Chủ đề 1
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUAN HỆ VẬT CHẤT
VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM.
♥
I. VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT
1. Định nghĩa vật chất
Theo Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Đây là định nghĩa khoa học nhất , hoàn chỉnh nhất về vật chất của V.I.Lênin. Định
nghĩa bao gồm các nội dung sau:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý
thức bất kể sự tôn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
-Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác
động lên giác quan của con người.
- Cảm giác, ý thức, tư duy chỉ là sự phản ánh của vật chất lên con người, tức con
người có khả năng nhận thức được vật chất, thực tại khách quan
2. Các hình thức tồn tại của vật chất:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vật chất tồn tại bằng vận động, và vận
động của vật chất diễn ra trong không gian và thời gian. Vì vậy, vận động, không gian
và thời gian là các hình thức tồn tại của vật chất.
2.1. Vận động:
- Quan điểm siêu hình: vận động là sự di chuyển vị trí cả vật thể trong không gian, thời
gian, nguồn gốc của sự vận động là ở bên ngoài sự vật hiện tượng.
- Quan điểm duy vật biện chứng: vận động là mọi sự biến đổi nói chung. Xét về bản
chất, vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuốc tính cố hữu của vật chất,
vận động không do ai sáng tạo ra và cũng không mất đi mà nó tồn tại vĩnh viễn.
Nguồn gốc vận động là do bản thân sự vật hiện tượng quy định.
- Các hình thức cơ bản của vận động bao gồm: vận động cơ học, vật lý, hóa học, sinh
học và xã hội.
2.2 Không gian và thời gian
làm phong phú và sâu sắc ý thức của mình về thế giới.
Ngôn ngữ, theo C. Mác là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư
tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức là lao động , là thực tiển xã hội.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao
động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng
xã hội.
2. Bản chất của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, song đây là sự
phản ảnh đặc biệt – phản ảnh trong quá trình con người, cải tạo thế giới. Quá trình ý
thức là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây :
- Một là trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi này
mang tính chất hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết.
- Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực
chất đây là quá trình “Sáng tạo lại” hiện tượng của ý thức, theo nghĩa mã hóa các đối
tượng vật chất thành các ý thức tinh thần phi vật chất.
- Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình hiện
thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiển biến cái quan niệm thành cái thực
tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực.
Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để
tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình. Điều đó càng
nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức.
III. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT (VC) VÀ Ý THỨC (YT)
• Theo duy tâm thì ý thức quyết định vật chất
• Theo duy vật thì vật chất quyết định ý thức
• Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa xã hội khoa học nên trong
nhận thức của chúng ta phải là vật chất quyết định ý thức.
1. Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ với YT, VC là cái có trước, YT là cái có sau; VC là nguồn gốc
- Sự tác động trở lại của YT đối với VC diễn ra theo 2 hướng: tích cực hoặc tiêu
cực. Nếu con người nhận thức đúng, có ý chí hành động, có tri thức khoa học, có tình
cảm cách mạng, có nghị lực của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con
người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của
mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của YT; còn nếu YT của con
người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì
ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan,
hành động ấy có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách
quan.
IV. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM
1. Nguyên tắc khách quan:
Mục tiêu, phương thức hoạt động của con người đều phải xuất phát từ những điều
kiện, hoàn cảnh thực tế, đặc biệt là của điều kiện vật chất, kinh tế. Vì vậy, nguyên tắc
khách quan đòi hỏi con người, trong suy nghĩ và hành động cần xuất phát từ thực tế
khách quan, tôn trọng và tuần theo các quy luật khách quan vốn có của sự vật, hiện
tượng; cần tìm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng ở trong điều kiện vật chất
khách quan của chúng; muốn cải tạo sự vật, hiện tượng phải xuất phát từ bản thân sự
vật, hiện tượng được cải tạo. Chống tư tưởng chủ quan duy ý chí, nôn nóng, thiếu kiên
nhẫn mà biểu hiện của nó là tuyệt đối hóa vai trò, tác dụng của nhân tố con người; cho
rằng con người có thể làm được tất cả những gì mình muốn mà không chú ý đến sự
tác động của quy luật khách quan, của các điều kiện vật chất cần thiết.
2. Nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan:
Phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò của
nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo. Nguyên
tắc này đòi hỏi con người tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và
truyền bá vào quần chúng. Ngoài ra, phải tự giác tu dưỡng để hình thành, củng cố tình
cảm, nhân sinh quan cách mạng và nghị lực cách mạng để thông nhất tính hữu cơ giữa
tính khoa học và tính nhân văn trong đinh hướng hành động.
Chống quan điểm duy ý chí: V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý
muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất
điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị”. Đại hội đã rút ra
bài học quan trọng là: ”Mọi đường lối,chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế,
tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan”.
Đất nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa,
Đảng ta chủ trương “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững”, nâng cao trình độ dân trí, trình độ tri thức và tay nghề
cho người lao động. Muốn vậy “phải khơi dậy trong dân lòng yêu nước, ý chí quật
cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà khỏi nghèo nàn,
lạc hậu” - tức phát huy tính năng động của ý thức. Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực
tư tưởng, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tiếp tục làm sang tỏ con đường đi
lên CNXH ở nước ta. Nâng cao công tác tuyên truyền giáo dục lí luận chính trị để tạo
nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân.
Để tiến hành triệt để công cuộc đổi mới đất nước và để đổi mới thành công chúng
ta cần phải khắc phục hoàn toàn chủ nghĩa chủ quan bị mắc phải trước Đổi mới, đồng
thời ngăn ngừa không cho nó hồi sinh trở lại bằng cách thật hiện triệt để nguyên tắc
khách quan và nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan. Cụ thể như sau:
Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất.
Cụ thể là:
- Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để hoạch định các đường
lối, chiến lược, sách lược xây dựng và phát triển đất nước.
- Biết tìm kiếm, khai thác, sử dụng hiệu quả những lực lượng vật chất (từ sức mạnh cá
nhân đến sức mạnh cộng đồng, từ sức mạnh kinh tế đến sức mạnh quân sự, kết hợp
sức mạnh trong nước và ngoài nước,…) để thực hiện hóa cá đường lối, chiến lược,
sách lược xây dựng và phát triển đất nước.
- Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực
chủ yếu phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (lợi ích
kinh tế, lợi ích chính trị; lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần; lợi ích tập thể, lợi ích xã
hội…) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc Đổi mới.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước Đổi mới, Đảng ta
kết luận: “ Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng
1. Định nghĩa về phương pháp:
Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về
các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.
2. Định nghĩa về phương pháp luận
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm, các
nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương
pháp trong nhận thức và thực tiễn.
3. Phân biệt phương pháp và Phương Pháp luận
− Phương pháp là cách thức, biện pháp, là con đường được con người vận dụng một
cách có ý thức nhằm đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn
Ví dụ: Khi giáo viên soạn giảng một tiết dạy trên lớp cùng một chủ đề nhưng đối
tượng học sinh ở 2 lớp có trình độ khác nhau (một lớp là lớp chuyên, một lớp là lớp
chuẩn). Nếu giáo viên đưa ra cùng một phương pháp để giảng dạy thì hiệu quả sẽ
không cao. Do vậy khi giảng dạy ở 2 lớp có trình độ tiếp thu khác nhau, giáo viên phải
thay đổi phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
− Phương pháp luận là sự vận dụng những nguyên tắc của thế giới quan vào quá trình
nhận thức và quá trình hoạt động thực tiễn nói chung. Khi được vận dụng như một
định hướng, một nguyên tắc chỉ đạo nhằm đạt được một hiệu quả cao nhất trong hoạt
động nhận thức thì nó trở thành phương pháp luận
− Phương pháp luận đúng sẽ đảm bảo tìm ra các phương pháp nghiên cứu đúng. Ngược
lại, nếu Phương pháp luận sai lầm thì các phương pháp nghiên cứu tìm được để
nghiên cứu đối tượng đó cũng sẽ sai lầm
Ví dụ: Xuất phát từ luận điểm cho rằng, lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử đấu
tranh giai cấp, những người mác xít khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội cần áp dụng
phương pháp phân tích giai cấp, cần đứng vững trên quan điểm giai cấp. Ngược lại
những người theo trường phái tâm lý trong xã hội học lại xuất phát từ chỗ cho rằng,
kinh nghiệm tâm lý và những xúc cảm của con người tạo nên bản chất của các hiện
tượng và các quá trình xã hội. Vì vậy, họ đòi hỏi phải nghiên cứu các hiện tượng xã
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn cũng đòi hỏi chúng ta
phải kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm”
(V.I.Lênin). Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các
lĩnh vực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc là thứ VI của Đảng cũng
đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột
phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực
chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm. Thực tiễn 18 năm đổi mới ở
nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu
trên. Khi đề cập tới những vấn đề này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng đã khẳng định: “Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi
mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối
ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã
đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế,
khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tình thần
để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niệm tin của nhân dân, tạo thuận
lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.
Mọi sự vật đều tồn tại trong không- thời gian nhất định và mang dấu ấn của không
- thời gian đó. Do vậy, chúng ta cần có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét và giải
quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra.
2. Quan điểm lịch sử - cụ thể
Khi xem xét và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra đòi hỏi chúng ta phải chú
ý đúng mức tới hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời và
phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực - cả khách quan lẫn chủ quan. Khi quan sát
một quan điểm, một luận thuyết cũng phải đặt nó trong những mối quan hệ như vậy.
Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó.
Chẳng hạn, khi đánh giá vị trí lịch sử của mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền
Bắc vào những năm 1960 - 1970, nếu chúng ta không đặt nó vào trong hoàn cảnh
miền Bắc, đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, đặc biệt từ giữa những năm
1965 - khi đế quốc Mỹ đã đưa cuộc chiến tranh xâm lược bằng không quân ra miền
Bắc, không đặt nó trong điều kiện chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong xây dựng chủ
Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng trong thực tế là quá trình biện chứng
đầy mâu thuẫn. Do vậy, quan điểm phát triển được vận dụng vào quá trình nhận thức
cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển như
là một hiện tượng phổ biến. Thiếu quan điểm khoa học như vậy, người ta rất dễ bi
quan, dao động khi mà tiến trình cách mạng nói chung và sự tiến triển của từng lĩnh
vực xã hội cũng như cá nhân nói riêng tạm thời gặp khó khăn, trắc trở. Vận dụng quan
điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận của hoạt động thực tiễn
nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta phải tìm
ra mâu thuẫn của chính sự vật, và bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn.
Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển.
Sự phát triển biện chứng của các quá trình hiện thực và của tư duy được thực hiện
bằng con đường thông qua những sự tích luỹ về lượng mà tạo ra sự thay đổi về chất,
thông qua phủ định của phủ định. Do vậy, việc vận dụng quan điểm phát triển vào
hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo sự vật đòi hỏi chúng ta phải phát huy nỗ lực của
mình trong việc hiện thực hoá hai quá trình nêu trên.
4. Phương pháp đi tử trừu tượng đến cụ thể:
Các sự vật, hiện tượng của thế giới bao giờ cũng tồn tại dưới dạng cái cụ
thể. Cái cụ thể này được phản ánh vào nhận thức dưới hai hình thức: cái cụ thể
cảm tính và cái cụ thể trong tư duy. Cái cụ thể cảm tính là điều bắt đầu của
nhận thức; cái cụ thể trong tư duy là kết quả của tư duy lý luận, nó phản ánh
cái cụ thể khách quan bằng hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật.
Cái trừu tượng là kết quả sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào
đó trong tổng thể phong phú của sự vật. Vì vậy, cái trừu tượng là một bộ phận
nào đó của cái cụ thể, biểu hiện một mặt nào đó của cái cụ thể, là bậc thang
của sự xem xét cái cụ thể. Từ nhiều cái trừu tượng tư duy tổng hợp lại thành
cái cụ thể trong tư duy.
Phương pháp khoa học tổng hợp cái trừu tượng về từng mặt, từng thuộc tính, từng
mối quan hệ của sự vật, hiện tượng để tái tạo lại cái cụ thể trong tư duy. Cái cụ thể trong
tư duy là sự tái hiện đầy đủ nhất về bản chất cái cụ thể trong thực tế. Đi TTTĐCT là
"phương pháp nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể và tái tạo nó với tư cách là
những phản ánh được bản chất, tất yếu, quy luật phát triển của sự vật mà nó
còn phản ánh được lịch sử phát triển của sự vật ấy (một cách tóm tắt, khái
quát, trên những giai đoạn chủ yếu). Phương pháp lôgíc có khả năng kết hợp
trong bản thân mình hai yếu tố của sự nghiên cứu: Nghiên cứu kết cấu của sự
vật cùng với hiểu biết lịch sử của sự vật trong sự thống nhất chặt chẽ của
chúng.
Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai phương pháp nghiên cứu
khác nhau, nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì muốn hiểu biết bản chất
và quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó. Mặt
khác có nắm được bản chất và quy luật của sự vật mới nhận thức thức được
lịch sử của nó một cách đúng đắn và sâu sắc. Phương pháp lịch sử cũng phải
nắm lấy cái lôgíc, phải rút ra sợi dây lôgíc chủ yếu của lịch sử thông qua việc
phân tích các sự kiện và hiện tượng cụ thể. Còn phương pháp lôgíc phải dựa
trên các tài liệu lịch sử để khái quát và chứng minh và rốt cuộc phải đem lại
lịch sử trong tính bản chất của nó. Lịch sử mà thiếu lôgíc sẽ mù quáng, còn
lôgíc mà thiếu lịch sử thì không có đối tượng, dễ rơi vào chủ quan, tư biện.
CHỦ ĐỀ 3
I. NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN
1. Phạm trù thực tiễn là gì?
a. Định nghĩa
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội - lịch sử của con
người nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân con người .
b. Các hình thức cơ bản của thực tiễn :
Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
− Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động trực tiếp
tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã
hội.
− Hoạt động biến đổi xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, Là hoạt dộng của con người
trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội,
quá trình hoạt động thực tiễn cuả con người. Thông qua kết quả của hoạt động thực
tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tích chất và
các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình
thành lý luận. Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh các lý
luận đã được khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh
những vấn đề mơi đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông qua đó,
lý luận được bổ sung mở rộng. Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải
trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện cuả nó,
trong sự vận động mâu thuẫn cuả nó tự nó và vì nó”
3.1.2 Thực tiễn là động lực của lý luận:
Hoạt động của con người không chỉ là nguông gốc để hoàn thiện các cá nhân mà
còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội. Lý
luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn,mang lại lợi ích cho
con người càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn khái quát lý luận. Quá
trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày
càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động của con người không bị
hạn chế trong không gian và thời gian. Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành
khoa học mới ra đời – khoa học lý luận
3.1.2 Thực tiễn là mục đích của lý luận
Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn
những nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng
cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao
hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không
thể tạo lên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực
hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo
mục đích của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận. Tức lý luận phải đáp
ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
3.1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan
và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thực
lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn mang tính lịch sử, cụ thể.
Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta còn phân tích cụ thể mỗi tính hình cụ thể. Nếu
vân dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiều sai giá trị của lý
luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thồng nhất tất yếu giữa lý
luận và thực tiễn
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của
con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạng
nhưng không phải khôn g có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn được khái quát
dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn định
hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực
lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn. Không
những thế lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn. Vận dụng lý luận
vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo
những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến các mối
quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển đẻ
phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao.
Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn. Vận
dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp
thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận
cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại
hiệu quả có thể không, hoặc kết quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý
luân phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho
phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu
điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”
II. VẬN DỤNG NÓ VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức. Đó là
bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít. Sự nghiệp đổi mới với
học, những điều kiện cụ thể của địa điểm và thời gian, tức là coi thường nguyên lý
về tính cụ thể của chân lý. Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa
lý luận, coi thường kinh nghiệm, khuyết đại vai trò của lý luận để hạ thấp vai trò
của thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể, áp
dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn, máy móc.
Biểu hiện của bệnh giáo điều:
Học, nghiên cứu lý luận dừng lại ở câu chữ (tầm thường, trích cú) không tiêu
hóa được kiến thức sách vở, không nắm được thực chất khoa học của lý luận.
Coi lý luận như là một cái gì đã xong xuôi không cần phải bổ sung thêm phát triển
(tôn giáo hóa khoa học).
Vận dụng lý luận và kinh nghiệm đã có rập khuôn máy móc không tính đến
điều kiện lịch sử-cụ thể, không tính đến trình độ của thực tiễn.
2. Bệnh kinh nghiệm :
Bệnh kinh nghiệm là tư tưởng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận
khoa học, khuyết đại vai trò thực tiễn để hạ thấp vai trò lý luận. Người mắc bệnh
kinh nghiệm thường thỏa mãn với vốn kinh nghiệm bản thân, ngại học lý luận,
không chịu nâng cao trình độ lý luận, coi thường khoa học kĩ thuật, coi thường giới
trí thức, thiếu nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ trì trệ. Nước ta vì tình trạng sản xuất
nhỏ là phổ biến, trình độ dân trí thấp, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, tư tưởng
phong kiến còn ảnh hường nhiều trong nhân dân nên đó là những mảnh đất thuận
lợi cho bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa nảy sinh
Biểu hiện của bệnh kinh nghiệm:
Thỏa mãn với vốn liếng kinh nghiệm, chỉ đạo thực tiễn bằng kinh nghiệm, ngộ
nhận kinh nghiệm là lý luận, là quy luật,
Tiếp xúc với lý luận ở trình độ tư duy kinh nghiệm từ đó tầm thường hóa, thô
tục hóa, biến lý luận thành công thức, đơn thuốc cứng nhắc dẫn đến xuyên tạc lý
luận.
Coi thường lý luận, không chịu khó vận dụng lý luận vào thực tiễn, cuộc sống.
Không tin vào lý luận.
Tâm lý ngại vận dụng lý luận.
nói về Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà
một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém.
4. Khắc phục bệnh giáo điều và kinh nghiệm :
a. Phải nâng cao trình độ tư duy lý luận khoa học cho đội ngũ cán bộ. Muốn như
vậy cần phải quyết tốt một số vấn đề sau:
Giúp cán bộ Đảng viên thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Leenin, tư tưởng Hồ
Chí Minh vận dụng sáng tạo chù nghĩa Mác-Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như
kinh nghiệm lịch sử đã được tích lũy và từ chính tình hình thực tiễn của đất nước để
đổi mới công tác lý luận, nhằm góp phần điều chỉnh, bổ syng, phát triển những quan
điểm mới về CNXH và con đường đi lên CNXH, phù hợp với những biến đổi to lớn
về thực tiễn, nhằm từng bước xây dựng và hoàn chỉnh đường lối mới toàn diện, làm
cho nước ta có bước phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng duy vật vì mỗi tri thức triết học là
những tri thức mang ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận. Do đó, nằm vững các
tri thức triết học trong tính hệ thống và nâng cao lên trình độ tư duy hệ thống là điều
kiện để khắc phục tình trạng tách rời giữa lý luận và thực tiễn.
Lấy chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam cho hành động. Mỗi Đảng viên phải thấm nhuần lý luận trong công tác để
tránh rơi vào tình trạng mò mẫm, tự phát. Lý luận làm cơ sở cho công tác tư tưởng,
cho việc đấu tranh tư tưởng, lý luận phải góp phần xây dựng niềm tin vào CNXH và
con đường đi lên CNXH nước ta, giúp ta có định hướng tư tưởng đúng đắn.
Chống tư tưởng coi lý luận như hệ thống khép kín, bất di bất dịch, vì sức sống cảu
lý luận chân chính nằm ở sự bổ sung thường xuyên cái mới, rút ra sự kháo quát thực
tiễn đa dạng và phong phú. Thực tiễn cũng chính là nguồn gốc sâu xa tiếp them sinh
lực dồi dào, phong phú cho hoạt động lý luận, điều chỉnh nó theo hướng đúng, đưa nó
lên một tầm cao mới. Do đó, phải thường xuyên đổi mới công tác lý luận, làm cho nó
sự sống đọng và thực sự định hướng cho công cuộc đổi mới ở VN
b. Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
Với VN, để thực hiện thằng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, chúng ta phải quán
triệt một nguyên tắc hết sức quan trọng là nguyên tắc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đổi của phương thức sản xuất mà trong đó cụ thể là sự thay đổi trên 2 phương diện:
Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cần xem xét rằng liệu lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất giai đoạn này đã phát triển đồng đều hay không?
Xét yếu tố lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất Người lao động Công cụ lđ
Tư liệu sản xuất Tư liệu lao động Phương tiện
SX
Đối tượng lao động
• Người lao động:sau một thời gian dài nước ta phải chịu ách thống trị của thực dân
Pháp với những chính sách thống trị “ngu dân” của chúng đã làm cho con người của
đất nước chúng ta kém phát triển và bị tụt hậu. Làm hạn chế khả năng sáng tạo, phát
triển của lực lượng sản xuất
• Tư liệu sản xuất: cụ thể là công cụ sản xuất còn thô sơ, phương tiện sản xuất lạc hậu.
Lực lượng sản xuất chậm phát triển, ở trình độ còn thấp kém, lạc hậu.
Xét quan hệ sản xuất: ở giai đoạn đóĐảng ta chủ trương đưa cả nước theo con đường
quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Cụ thể , Đảng ta đã thiết
lập QHSX như sau:
• Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất:Quốc hữu hoá tư liệu sản xuất. Đồng nhất chế độ
công hữuvới chủ nghĩa xã hội lẫn lộn với đồng nhất giữa hợp tác xã và tập thể hoá.
Nhà nước ta đã ra sức vận động nhân dân đi vào hợp tác xã để mở rộng quy mô nông
trường, nhà máy, xí nghiệp.
• Tổ chức điều hành sản xuất: theo cơ chế tập trung, quan liêu và bao cấp. Nhà nước
quản ly nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu
pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp làm ăn lỗ thì nhà nươc
bù, lãi thì nhà nước thu.Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung
gian hoat động kém hiệu quả sinh ra quan liệu phong cách cửa quyền.
• Quan hệ phân phối sản phẩm lao động:“xin cho, cấp phát”. Tiêu dùng xã hội thực
hiện theo phân phối định lượng bằng tem phiếu,thang bậc.
Nhận xét:
Kinh tế kiệt quệ,nguy cơ nghèo đói tăng cao. Việc tiến hành tập thể nhanh
chóng tư liệu sản xuất dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công
cộng, người lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất, không làm chủ được qúa trình sản
xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo hợp tác xã, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự
dấn đến tư liệu sản xuất trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể, kinh tế quốc doanh
thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý tư liệu sản xuất cũng thuộc sở hữu
toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt tư liệu sản
xuất và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn
lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng và chất lượng lao
động của từng cá nhân đã đóng góp…dẫn tới tình trạng đơn vị kinh tế mất dần tính
chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại
không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế ràng buộc trách nhiệm, nên người lao
động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình, sinh ra tiêu cực trong phân phối, chỉ có
một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.
Giai đoạn sau năm 1986