghi __ __ __ __ 9
___
- S
s
-> “S” giáo viên vẽ 1
___ 2 10 11 3
- S
s
-> “B” giáo viên vẽ tiếp 1 2
1
- Trò chơi kết thúc khi giáo viên vẽ từ 1 -> 11 nếu học sinh không đoán
ra thì học sinh thua, còn học sinh đoán ra trước khi giáo viên vẽ nét thứ 11 thì
các em thắng.
đó hay không.
In the
kitchen
In the
bathroom
In the
bedroom
In the
living-room
Cooker Shampoo Bed Armchair
Frdge Shower Blanket Bookcase
Frying pan Soap Dressing table Cooffee table
Kettle Toobrush Pillow Sofa
Plates Towel Wardrobe C.D player
Sau khi giới thiệu kết hợp nhiều phương pháp cho học sinh phần từ mới và
nghĩa cách dùng cho học sinh đọc từ mới, đọc bài chúng ta nên giúp học sinh
củng cố phần từ mới trên lớp bằng cách đóng lại bài đối thoại mở. Nghĩa là
chúng ta để trống một vài từ mới trong bài để học sinh nhớ và điền từ đó vào
trong khi đóng vai trò lại bài đối thoại.
Hoặc trình độ của lớp khá hơn giáo viên có thể cho học sinh tình huống
mới của bài bằng tiếng Việt để học sinh nói bằng tiếng Anh.
-Như vậy chúng ta có thể vừa kiểm tra việc học sinh hiểu nghĩa của từ vừa
biết được học sinh có thể sử dụng được từ vừa học để tái tạo lại câu hoàn
chỉnh.
2.4.2. Đối với học sinh Trung học cơ sở.
Qua trao đổi với một số giáo viên và kinh nghiệm học từ mới của bản thân
tôi có một số ý như sau:
- Học theo bốn tiêu chuẩn: speling (cách viết), pronunciation (cách đọc),
meaning/s (nghĩa) và use/s (cách dùng). Sở dĩ phải học theo các tiêu chuẩn
này vì tiếng Anh vay mượn từ rất nhiều từ các ngôn ngữ khác nên gần như
Tương tự khi học một từ bạn nên ôn từ đó với những từ có liên quan đến từ
đó. Ví dụ bạn học từ “ family” bạn sẽ có những từ liên quan như : father,
mother, sister, brother v.v
- Học thêm từ đồng nghĩa, phản nghĩa (synonym-antonym). Ví dụ: happy,
glad, pleased, delighted (từ đồng nghĩa - synonym); unhappy, sad, sorry,
depressed (từ phản nghĩa - antonym). Dĩ nhiên người họccần hiểu rõ rằng
giống nghĩa chỉ là tương đối mà thôi, chứ không hoàn toàn vì còn có những