• Phương pháp dạy học
• Khái niệm về phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con
đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương
pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả
phù hợp với mục đích đã định.
Trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động – người thầy giáo và đối tượng
tác động của họ là học sinh. Còn học sinh lại là chủ thể tác động của mình vào nội
dung dạy học. Vì vậy, người thầy giáo phải nắm vững những quy luật khách quan
chi phối tác động của mình vào học sinh và nội dung dạy học thì mới đề ra những
phương pháp tác động phù hợp.
2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
2.1. Khái niệm tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. Khác với
động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ
động, bằng lao động, sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại của xã hội,
sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại. Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội đã là
củng cố một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người
năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực như là
một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo
dục.
2.2. Phương pháp tích cực
Phương pháp tích cực để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ
động sáng tạo của người học. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích
cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực
của người học chứ không phải là tâp trung vào người dạy.
2.3. Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp tích cực
Có bốn dấu hiệu cơ bản:
- Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm
về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát trong quá trình nhận thức – học tập của học
sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn.
Thông qua sự trình bày thí nghiệm của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội
dễ tri thức còn giúp họ học tập được những động tác mẫu mực của giáo viên, nhờ vậy dễ
dàng hình thành kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn thí nghiệm. Ở trường phổ thông, thí nghiệm
có thể do giáo viên hướng dẫn và do học sinh tiến hành trong khi học bài mới hoặc luyện
tập trong phòng thí nghiệm.
• Phương pháp quan sát
Quan sát là sự tri giác có chủ định, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến hành và
sự biến đổi diễn ra trong đối tượng quan sát. Quan sát là hình thức cảm tính tích cực
nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế
giới xung quanh. Quan sát gắn liền với tư duy
Quan Sát được học sinh sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện trực quan,
phương tiện dạy học hoặc khi học sinh tiến hành làm việc trong phòng thí nghiệm.
Phân loại: căn cứ vào cách thức quan sát có thể chia thành quan sát trực tiếp và
quan sát gián tiếp.
Căn cứ và thời gian quan sát có thể phân chia thành quan sát ngắn hạn, quan sát
dài hạn.
Căn cứ vào phạm vi quan sát có thể phân ra quan sát toàn diện và quan sát khía
cạnh.
Căn cứ vào mức độ tổ chức quan sát có thể phân chia thành quan sát tự nhiên và
quan sát có bố trí, sắp xếp.
3. Ưu điểm và hạn chế của nhóm phương pháp dạy học trực quan
• Ưu điểm
- Các phương pháp dạy học trực quan nếu được sử dụng khéo léo sẽ làm cho các
phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học tạo nên nguồn tri thức. Chức năng
đó của chúng chủ yếu gắn liền với sự khái quát những hiện tượng, sự kiện với phương
pháp nhận thức quy nạp.
- Chúng cũng là phương tiện minh hoạ để khẳng định những kết luận có tính suy diễn và
còn là phương tiện tạo nên những tình huống vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Đảm bảo phát triển năng lực quan sát chính xác của học sinh.
- Đảm bảo phối hợp lời nói với việc trình bày các phương tiện trực quan và phương tiện
kỹ thuật dạy học. Có bốn hình thức phối hợp như sau:
+ Hình thức thứ nhất: Dưới sự chỉ đạo bằng lời của giáo viên, học sinh quan sát trực tiếp
các sự kiện, hiện tượng. Từ đó, chính họ rút ra những thuộc tính, những mối quan hệ của
chúng, những kết luận không cần suy luận.
+ Hình thức thứ hai: Trên cơ sở quan sát các đối tượng và dựa vào tri thức đã học của học
sinh, giáo viên dẫn dắt họ biện luận, nêu ra các mối liên hệ giữa những hiện tượng bằng
các biện pháp quy nạp, từ đó rút ra kết luận.
+ Hình thức phối hợp thứ ba là biện pháp minh hoạ đối với những hiện tượng đơn giản.
Bằng lời nói giáo viên thông báo trước những hiện tượng, sự kiện, kết luận rồi sau đó
trình bày phương tiện trực quan nhằm minh hoạ điều đã trình bày. Hình thức này ngược
với trường hợp thứ nhất.
+ Hình thức thứ tư là hình thức có tính chất suy diễn. Với nội dung phải nghiên cứu phức
tạp thì giáo viên bằng lời nói mô tả diễn biến của hiện tượng, kích thích học sinh tái hiện
những tri thức đã học có liên quan đến hiện tượng để giải thích hiện tượng đó. Tiếp đó,
giáo viên trình bày phương tiện trực quan để minh hoạ nhằm khẳng định những điều đã
trình bày của mình. Hình thức phối hợp này ngược với hình thức thứ hai.
Hai hình thức phối hợp đầu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động nhận thức tích cực
hơn hai hình thức phối hợp sau. Song phải căn cứ vào tính chất nội dung, trình độ tri thức
và trình độ phát triển của học sinh mà lựa chọn hình thức nào cho thích hợp.
• Phương pháp dạy học Algorit hóa
1. Khái niệm algorit hóa
Algorit thường được hiểu là bản ghi chính xác, tường minh tập hợp những thao
tác sơ đẳng, đơn vị theo một trình tự nhất định (tùy mỗi trường hợp cụ thể) để giải quyết
bất kì vấn đề nào thuộc cùng một loại hay kiểu.
Định nghĩa này không mang tính chính xác toán học, nhưng nêu lên khá rõ bản
chất của khái niệm.
2. Các kiểu algorit dạy học
Có hai kiểu: Algorit nhận biết và Algorit biến đổi
Bản ghi algorit cho ta biết phải hành động như thế nào, theo logic nào, bắt đầu từ
đâu, qua những bước gì và đi đến đâu.
Bản ghi algorit còn là công cụ tự điều khiển cho chủ thể khi chấp hành những
mệnh lệnh được chốt lại trong đó tức là tự điều khiển tư duy, thao tác…
3.3. Quá trình algorit của hoạt động
Dựa trên sự hướng dẫn khách quan của bản ghi algorit, người giải bài toán chỉ
việc chấp hành chính xác những mệnh lệnh trong bản ghi đó và đi tới đáp số một cách
chắc chắn. Đó chính là quá trình algorit của hoạt động, hay quá trình hoạt động theo
algorit.
4. Những nét đặc trưng cơ bản của algorit dạy học
Dạy học algorit là phương pháp dạy học tích cực. Với tinh thần “lấy học sinh là
trung tâm của quá trình dạy học. Phương pháp algorit có 3 đặc trưng cơ bản:
4.1. Tính xác định
Những mệnh lệnh thực hiện, những thao tác ghi trong algorit phải đơn trị, nghĩa là
hoàn toàn xác định (có hay không, đúng hay sai,…) phải loại trừ mọi ngẫu nhiên, tùy tiện
mơ hồ. Nội dung càng ngắn gọn càng tốt, nhưng nhất thiết phải dễ hiểu, ai cũng rõ nghĩa
của mệnh lệnh.
Ngoài ra mệnh lệnh phải tương ứng với thao tác dạy học sơ đẳng, ai cũng thực
hiện đúng, dễ dàng và như nhau.
4.2. Tính đại trà
Người ta chỉ algorit hóa những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tính đại
trà, phổ biến, thuộc cùng một thể loại nào đó như giải bài toán, thí nghiệm, lắp ráp dụng
cụ hóa học…Không ai hoài công lập algorit cho một hoạt động riêng biệt, chỉ diễn ra một
vài lần.
4.3. Tính hiệu quả
Tính chất algorit là đối cực với tính chất ơrixtic. Nếu sử dụng phương pháp algorit
chắc chắn sẽ chỉ dẫn tới thành công, nghĩa là xác suất đạt kết quả của nó về lý thuyết,
p=1
2
. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, đó là vì algorit là mô hình cấu trúc đã biết của hoạt
rõ các việc cần tiến hành theo trình tự chặt chẽ.
Bởi vì, bản ghi algorit và là công cụ điều khiển hoạt động vừa là công cụ tự điều
khiển cho người dùng algorit triển khai hoạt động.
Nói một cách khác, ban đầu algorit được lập ra là để điều khiển hoạt động của
người giải theo bản ghi các thao tác có sẵn có tính chất rập khuôn máy móc. Nếu chỉ hiểu
đến khía cạnh này thì phương pháp algorit dạy học không thể nào phát huy được tính tích
cực của học sinh mà còn làm cho học sinh thụ động hơn.
Tuy nhiên, đó chỉ là tác dụng ban đầu của algorit, thực tế chính từ những thói
quen làm việc luôn có mục đích, có kế hoạch đặc biệt là tư duy logic khoa học được phát
triển. Từ đó sẽ giúp cho học sinh phát triển năng lực tự học. Trong quá trình tự học, các
em sẽ hình thành nên những algorit ơrixtic kiến thức khác (algorit của quá trình tìm
kiếm) sáng tạo hơn, hiệu quả hơn để giải quyết vấn đề trong các tình huống có vấn đề do
giáo viên hoặc do cuộc sống, sản xuất đặt ra mà không hề rập khuôn máy móc.
Mặt khác, các thói quen làm việc theo các quy tắc chặc chẽ sẽ giúp hình thành
nhân cách toàn diện cho học sinh, hình thành nên thế giới quan duy vật biện chứng cho
các em: khi làm việc luôn biết tôn trọng các quy định có sẵn (các quy luật khách quan của
tự nhiên và xã hội) thì các công việc sẽ có kết quả như mong muốn.
Đối với giáo viên:
1- Việc dạy học bằng phương pháp algorit sẽ giúp người giáo viên hình thành
được các phương pháp giải bài toán hóa cho học sinh một cách tập trung vào trọng tâm,
nhanh chóng và có hiệu quả. Từ kết quả đạt được khi giải toán, học sinh sẽ được khích lệ
động viên, do đó hứng thú hoạt động, tích cực tham gia vào hoạt động chung của cả lớp
cũng như hoạt động tự học. Đặc biệt là học sinh yếu kém.
2- Giúp giáo viên thiết kế algorit các giờ thực hành thí nghiệm có hệ thống, hiệu
quả. Nhờ các algorit, học sinh sẽ thu được các kết quả thí nghiệm thật tốt. Các giờ thực
hành thí nghiệm sẽ không thể tiến hành thành công được nếu không tuân theo các algorit
hoạt động cụ thể.
3- Giúp người giáo viên thiết kế tốt nội dung “dạy học chương trình hoá” nhằm
làm cho học sinh tiếp thu tốt nhất, hệ thống các kiến thức mà giáo viên truyền thụ.
Như vậy, có thể tóm tắt lợi ích của phương pháp algorit như sau:
giáo viên truyền thụ.
Hiện nay, dạy học chương trình hóa còn ở giai đoạn thí điểm. Nhưng hiệu quả sư
phạm của nó đã có sức thuyết phục lớn.
Có thể nêu ra định nghĩa như sau: dạy học chương trình hóa là một kiểu dạy học
mà nội dung dạy học được sắp xếp theo một chương trình trên cơ sở của nguyên tắc điều
khiển hoạt động nhận thức (Algorit), có tính toán đầy đủ khả năng tiếp thu tốt nhất của
học sinh.
Dạy học chương trình hóa là sự dạy học được thực hiện dưới sự chỉ đạo sư phạm
của một chương trình dạy; trong sự dạy học này, những chức năng của hệ dạy được khách
quan hóa và sự hoạt động của hệ học (học sinh) được chương trình hóa. Ở đây chương
trình dạy được soạn thành một algorit dạy nhằm xác định chặt chẽ sự hoạt động của từng
học sinh riêng lẻ.
Đối với phương pháp algorit hóa có thể sử dụng rất hiệu quả đối với các bài toán,
toán hóa, toán lí… trong đó cũng có thể sử dụng đối với một vài bài trong môn công nghệ
10, chăn nuôi lợn…
Trong đó, môn hóa có thể sử dụng phương pháp này để giải quyết bài toán dung
dịch bằng sơ đồ đường chéo, các bài tập xác định công thức phân tử, công thức cấu tạo,
… đối với môn công nghệ 10 và chăn nuôi lợn ở trường trung cấp … có thể áp dụng
phương pháp này trong bài phối hợp khẩu phần ăn cho gia súc, lợn…
6. KẾT LUẬN
- Algorit dạy học có tác dụng rất lớn đối với việc giảng dạy các môn học ở trường
Phổ thông. Đặc biệt, với học sinh có học lực trung bình và yếu thì dạy theo algorit rất
hiệu quả:
* Cung cấp hướng giải đúng, tránh tình trạng mò mẫm, không có định hướng
trước.
* Từ 1 bài tập hay 1 ví dụ của giáo viên, học sinh có thể vận dụng cho nhiều dạng
bài tương tự nhau.
* Giúp học sinh làm việc có hệ thống, biết cách sử dụng hình ảnh trực quan để
làm cho bài toán trở nên trong sáng, dễ hiểu, tránh nhầm lẫn khi giải
* Giúp học sinh biết khai thác, sử dụng dữ kiện đề bài một cách hợp lý.
đổi file chứa bài học.
-Dễ biên soạn và sử dụng. Có thể dễ
dàng chuyển thành bài học trên giấy
bằng cách in ra văn bản.
-Tương tự đối với dạng biểu diễn
trên giấy.
-Cần có phần mềm và máy tính
thích hợp để sử dụng (nếu bài học
chưa được in ra).
-Không thể phản hồi nhanh chóng
và tự động kết quả kiểm tra của
người học.
Sử dụng dạng chương
trình
Bài học được soạn
thành dạng chương trình,
học viên chạy chương trình
để học.
-Dễ dàng thực hiện việc phản hồi
thông tin bằng cách viết các đoạn mã
thích hợp.
-Việc học bài ở dạng chương trình
đòi hỏi phải có máy tính thích hợp
(ngoại trừ chương trình Java, các
dạng chương trình khác không
chạy được trên mọi dạng máy
tính, mà việc viết trình Java khó
và mất thời gian)
-Không in được bài giảng ra giấy.
Dạng trình diễn đơn giản
Dạng trang web
Bài giảng được biên soạn ở
dạng các trang
web(HTML,DHTML,
JSP,ASP,Servlet…)
người học dùng máy tính
với trình duyệt web bất kỳ
để xem.
- Rất dễ tạo bài giảng bằng các phần
mềm soạn thảo văn bản mạnh (như
MS Word) hoặc bằng các phần mềm
soạn thảo web chuyên nghiệp như
FrontPage…
- Khả năng thể hiện các dạng dữ liệu
khác nhau rất mạnh: chữ, ảnh tĩnh,
ảnh động, âm thanh, phim…
- Khả năng lập trình là khá mạnh
- Việc phân phối bài giảng được tiến
hành rất thuận lợi.
- Giải quyết được nhược điểm phụ
thuộc vào máy tính (hệ điều hành) và
phần mềm cụ thể để xem các định
dạng tài liệu khác nhau.
-Trường hợp đặt bài giảng lên
Internet thì cần phải có web server
riêng hoặc là thuê chỗ trên các
web server của các nhà cung cấp
dịch vụ Internet. Điều này đòi hỏi
phải trả một khoản chi phí đầu tư
ban đầu và chi phí duy trì hàng